CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI THAM GIA KHÁM SÀNG LỌC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN ≥ 45 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU NĂM 2013 - Pdf 65

MỤC LỤC
Trang
Phụ lục 1: Phiếu sàng lọc đái tháo đường
Phụ lục 2 : Bộ câu hỏi người tham gia khám sàng lọc đái tháo đường
Phụ lục 3 : Bộ câu hỏi người không tham gia khám sàng lọc đái tháo đường


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTĐ

: Đái Tháo Đường

HA

: Huyết Áp

HATT

: Huyết Áp Tâm Thu

HATTr

: Huyết Áp Tâm Trương

THA

: Tăng Huyết Áp

TTYTTG

: Tổ Chức Y Tế Thế Giới

: Autoantibodies against insulin

ICA

: Islet cell antibodies

IFG

: Impaired Fasting Glucose

IGT

: Impaired Glucose Tolerance

LDL-c

: Low-density lipoprotein


DANH MỤC BẢNG
Trang


5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, tình hình mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) trên thế giới có
xu hướng thay đổi. Nếu trước đây bệnh thường phổ biến tại các nước phát triển thì nay có xu
hướng ngày càng gia tăng tại các nước đang phát triển. Theo thống kê gánh nặng bệnh tật

quốc gia, trong những năm vừa qua Trung tâm Y tế Dự phòng đã tiến hành nhiều đợt khám
sàng lọc cho người dân tại thành phố Vũng Tàu nhằm phát hiện và quản lý những đối tượng
tiền ĐTĐ, ĐTĐ trong cộng đồng, triển khai một số chương trình phòng chống ĐTĐ một
cách tích cực như tăng cường truyền thông về ĐTĐ, nâng cao chất lượng dịch vụ khám và
điều trị ĐTĐ tại các cơ sở y tế v.v. Các chương trình này đã nhận được sự hưởng ứng cao từ
người dân và mang lại hiệu quả nhất định trong công tác phòng chống ĐTĐ. Mặc dù vậy,
vẫn còn một tỷ lệ khá cao người dân trong độ tuổi sàng lọc không tham gia vào các đợt
khám sàng lọc ĐTĐ. Đây có lẽ là một trong những hạn chế của hoạt động phòng chống
ĐTĐ trong thời gian qua.
Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có nghiên cứu hoặc cuộc khảo sát nào tại thành phố
Vũng Tàu tìm hiểu về các lý do hay các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia hoặc
không tham gia vào khám sàng lọc ĐTĐ của người dân trên địa bàn. Vì vậy chúng tôi thực
hiện đề tài này nhằm góp phần giúp cán bộ y tế thực hiện kế hoạch có hiệu quả hơn cũng
như nâng cao nhận thức của người dân khi đi khám sàng lọc.
Mục tiêu tổng quát
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia khám sàng lọc ĐTĐ của người dân trên
địa bàn thành phố Vũng Tàu.
Mục tiêu cụ thể
1. Xác định tỷ lệ người dân tham gia và không tham gia khám sàng lọc ĐTĐ tại thành phố

Vũng Tàu.
2. Xác định các yếu tố về đặc điểm dân số học, các yếu tố thuộc về mô hình hành vi sức

khỏe ảnh hưởng đến hành vi khám sàng lọc của người dân tại thành phố Vũng Tàu.
3. Xác định mối liên quan giữa các yếu tố trong mô hình hành vi sức khoẻ của người dân tại

thành phố Vũng Tàu.


