Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm GPA của sinh viên đại học ngoại thương - Pdf 65

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong thời kì đẩy mạnh phát triển kinh tế - hội nhập kinh tế
Quốc tế, Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước và phấn đấu đến năm 2020 cơ
bản trở thành một nước Công nghiệp hiện đại. Tất cả đòi hỏi một nguồn nhân lực
trẻ, năng động, có trình độ chuyên môn và năng lực làm việc cao.
Để đáp ứng với xu thế và sự định hướng phát triển đó thì sinh viên càng phải
cố gắng nhiều hơn trong việc học tập và rèn luyện, nhằm nâng cao kiến thức, trình
độ của bản thân để có thể chủ động trong việc lựa chọn nghề nghiệp và hướng đi
phù hợp cho bản thân, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, một
thực tế hiện nay xảy ra khá phổ biến ở các trường Đại học – Cao đẳng trong cả nước
là: Phần lớn sinh viên dường như chẳng biết mình được học gì trên lớp và điều đó
dẫn đến kết quả học tập không tốt. Có thể thấy, môi trường học tập ở Đại học đòi
hỏi tự mỗi sinh viên phải có sự tự giác, nỗ lực của cá nhân rất lớn. Song, nhiều bạn
sinh viên dù có chăm chỉ nhưng kết quả học tập vẫn không cao (Đại diện là Điểm
trung bình). Có thể là do phương pháp học chưa thật sự phù hợp với môi trường
giáo dục Đại học, hoặc cũng có thể do các yếu tố khác tác động đến việc học khiến
kết quả chưa được tốt.
Một thực tế khác, sinh viên tốt nghiệp với tấm bằng loại Trung bình thì cơ hội
nghề nghiệp đúng với chuyên môn, sở thích, hài lòng với mức lương quả không dễ
dàng. Do vậy, tất cả sinh viên đều mong muốn tốt nghiệp với một tấm bằng đại học
loại khá – giỏi. Và tiêu chí để có được tấm bắng loại khá – giỏi ấy là GPA (Điểm
trung bình học tập của sinh viên trên thang điểm 4). Có thể thấy, với những người
còn ngồi trên nghế nhà trường nói chung và sinh viên nói riêng thì GPA là yếu tố
quan trọng nhất để đánh giá kết quả học tập của sinh viên sau mỗi kỳ học kỳ. Kết
quả của mỗi kỳ sẽ quyết định xem sinh viên có bị buộc thôi học hay không, xếp loại
học lực gì và tấm bằng mà họ đạt được sau khi kết thúc chương trình đào tạo của
nhà trường. Qua những phân tích trên, có thể thấy sinh viên rất quan tâm đến điểm
trung bình học tập của mình.
Hiểu được vấn đề đó, nhóm chúng em quyết định nghiên cứu đề tài: “Các yếu
tố ảnh hưởng đến điểm GPA của sinh viên đại học Ngoại Thương” để có những
kết luận, nhận xét về một số các yếu tố ảnh hưởng đến GPA của sinh viên Ngoại

nhau như A+, A, A-. Cách quy đổi này giúp hạn chế khoảng cách giữa 2 mức điểm
và giảm sự thiệt thòi cho sinh viên.
Tuy vậy, cách chia và tính GPA phổ biến vẫn như sau:







A = 4 : Giỏi
B = 3 : Khá
C = 2 : Trung Bình
D = 1 : Yếu
F = 0 : Không qua môn

Ví dụ, nếu bạn có kết quả học tập bốn môn học như sau: một điểm A, hai điểm
B và một điểm C thì ta sẽ có phép tính:


Tổng số điểm: 4×1 + 3×2 + 2×1 = 12.



Điểm trung bình (GPA): 12/4 = 3.

3


1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến GPA của sinh viên.

quả thi các môn học cũng sẽ không cao do không được ôn luyện lại kiến thức.
Số giờ tự học/ngày: Bên cạnh học trên lớp với thầy cô thì việc tự học là khá quan
trọng và cần thiết đối với mỗi sinh viên. Khác với cách học ở phổ thông, phần lớn
giáo viên ở Đại học thường định hướng sinh viên theo phương pháp tự nghiên cứu
và tìm hiểu vấn đề. Chính vì vậy, nếu không dành thời gian cho việc tự học, tự
nghiên cứu sinh viên sẽ rất khó để nắm bắt được kiến thức và hệ quả là điểm GPA

-

của môn học đó cũng sẽ bị giảm.
Kì vọng về bằng cấp: Hiển nhiên, với những sinh viên có kì vọng về bằng tốt
nghiệp càng cao như xuất sắc hoặc giỏi thì họ sẽ càng nỗ lực để đạt điểm GPA cao
hơn và ngược lại.

