HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TUẤN ANH

HỘI ĐỒNG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ <NGÀNH>


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TUẤN ANH

HỘI ĐỒNG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04


MINH.......................................................................................................... 28
2.1. Khái quát các quy định pháp luật về Hội đồng xét xử từ năm 1945 đến
trước khi ban hành Bộ luật TTHS năm 2015 .............................................. 28
2.2. Các quy định về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Bộ luật
TTHS năm 2015 .......................................................................................... 33
2.3. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hội đồng xét xử vụ án hình
sự tại Thành phố Hồ Chí Minh ................................................................... 41
Tiểu luận Chương 2 ..................................................................................... 56
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN ĐÚNG
CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN HÌNH SỰ ............................................................................................. 57
3.1. Yêu cầu thực hiện các quy định pháp luật về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự .................................................................................................... 57
3.2. Một số giải pháp bảo đảm thực hiện đúng các quy định pháp luật về Hội
đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ............................................................. 64
KẾT LUẬN ................................................................................................ 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 76


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự

TTHS

Tố tụng hình sự

HĐXX


45

Bảng 2.2

Bảng thống kê kết quả thụ lý và giải quyết các vụ án
hình sự sơ thẩm tại TAND cấp huyện từ năm 2015 đến
2019.

47

Bảng 2.3

Số lượng biên chế Thẩm phán ngành Tòa án nhân dân 48, 49
hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh tính đến tháng 6/2019

Bảng 2.4 Chất lượng Thẩm phán ngành Tòa án nhân dân hai cấp 50, 51
Thành phố Hồ Chí Minh tính đến tháng 6/2019


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục, trải qua nhiều
giai đoạn tố tụng khác nhau như: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Mỗi giai đoạn tố tụng đều có những đặc điểm và nhiệm vụ riêng do một cơ quan
nhất định thực hiện, các cơ quan này được gọi là cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án). Suy cho cùng, hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hướng tới chất
lượng xét xử thông qua phiên tòa, thể hiện bằng bản án nghiêm minh, đúng pháp
luật và được xã hội đồng tình. Để đạt được điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố,

quyền và tổ chức cán bộ làm cho Tòa án thực sự đóng vai trò là trung tâm và
hoạt động xét xử thực sự là hoạt động trọng tâm.
Hiến pháp năm 2013 đã chính thức quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan
xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Cùng với đó, Luật Tổ chức Tòa án
nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 được ban hành để
bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật.
Ngày 27/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Đây là
một trong những đạo luật quan trọng về tố tụng tư pháp liên quan trực tiếp đến
quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
Trong những năm qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhận thức của
cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về quyền tư pháp đã có những chuyển biến tích
cực. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, ngành Tòa án đã không ngừng nâng
cao chất lượng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, đặc biệt
trong công tác xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm mà trọng tâm là nâng cao chất
lượng tranh tụng tại phiên tòa. Kết quả cho thấy, ngành Tòa án đã thực hiện tốt
Trang 9/80


chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh
phòng chống tội phạm trong thời kỳ mới.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh do đặc thù là đô thị đặc biệt, một trung tâm
lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội
nhập quốc tế; có vị trí chính trị quan trọng của cả nước là đầu tàu, động lực, có
sức hút lan tỏa lớn của vùng kinh tế trong điểm phía Nam. Bên cạnh đó, cũng là
địa phương có số lượng các vụ án hình sự lớn hơn rất nhiều so với các tỉnh thành
còn lại và chiếm tỷ lệ cao trên cả nước. Do đó, vị trí và vai trò của ngành Tòa án

- Sách “Cẩm nang pháp luật và nghiệp vụ dành cho Hội thẩm trong xét xử
các vụ án hình sự”, Vũ Hoài Nam (2014), Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Luận văn Thạc sĩ luật học“Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án
nhân dân (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”, của Tạ Thị Ngọc
Điệp (2015), Khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội;
- Luận văn Thạc sĩ luật học “Áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án nhân
dân (qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa)”, của Đàm Cảnh Long (2012), Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Luận án tiến sỹ luật học “Xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn thành phố
Hồ Chí Minh”, của Lê Thanh Phong (2018), Học viện Khoa học xã hội;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của
Tòa án theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Sơn Trà,
thành phố Đà Nẵng”, của Nguyễn Thị Thùy Trang (2018), Học viện Khoa học
xã hội;
- “Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam”, của Hà Duy
Hiển (2016), luận văn thạc sĩ luật học - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Vị trí, vai trò của Thẩm phán Tòa án nhân dân
cấp tỉnh trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự”, Hà Anh Tuấn (2014), Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu nêu trên đã góp phần
tạo ra những cơ sở lý luận và chỉ ra những vấn đề thực tiễn cho việc hoàn thiện
pháp luật về một số nội dung có liên quan đến HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự tại
Trang 11/80