7

insulin hay cả hai [3].
Còn theo định nghĩa của Bộ Y tế Việt Nam, ĐTĐ được định nghĩa là một rối loạn
mạn tính với các thuộc tính là tăng glucose huyết, bất thường về chuyển hóa carbonhydrat,
lipid và protein và gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh
và các bệnh tim mạch khác [4].
1.2. Dịch tễ học đái tháo đường

Theo một nghiên cứu toàn cầu của TCYTTG, năm 2000 cả thế giới có 171 triệu
người mắc ĐTĐ (chiếm 2,8% dân số toàn cầu). Số mắc ĐTĐ có xu hướng ngày càng tăng và
theo ước tính của nghiên cứu này đến năm 2030 số mắc ĐTĐ sẽ tăng gấp đôi tức 366 triệu
ca (chiếm 4,4% dân số thế giới) [5].
Về phân loại ĐTĐ, các trường hợp ĐTĐ týp 2 xảy ra phổ biến hơn týp 1 và số mắc
mới tại các nước phát triển cũng cao hơn. Tuy nhiên, số hiện mắc sẽ tăng lên tại các nước
đang phát triển cho đến năm 2030 do quá trình đô thị hóa cũng như thay đổi lối sống. Bệnh
ĐTĐ có tỷ lệ mắc ở nam cao hơn ở nữ, nhưng số ca bệnh nữ lại nhiều hơn số ca bệnh nam.
Độ tuổi thường mắc bệnh trên thế giới là 65 tuổi.
Về phân bố số ca mắc ĐTĐ theo khu vực địa lý, vào năm 2000 Ấn Độ, Trung Quốc
và Mỹ là 3 quốc gia có số mắc ĐTĐ cao nhất trên thế giới, lần lượt là 31,7 triệu, 20,8 triệu
và 17,7 triệu ca. Đến năm 2009 thì ba quốc gia này cũng đứng đầu danh sách các quốc gia có
số người mắc ĐTĐ cao nhất trên thế giới [5].
Tại Việt Nam, theo thống kê của Hội giáo dục bệnh ĐTĐ Việt Nam năm 2002 tỷ lệ
người mắc ĐTĐ chiếm 2,7% dân số toàn quốc thì đến năm 2010 tỷ lệ này lã lên đến 3,2%
[6]. Đến năm 2012, theo thống kê của Ban Điều hành Dự án Mục tiêu Quốc gia phòng,


9

chống đái tháo đường, tỷ lệ ĐTĐ đã là 4% dân số, và tỷ lệ người mắc tiền ĐTĐ chiếm gần
10% dân số [7]. Dự báo đến năm 2025, số người mắc ĐTĐ trên toàn quốc sẽ lên tới xấp xỉ 3
triệu người [6]. Các trường hợp mắc bệnh thường nằm trong nhóm tuổi 30 - 65 tuổi, nhưng


thuốc hoặc hóa chất, và một số tác nhân nhiễm trùng. Ngoài ra một số ít trường hợp còn do
các hội chứng bất thường về gen dẫn đến bất thường trong hoạt động tuyến tụy[12].
1.3.4. Đái tháo đường thai kỳ
Trong quá trình mang thai, thai phụ sẽ có những biến đổi đáng kể về nội tiết trong cơ
thể, điều này làm tăng lượng đường huyết dẫn đến một thể ĐTĐ gọi là ĐTĐ thai kỳ. Thể
bệnh này sẽ khỏi sau khi sinh, tuy nhiên có khoảng 40 - 50% phụ nữ ĐTĐ do thai kỳ sẽ bị
ĐTĐ thật sự sau này [13].
1.4. Chẩn đoán đái tháo đường

1.4.1. Các loại xét nghiệm chẩn đoán đái tháo đường
Để chẩn đoán ĐTĐ, hiện nay có các loại xét nghiệm sau đây:
Thử đường huyết trên ngón tay
Đây là một xét nghiệm dùng để tầm soát nhanh và có thể thực hiện được ở bất kỳ đâu.
Xét nghiệm này không cho kết quả chính xác bằng cách thử máu bệnh nhân ở phòng xét
nghiệm nhưng dễ thực hiện và cho kết quả ngay lập tức.
Xét nghiệm được thực hiện bằng cách đâm vào ngón tay của bệnh nhân để lấy mẫu
máu, sau đó đặt vào một que thử, đưa que thử vào máy để đọc kết quả đường huyết. Máy thử
chỉ cho kết quả chính xác trong khoảng 10% so với giá trị thực được đo ở phòng xét nghiệm.
Xét nghiệm này có thể cho kết quả thiếu chính xác hoặc quá cao hoặc quá thấp, do đó
nó chỉ được dùng trong những nghiên cứu tầm soát sơ bộ. Đây là cách mà hầu hết những
bệnh nhân bị ĐTĐ dùng để theo dõi đường huyết tại nhà.
Thử đường huyết lúc đói
Bệnh nhân được yêu cầu không được ăn uống bất kỳ thứ gì trong vòng 8 giờ trước
khi lấy máu, thường là vào đầu buổi sáng [12].
Nếu nồng độ đường huyết ≥ 126 mg/dL, tức kết quả xét nghiệm là bất thường, bệnh
nhân phải thực hiện xét nghiệm này lại vào một ngày khác để khẳng định lại kết quả. Nếu
kết quả lần xét nghiệm thứ hai cũng bất thường chứng tỏ bệnh nhân đã mắc ĐTĐ.
Nếu nồng độ đường huyết nằm trong khoảng từ 100-125 mg/dL, bệnh nhân phải thực
hiện xét nghiệm này lại vào một ngày khác để khẳng định lại kết quả. Nếu kết quả lần xét

Thường xét nghiệm này sẽ được thực hiện mỗi 3 đến 6 tháng ở những bệnh nhân
ĐTĐ và nó được thực hiện thường xuyên hơn đối với những người gặp khó khăn trong kiểm


12

soát đường huyết. Xét nghiệm này không được dùng cho những người không bị ĐTĐ hoặc
không bị gia tăng nguy cơ ĐTĐ.
1.4.2. Chẩn đoán tiền đái thào đường
Tiền ĐTĐ là tình trạng rối loạn chuyển hóa xảy ra khi đường huyết tăng trên mức
bình thường nhưng dưới mức để chẩn đoán là bệnh ĐTĐ týp 2. Để chẩn đoán một bệnh nhân
mắc tiền ĐTĐ thì bệnh nhân đó phải có hai tiêu chuẩn sau:
Rối loạn dung nạp glucose (IGT): nếu mức glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau
khi thực hiện xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống từ 7,8 mmol/l (140 mg/dl) đến
11,0 mmol/l (200 mg/dl).
Suy giảm glucose huyết lúc đói (IFG): nếu lượng glucose huyết lúc đói (sau ăn 8 giờ)
từ 6,1 mmol/l (110 mg/dl) đến 6,9 mmol/l (125 mg/dl).
1.4.3. Chẩn đoán xác định đái tháo đường
Để chẩn đoán ĐTĐ, hiện nay nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam sử dụng bộ tiêu
chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ của TCYTTG năm 1999, trong đó quy định việc chẩn đoán
ĐTĐ có thể dựa vào một trong 3 tiêu chí:
Mức glucose huyết lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (≥ 126 mg/dl).
Mức glucose huyết ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau sau khi thực hiện
xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống.
Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức glucose huyết ở thời điểm bất
kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl).
Tuy nhiên hiện nay một xét nghiệm thường hay được sử dụng ngoài các tiêu chuẩn
trên là xét nghiệm HbA1c. Xét nghiệm này được nhiều cơ sở y tế ưa chuộng vì mức độ
chính xác cao.
1.5. Điều trị đái tháo đường

mmol/l
mmol/l
mmol/l
mmol/l

Tốt

Chấp nhận

4,4 – 6,1
4,4 – 7,8
≤ 6,5
≤ 130/80
18,5 - 23
< 4,5
> 1,1
1,5
< 2,5
3,4

6,2 – 7,0
7,8 - ≤ 10,0
> 6,5 - ≤ 7,5
130/80 – 140/90
18,5 - 23
4,5 - ≤ 5,2
≥ 0,9
1,5 - ≤ 2,2
2,5 - 3,4
3,4 - 4,1