Tòa án. Tuy nhiên, các công trình này trong phạm vi giới hạn nghiên cứu của
mình chưa tập trung vào nghiên cứu về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần làm rõ những vấn đề lý luận
về HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự và đánh giá thực trạng áp dụng các quy định

tham khảo trong công tác giảng dạy và hướng dẫn nghiệp vụ xét xử trong thực
tiễn.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
*Chương 1: Những vấn đề lý luận về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự.
*Chương 2: Pháp luật về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực
tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh
*Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định
pháp luật về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Hội đồng xét xử (HĐXX) là thuật ngữ pháp lý thường gặp trong hoạt
động tư pháp. Một trong những chức năng quan trọng của HĐXX là nhân danh
Nhà nước xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại,
hôn nhân và gia đình…; qua đó, thiết lập lại các quan hệ xã hội bị xâm hại, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên,
cho đến nay khái niệm về HĐXX vẫn chưa được làm rõ trong các văn bản quy
Trang 13/80


phạm pháp luật hiện hành, đây là vấn đề cần đặt ra trong quá trình cải cách tư
pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền mà Đảng ta đang chỉ đạo thực hiện.
Về thuật ngữ pháp lý “Hội đồng xét xử”, theo các tài liệu khoa học, hiện
nay có các giải thích sau:
“HĐXX gồm các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử một

chỉ trong trường hợp cần thiết. Xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu một vụ án theo
thẩm quyền của từng cấp Tòa án. Sau khi có bản án sơ thẩm, bị cáo, bị hại,
người đại diện hợp pháp của bị hại và đương sự, có thể kháng cáo hoặc Viện
kiểm sát có thể kháng nghị bản án của Tòa án, khi đó vụ án sẽ được xét xử phúc
thẩm.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, xét xử sơ thẩm
được xác định là một giai đoạn kết thúc một vụ án hình sự, mọi chứng cứ của vụ
án do cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra đều được xem xét
công khai tại phiên tòa, người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của
nhau, được tranh luận những điều mà tại cơ quan điều tra không có điều kiện
thực hiện. Do đó, có thể nói xét xử sơ thẩm là trung tâm của quyền tư pháp, đòi
hỏi những người tiến hành tố tụng phải tập trung trí tuệ, xử lý các tình huống
một cách mau lẹ, các lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà phải có sức
thuyết phục và đồng thời phải tuân theo những quy định của pháp luật. Thông
qua chất lượng xét xử tại phiên tòa có thể đánh giá được trình độ nghiệp vụ của
Thẩm phán, của Hội thẩm, của Kiểm sát viên, của Luật sư và những người tham
gia tố tụng khác.
Như vậy, HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự, gồm Thẩm phán và Hội thẩm là
những người được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy định của pháp luật
và có nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm tiến hành xét xử lần đầu các vụ án hình
sự của Tòa án theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
1.1.2. Vị trí, vai trò của Hội đồng xét xử sơ thẩm
HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự gồm Thẩm phán và Hội thẩm là những
người được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy định của pháp
Trang 15/80


luật có nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của xã hội, của tổ chức và công dân. Về bản chất, đây là hoạt động giải
quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã

trong giai đoạn khởi tố, điều tra chỉ nhằm thu thập chứng cứ phục vụ cho việc
xét xử tại Tòa án. Giai đoạn thi hành án chỉ có thể được thực hiện khi Tòa án đã
ra phán quyết bằng bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, chúng ta có thể đưa ra các
đặc trưng pháp lý của HĐXX như sau:
- Một là, HĐXX là tập thể những người do Thẩm phán được phân công
làm Chủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thành lập theo sự phân
công của Chánh án;
- Hai là, thành phần HĐXX bao gồm: Thẩm phán, có sự tham gia của Hội
thẩm nhân dân hay Hội thẩm quân nhân tùy theo phiên tòa;
- Ba là, HĐXX chịu sự điều hành của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.
- Bốn là, HĐXX có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành
chính, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình…, tại các phiên tòa sơ
thẩm, phúc thẩm đều quyết định theo nguyên tắc đa số; đồng thời thực hiện các
chức năng khác theo quy định pháp luật. Ngoài ra, số lượng, thành phần của
HĐXX trong pháp luật TTHS còn phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng, phức
tạp của vụ án.
Về mặt lý luận, vị trí và vai trò của một chủ thể quan hệ pháp luật (tổ
chức, cá nhân) được hiểu là tổng hợp các quy định của pháp luật làm cơ sở cho
sự tồn tại, tổ chức và hoạt động, cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
chủ thể đó, làm căn cứ để phân biệt chủ thể đó với các chủ thể khác.
Vị trí, vai trò của HĐXX xử sơ thẩm về nguyên tắc phải thống nhất,
không thể tách rời vị trí, vai trò của các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong hoạt
động TTHS, để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan tiến hành
tố tụng không thể hoạt động tập thể mà phải thông qua các cá nhân đại diện
thường xuyên. Những cá nhân này trong cơ quan Tòa án là Chánh án, Phó