Kiểm soát cân nặng
Nguy cơ các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng chẳng hạn như THA, bệnh tim mạch,
bệnh viêm khớp và đột quỵ cũng như ĐTĐ tăng lên nếu người bệnh có chỉ số khối cơ thể
(BMI) ≥ 25 (thừa cân được định nghĩa là BMI từ 25 – 29,9, béo phì có BMI ≥ 30). Người


14

béo phì hoặc thừa cân nếu thực hiện được chế độ ăn và hoạt động thể lực phù hợp thì hiệu
quả giảm cân sẽ đạt được cao nhất.
Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc phẩu thuật giảm cân có thể giúp
kiểm soát đường huyết tốt hơn và ít cần uống thuốc ĐTĐ hơn so với cách trị liệu ĐTĐ bằng
cách giảm cân thông qua thay đổi lối sống. Tuy nhiên vẫn còn quá ít bằng chứng khoa học
ủng hộ phương pháp giảm cân bằng phẫu thuật áp dụng trong điều trị ĐTĐ.
Sau khi đã áp dụng các biện pháp nêu trên, bệnh nhân cần xét nghiệm lại đường huyết hàng
năm nhằm đánh giá lại quá trình tiến triển ĐTĐ nếu có.
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, bệnh nhân thất bại trong việc thay đổi lối sống.
Khi đó bác sĩ mới cân nhắc việc sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ trên bệnh nhân.
Sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ
Khi sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ, bác sĩ không áp dụng phương pháp điều trị bậc
thang mà phải sử dụng phương pháp phối hợp thuốc ngay từ giai đoạn đầu của quá trình điều
trị. Phác đồ cụ thể như sau:
Nếu HbA1c trên 9,0% mà mức glucose huyết lúc đói trên 13,0 mmol/l có thể chỉ định
hai loại thuốc viên hạ glucose huyết phối hợp.
Nếu HbA1C trên 9,0% mà mức glucose huyết lúc đói trên 15,0 mmol/l có thể xét chỉ
định dùng ngay insulin.
Đối với các cơ sở y tế không thực hiện được xét nghiệm HbA1c, việc đánh giá điều
trị sẽ được căn cứ vào mức glucose huyết tương trung bình.
Hiện nay, trên thị trường có các loại thuốc điều trị ĐTĐ như sau:
1. Các thuốc hạ glucose máu bằng đường uống

được áp dụng vào điều trị là các thuốc Sitagliptin (2007). Thế hệ 2 là Saxagliptin (2009).
Ngoài ra là các thuốc như Vidagliptin (2008) phổ biến ở châu Âu.
2. Insulin
− Người bệnh ĐTĐ týp 1 phụ thuộc vào insulin ngoại sinh để tồn tại. Ngược lại, người

bệnh ĐTĐ týp 2 không phải phụ thuộc vào insulin ngoại sinh để tồn tại nhưng sau một
thời gian mắc bệnh nhiều người bệnh ĐTĐ týp 2 giảm sút, thậm chí mất khả năng sản
xuất insulin, đòi hỏi phải bổ sung insulin ngoại sinh để kiểm soát glucose máu một cách
đầy đủ. Sử dụng insulin để đạt được hiệu quả kiểm soát chuyển hóa glucose tốt nhất đòi
hỏi sự hiểu biết về khoảng thời gian tác dụng của các loại insulin khác nhau.
1.6. Phòng ngừa đái tháo đường

Nội dung phòng ngừa ĐTĐ bao gồm:
− Phòng để không bị bệnh khi có nguy cơ mắc bệnh, phòng để không tiến triển thành bệnh

và loại trừ các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được. Đây gọi là phòng ngừa cấp 1. Để
thực hiện được nội dung này cần tiến hành sàng lọc bệnh trong cộng đồng để tìm ra