Trang 17/80





tính độc lập cả về nhiệm vụ lẫn quyền hạn trong khi thực hiện các hoạt động tố
tụng được giao. Khi họ thực thi nhiệm vụ, không ai, không cơ quan nào được
can thiệp, tác động để có thể buộc họ làm trái pháp luật hay lấy quyền hành
chính để thay thế, chỉ đạo hoạt động tố tụng của họ.
Trong hệ thống những chức danh của bộ máy Nhà nước, chức danh tư
pháp là chức danh đặc thù, chỉ do Nhà nước quy định và bổ nhiệm để làm nhiệm
vụ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử... (như chức danh Điều tra viên chỉ có trong
cơ quan điều tra để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự; chức danh Kiểm sát
viên chỉ có trong hệ thống viện kiểm sát để thực hiện quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật; chức danh Thẩm phán chỉ có trong cơ quan Tòa án để
làm nhiệm vụ xét xử...). Vì vậy, khi nói đến HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự là nói
đến người duy nhất có thẩm quyền thay mặt Nhà nước để tổ chức và thực hiện
các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật TTHS.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Nhà nước trao cho HĐXX nói chung và
HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng trong tòa án những nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm để thực hiện chức năng xét xử, được quy định cụ thể trong
BLTTHS năm 2015 (từ Điều 44 đến Điều 54).
- Hai là, HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự là hạt nhân của hoạt động tố tụng,
tạo nên uy tín, sức mạnh của cơ quan tiến hành tố tụng. Nếu như hoạt động của
tòa án là trung tâm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác đấu tranh
phòng và chống tội phạm, thì hoạt động của HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự là hạt
nhân của hoạt động tố tụng thông qua việc thực hiện chức năng xét xử của mình
và tạo nên sức mạnh, uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng. Hiệu quả hoạt
động của HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự cũng chính là hiệu quả hoạt động của
các cơ quan tiến hành tố tụng. Tòa án có rất nhiều cán bộ, các chức danh tư pháp
nhưng chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm là người có thẩm quyền tố tụng để thực
hiện chức năng xét xử. Chính vì thế, HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự có vai trò
đặc biệt quan trọng trong cơ quan tiến hành tố tụng, vì hoạt động của họ mang

đặt ra. Điều này có nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân cơ
bản là quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự còn chưa cụ thể, dẫn đến tình trạng làm giảm vai
Trang 20/80


trò, tính chịu trách nhiệm, tính độc lập và tính hiệu quả hoạt động của HĐXX sơ
thẩm vụ án hình sự. Do đó, vấn đề cấp bách đặt ra là cần quy định đầy đủ, rõ
ràng, khoa học về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của HĐXX sơ thẩm
trong việc giải quyết các vụ án hình sự, làm cơ sở để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ
mà Đảng, Nhà nước giao phó trong công tác xét xử và đáp ứng được yêu cầu
thực tiễn đặt ra.
1.1.3. Sự khác biệt của chế định Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
trong mô hình tố tụng thẩm vấn so với mô hình tố tụng tranh tụng.
Trong mô hình TTHS thẩm vấn, Tòa án (HĐXX) có vai trò tích cực, chủ
động trong việc xác định sự thật của vụ án. Tòa án hoàn toàn không giữ vai trò
trung gian, không phải là “trọng tài” trong “trận đối tụng” giữa bên buộc tội và
bên bị buộc tội như trong mô hình tố tụng hình sự tranh tụng. Việc xét xử tại tòa
án là giai đoạn tiếp theo của quá trình đi tìm sự thật vụ án. Tại phiên tòa, HĐXX
đóng vai trò tích cực, chủ động trong việc thẩm tra các chứng cứ. Diễn biến tại
phiên tòa không phải là sự tranh tụng giữa bên buộc tội và gỡ tội mà thực chất là
sự tiếp tục của hoạt động điều tra để đi tìm sự thật của vụ án. HĐXX xác định sự
thật của vụ án thông qua việc chủ động thẩm vấn bị cáo, hỏi những người tham
gia tố tụng khác, xem xét vật chứng, hiện trường vụ án hoặc những địa điểm liên
quan đến vụ án.
Trong mô hình TTHS tranh tụng, vai trò của bồi thẩm đoàn rất quan trọng.
Theo các nhà nghiên cứu, từ thời Hy Lạp cổ đại, hệ thống bồi thẩm đoàn khá lớn
và hoạt động có hiệu quả, có nhiều nét giống với mô hình bồi thẩm đoàn hiện
đại. Lần đầu tiên, bồi thẩm đoàn xuất hiện ở Anh năm 1066, với đại bồi thẩm
đoàn và tiểu bồi thẩm đoàn (còn gọi là bồi thẩm đoàn sơ thẩm) 1; và từ Anh, hệ

điểm vô tư và trung thực của người dân thay vì bị cơ cấu chính quyền chi phối
nếu quyền xét án chỉ tập trung trong tay vị chánh án. Tuy đồng sự với bồi thẩm
đoàn ngồi nghe án nhưng vị Chánh án có nhiệm vụ riêng, nặng về phần thủ tục
và khía cạnh chuyên môn của luật pháp.
Xem: TS. Dương Thanh Mai, Về chế định " Công dân tham gia xét xử" ở Mỹ và một số nước
ASEAN, trong đề tài khoa học cấp bộ: “Đổi mới chế định Hội thẩm trong cải cách tư pháp ở Việt Nam
hiện nay”, Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Sản, Bộ Tư pháp, 2000
2

Thông tin Khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Chuyên đề Tư pháp hình sự so
sánh, 1999, tr. 190
3

Trang 22/80


Tại Hoa Kỳ bồi thẩm đoàn có hai loại:
- Đại bồi thẩm đoàn: Đây là nhóm 20 người trở lên được tuyển chọn để
nghe công tố viên trình bày nghi vấn đang cứu xét. Sau đó, họ sẽ quyết định
rằng sự kiện hình sự đó có đủ bằng chứng để khởi tố hay không. Trong trường
hợp này, công tố viên sẽ trình bày trước đại bồi thẩm đoàn mà không có mặt của
nghi can hay thẩm phán. Nếu không đủ chứng cứ thì vụ án sẽ bị bãi.
- Bồi thẩm đoàn thường thì trực tiếp theo dõi cáo trạng và mọi diễn tiến
tại tòa án và phán quyết khi phiên tòa kết thúc. Nhóm này thường là 12 người và
có thêm một hoặc hai người trừ bị.
Để chọn bồi thẩm viên, Tòa án sẽ triệu tập một số công dân vào hầu tòa
rồi mở cuộc rút thăm. Để đạt tiêu chuẩn vô tư, phải tránh bồi thẩm viên có thiên
kiến. Luật sư hai bên bị tố và nguyên cáo có quyền chất vấn những người được
chọn, rồi loại bỏ nếu bồi thẩm viên đã có sẵn thành kiến. Bồi thẩm đoàn sau đó
sẽ chọn một người làm trưởng đoàn. Có khi Tòa án sẽ ấn định người trưởng


Tuyển chọn từ người dân, Do Hội đồng nhân dân
sau đó thực hiện bốc thăm

tuyển chọn

Tên gọi thành viên

Bồi thẩm viên

Hội thẩm nhân dân

Thời gian hoạt động

Ngắn (trong 01 vụ án)

Dài (5 năm)

Từ khi được lực chọn đến Từ khi được bầu đến khi
khi giải quyết xong vụ án

hết nhiệm kỳ

Việc lựa chọn

Ngẫu nhiên

Bầu, cử

Đối tượng lựa chọn

vi trốn tránh nghĩa vụ

Trang 24/80

tiếp theo
Bãi nhiệm, miễn nhiệm


Mức chi cho một 40 – 50 USD

90.000 đồng

người/ngày
Phụ cấp hoạt động Không

Trưởng đoàn 40% lương cơ

của

sở. Phó trưởng đoàn 30%

Trưởng

đoàn,

Phó Trưởng đoàn

lương cơ sở

Chế độ bảo vệ


Vai trò trong xét xử

Quyết định bị cáo có tội Cùng với Thẩm phán quyết
hay vô tội

định bị cáo có tội hay vô tội

1.2 Các nguyên tắc hoạt động của Hội đồng xét xử
1.2.1 Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia
Xét xử sơ thẩm là xét xử vụ án lần đầu, việc Hội thẩm với tư cách đại diện
cho quần chúng nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử thể hiện tính dân chủ
trong hoạt động xét xử, là cơ sở để tòa án ra bản án, quyết định một cách công
khai, khách quan.
Hội thẩm nhân dân đã được khẳng định và trở thành một chế định truyền
thống trong nền tư pháp XHCN. Nếu như coi nguyên tắc xét xử công khai là sự
kiểm tra có tính chất tổng thể, chung nhất và từ bên ngoài của xã hội đối với
hoạt động xét xử của tòa án thì nguyên tắc hội thẩm tham gia xét xử là sự kiểm
Trang 25/80



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status