16

nhóm người có nguy cơ mắc bệnh; can thiệp tích cực nhằm làm giảm tỷ lệ mắc bệnh
ĐTĐ trong cộng đồng.
− Khi đã mắc bệnh, phòng để bệnh không tiến triển nhanh và giảm thiểu tối đa các biến

chứng của bệnh nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Đây gọi là phòng
bệnh cấp 2. Với người đã bị mắc bệnh ĐTĐ, phòng bệnh cấp 2 làm chậm xảy ra các biến
chứng, làm giảm mức độ nặng của biến chứng, nâng cao chất lượng sống cho người mắc
bệnh.
1.7. Sàng lọc đái tháo đường

1.7.2. Sàng lọc đái tháo đường týp 1
ĐTĐ týp 1 thường có nguồn gốc tự miễn với sự hiện diện của các loại tự kháng thể,
do đó sự hiện diện của các tự kháng thể như: ICA, IAA, GAD, IA-2 giúp xác định nhóm
bệnh nhân nguy cơ. Hiện nay, việc tầm soát ĐTĐ típ 1 vẫn ít được thực hiện vì các lý do
sau:
− Giá trị ngưỡng để chẩn đoán của các thử nghiệm dấu chỉ miễn dịch chưa thực sự thống

nhất;
− Chưa đạt được đồng thuận nên hành động thế nào nếu kết quả cho thấy tự kháng thể

dương tính;
− Tỷ lệ ĐTĐ týp 1 rất ít nên nếu có sàng lọc, số lượng những người có thể phát hiện được

rất nhỏ, thường là dưới 0,5 %, do đó hiệu quả về kinh tế không cao.
− Hiện nay tại nhiều quốc gia trên thế giới và riêng tại Việt Nam, để sàng lọc ĐTĐ týp 1,

các cơ sở y tế thường sử dụng xét nghiệm Anti–GAD.
1.7.3. Sàng lọc đái tháo đường týp 2
Như đã đề cập ở trên, ĐTĐ týp 2 là thể ĐTĐ thường gặp nhất (chiếm đến 90-95 % số
bệnh nhân bị ĐTĐ), tuy nhiên tỷ lệ bệnh nhân không biết bản thân mắc bệnh và không được
chẩn đoán chiếm > 50% tổng số ca mắc ĐTĐ týp 2. Do bệnh diễn tiến âm ỷ và thường là khi
bệnh nhân được chẩn đoán thì các biến chứng của bệnh đã xuất hiện, thậm chí có những
bệnh nhân lần đầu tiên chẩn đoán ĐTĐ thì đã mắc phải những biến chứng nặng nề của bệnh
ĐTĐ. Việc sàng lọc ĐTĐ týp 2 có thể được phân theo độ tuổi. Cụ thể như sau:


18

Bảng 1.2. Sàng lọc ĐTĐ týp 2 phân theo độ tuổi
Đối tượng sàng lọc


Ngoài việc sàng lọc theo độ tuổi, bệnh nhân cũng có thể căn cứ vào giới tính và tình
trạng ĐTĐ của bản thân để thực hiện các xét nghiệm sàng lọc.
Bảng 1.3. Sàng lọc dựa vào giới tính và tình trạng ĐTĐ
Đối tượng sàng lọc
Đàn ông không triệu chứng và phụ nữ
không mang thai bị THA
Đàn ông không triệu chứng và phụ nữ
không mang thai bị giảm dung nạp
glucose và THA
Phụ nữ không triệu chứng có tiền sử
ĐTĐ thai kỳ
Phụ nữ mang thai không triệu chứng

Xét nghiệm tầm soát
Tần số thực hiện
Đường huyết khi đói hoặc Hai năm một lần
HbA1c
Đường huyết khi đói hoặc Mỗi năm một lần
HbA1c
HbA1c
HbA1c
Dung nạp đường huyết 2 giờ

Mỗi năm một lần
Tầm soát ngay lần khám thai
đầu tiên
Tầm soát vào tuần 24 – 28



các hành vi sức khỏe. Mô hình này được 3 nhà tâm lý xã hội học Hochbaum, Rosenstock và
Kegels đưa ra vào những năm 1950 tại Mỹ. Nó được xây dựng nhằm giải thích sự thất bại
của chương trình sàng lọc bệnh lao miễn phí tại Mỹ. Kể từ đó về sau, nó đã được áp dụng
rộng rãi để giải thích nhiều loại hành vi sức khỏe khác nhau, trong đó bao gồm cả các hành
vi nguy cơ tình dục và sự lây truyền HIV/AIDS.


20

Mô hình này sơ khởi được cấu thành bởi bốn thành phần bao gồm: nhận thức về khả
năng mắc bệnh và nhận thức về mức độ trầm trọng của bệnh tạo thành nhận thức về sự đe
dọa của bệnh, nhận thức về lợi ích của hành vi sức khỏe và nhận thức về các rào cản thực
hiện hành vi sức khỏe tạo thành mong muốn về kết quả có được. Tuy nhiên trải qua một thời
gian dài, mô hình đã được bổ sung thêm khái niệm mới gọi là gợi ý dẫn đến hành động. Gợi
ý dẫn đến hành động sẽ là động lực góp phần thúc đẩy cá nhân thực hiện hành vi sức khỏe.
Hiện nay, mô hình hành vi sức khỏe được vận dụng để giải thích nhiều loại hành vi
sức khỏe và nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Ba lĩnh vực áp dụng mô hình này phổ biến
nhất chính là 1) hành vi sức khỏe phòng ngừa bao gồm cả các hành vi nâng cao sức khỏe và
hành vi nguy cơ sức khỏe, các thực hành tiêm chủng và ngừa thai, 2) hành vi liên quan bệnh
tật, tức các hành vi liên quan đến các liệu pháp điều trị bệnh tật, và 3) các hành vi lâm sàng
thường xảy ra trong các lần thăm khám của của bác sĩ điều trị bệnh nhân.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng sẽ sử dụng mô hình niềm tin sức khỏe. Điều
này có nghĩa là chúng tôi sẽ tìm hiểu các yếu tố thuộc các thành phần trong mô hình niềm tin
sức khỏe bao gồm nhận thức khả năng mắc bệnh ĐTĐ, nhận thức mức độ trầm trọng của
bệnh ĐTĐ, nhận thức về lợi ích của việc tham gia khám sàng lọc ĐTĐ, nhận thức về các rào
cản tham gia khám sàng lọc ĐTĐ, và các gợi ý tham gia khám sàng lọc ĐTĐ. Ngoài ra
chúng tôi bổ sung thêm thành phần môi trường xã hội vào mô hình niềm tin sức khỏe để giải
thích hành vi tham gia khám sàng lọc ĐTĐ của các đối tượng nghiên cứu.
1.8.2 Các nghiên cứu liên quan đến khám sàng lọc ĐTĐ
Nghiên cứu của Omalase và cộng sự tiến hành vào năm 2013 trên những bệnh nhân

mối liên quan có ý nghĩa thống kê có thể chia thành hai loại là các rào cản thực tiễn (tốn
nhiều thời gian, sợ xét nghiệm phức tạp), và các rào cản về hậu quả bệnh (sợ bị phát hiện và
điều trị, không rõ nơi điều trị nếu kết quả khám sàng lọc cho kết quả dương tính). Tuy nhiên
đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả nên mối liên quan tìm được chưa chắc chắn, bên cạnh đó
việc loại ra các yếu tố khảo sát trong quá trình phân tích mối liên quan làm giảm ý nghĩa của
đề tài [19].
Theo hướng dẫn của Keeffe về sàng lọc bệnh võng mạc, có thể chia các rào cản đối
với người dân thực hiện khám sàng lọc bệnh võng mạc ĐTĐ có thể chia làm ba loại. Thứ
nhất là các yếu tố liên quan đến bệnh nhân chẳng hạn như thiếu kiến thức về xét nghiệm
kháng sàng lọc, không nhận thức được bản thân đang mắc bệnh, thiếu phương tiện đi lại
hoặc không có người đi kèm, sự khác biệt về niềm tin đối với bệnh tật. Thứ hai là các yếu tố


22

liên quan đến người khám sàng lọc chẳng hạn như thời gian khám cho bệnh nhân ít, thiếu
kiến thức về khám sàng lọc. Thứ ba là các yếu tố liên quan đến dịch vụ khám sàng lọc như
bắt bệnh nhân phải chờ đợi lâu dài, thiếu sự nhắc nhở bệnh nhân đi khám [20].
Nghiên cứu của Walker và cộng sự tiến hành vào năm 1997 khảo sát các yếu tố động
lực và rào cản đối với khám sàng lọc bệnh võng mạc ĐTĐ ở bệnh nhân ĐTĐ Mỹ gốc Châu
Phi. Tổng cộng có 67 bệnh nhân ĐTĐ tham gia nghiên cứu. Kết quả cho thấy yếu tố động
lực giúp bệnh nhân đến khám sàng lọc là mắt có vấn đề và được bác sĩ tư vấn đến khám sàng
lọc (chiếm 91%). Các yếu tố rào cản liên quan đến khám sàng lọc bao gồm sợ bệnh, niềm tin
vào tôn giáo, các ưu tiên sức khỏe khác, điều kiện kinh tế, các yếu tố liên quan đến đi lại
[21].


23

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


Người dân gặp khó khăn về khả năng giao tiếp khi phỏng vấn (câm điếc, nói ngọng, không
hiểu tiếng Việt).
Người dân gặp các vấn đề về tinh thần (tâm thần, mất trí).
Người dân không đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn.
2.6. Thu thập dữ liệu
2.6.1. Kỹ thuật thu thập dữ liệu
Các thông tin liên quan đến khám sàng lọc đái tháo đường
Trong đợt khám sàng lọc, các đối tượng sẽ được sàng lọc bằng hai loại xét nghiệm là
xét nghiệm đường máu khi đói và xét nghiệm đường máu sau hai giờ làm nghiệm pháp. Quy
trình thực hiện như sau:
Đối tượng được cho làm xét nghiệm đường máu khi đói (sau khi ăn trên 8 giờ): Đối
tượng được dặn ăn từ tối ngày hôm trước, sau đó không ăn gì thêm, không uống nước giải
khát có đường, sáng ngày hôm sau nhịn ăn đến lấy máu xét nghiệm đường máu trong
khoảng từ 5 đến 8 giờ sáng.
Đối tượng được cho làm xét nghiệm đường máu sau hai giờ: Ngay sau khi đã lấy máu
xét nghiệm đường huyết lúc đói, đối tượng được cho uống 75g glucose loại anhydrat (hoặc
82,5g đường monohydrat) pha trong 250-300 ml nước sạch, đối tượng phải uống hết trong
vòng 5 phút. Hai giờ sau khi uống, lấy máu xét nghiệm đường huyết lần thứ 2.
Kỹ thuật lấy máu xét nghiệm đường máu:
− Bệnh nhân: Ngồi trên ghế, đặt một cách tự nhiên khuỷu, cẳng tay và bàn tay trái ngửa

trên bàn, để được lấy máu ở đầu ngón tay giữa.
− Kỹ thuật viên: Lấy máu làm xét nghiệm đường huyết theo một quy trình thống nhất như

sau:
− Lau sạch cạnh bên phải của đầu ngón tay giữa bằng bông cồn 70 0, để khô tự nhiên.
− Lắp kim chích máu vào bút chích, đặt áp sát vào đầu ngón tay, bấm nút chích máu.
− Ép nhẹ hai bên của đầu ngón tay để một giọt máu chảy ra, để giọt máu rơi đúng vào ô


− Cho đối tượng ngồi nghỉ trước khi đo, ít nhất 5-10 phút, trong phòng yên tĩnh. Đối tượng

không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc) trước đó 2 giờ.
− Tư thế đo: đối tượng ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức

với tim. Có thể đo ở các tư thế nằm, ngồi. Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh đái tháo
đường, nên đo thêm tư thế đứng nhằm xác định có hạ HA tư thế hay không.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status