4


- Một số hoạt động cá nhân khác: Đối với sinh viên, đặc biệt là sinh viên Ngoại
Thương, bên cạnh việc học họ còn khá nhiều hoạt động cá nhân khác cũng có thể
ảnh hưởng đến kết quả học tập như câu lạc bộ, làm thêm, người yêu…
Và để có thể thấy mỗi yếu tố tác động đến điểm trung bình cụ thể hơn như thế
nào, chúng em sẽ xây dựng mô hình hồi quy kinh tế lượng nhằm tìm ra mối quan hệ
định lượng ấy, góp phần đưa ra những nhận định sơ bộ về các yếu tố ảnh hưởng đến
điểm trung bình của sinh viên.
Trong bài nghiên cứu này, chúng em có sử dụng đến Phần mềm Stata để phân
tích và tổng hợp số liệu. Phương pháp sử dụng để phân tích Hàm hổi quy: Phương
pháp OLS, chạy trên phần mềm thống kê Eviews.

- Bộ dữ liệu: data. xlxs



Giá trị biến
1, 2, 3, 4

attend

1, 2, 3, 4, 5

Ý nghĩa biến
Điểm GPA hiện tại của sinh viên
Số buổi nghỉ học trung bình một tháng

hour

1, 2, 3, 4

hwrte

1, 2, 3, 4, 5

Phần trăm làm bài tập về nhà

termgpa

1, 2, 3, 4, 5

Điểm cuối kì của môn học

degree
year

3.19”; 3 là “3.2 – 3.59” và 4 là “3.6 – 4.0”
Với biến attend: có giá trị là 1 tương ứng với “Từ 6 buổi trở lên”; 2 là “4-5

-

buổi”; 3 là “2-3 buổi”; 4 là “0 – 1 buổi”.
Với biến hour: có giá trị là 1 tương ứng với “0-2 giờ”; 2 là “2-4 giờ”; 3 là

-

“4-6 giờ”; 4 là “Từ 6 giờ trở lên”.
Với biến hwrte: có giá trị là 1 tương ứng với “0-20%”; 2 là “20-40%”; 3 là

-

“40 – 60%”; 4 là “60 – 80%” và 5 là “80 – 100%”.
Với biến termgpa: có giá trị là 0 tương ứng với “Điểm cuối kì
3.3235
0.6274
1.3725
2.9117
2.8235
2.5196
0.4705
0.5196
2.5882

Độ lệch
chuẩn
0.8609
0.8224
0.4858
0.6882
1.3866
0.7760
0.7926
0.5015
0.5020
1.1886

Giá trị nhỏ
nhất
0.0000
1.0000
0.0000
1.0000
1.0000

2.2.1 Điểm GPA của kì

Điểm GPA cuối kỳ dao động trong khoảng từ 0 – 4.0, trong đó điểm GPA phổ
biến nhất trong khoảng từ 2.5 đến 3.19, chiếm 46.08%; điểm GPA phổ biến thứ hai
trong khoảng từ 3.2 đến 3.59, chiếm 35.29%. Điểm GPA cuối kì xuất hiện ít nhất
chỉ chiếm 6.86%, nằm trong khoảng điểm nhỏ hơn 2.5.
2.2.2 Số buổi nghỉ học trong tháng

9


Từ bảng kết quả có thể thấy hơn một nửa số sinh viên tham gia khảo sát đi
học đầy đủ hoặc chỉ nghỉ học 1 buổi/tháng, chiếm gần 51%. Kế tiếp là các sinh viên
nghỉ học 2 hoặc 3 buổi/tháng, chiếm 34.31%. Ngoài ra số lượng sinh viên nghỉ học
trên 6 buổi/tháng là rất ít, chỉ chiếm 3.92%.
2.2.3 Điểm thi cuối kì

Điểm thi cuối kì phổ biến nhất của sinh viên rơi vào khoảng 7.0 – 8.5, chiếm
43.14%; điểm số phổ biến thứ hai là trong khoảng 5.5 – 7.0, chiếm 31.37%. Đặc
biệt chỉ có chưa đầy 1% số lượng sinh viên có điểm cuối kì nhỏ hơn 4.0.

10


2.2.4 Phần trăm làm bài tập về nhà

Số phần trăm bài tập về nhà phổ biến nhất là từ 40 – 60%, chiếm 29.41%; kế
tiếp là những sinh viên chỉ làm dưới 20% bài tập về nhà, chiếm 23.53%. Phần trăm
làm bài tập về nhà ít phổ biến nhất trong khoảng 20 – 40%, chỉ chiếm 12.75% tổng
số sinh viên tham gia khảo sát.


- Biến crush: Kết quả cho thấy hơn 50% số lượng sinh viên Ngoại thương
tham gia khảo sát trả lời rằng chưa có người yêu (chiếm gần 53%)

- Biến club: Kết quả cho thấy có hơn một nửa sinh viên Ngoại Thương được
khảo sát có tham gia các câu lạc bộ trong trường, chiếm 51.96%.

13


14


CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH HỒI QUY VÀ PHÂN TÍCH HỒI QUY
3.1 Mô hình hồi quy tổng thể và mô hình hồi quy mẫu
Mô hình hồi quy tổng thể (PRF) biểu diễn mối liên hệ giữa biến phụ thuộc gpa
(điểm GPA của kỳ) với các biến độc lập attend, termgpa, hwrte, hour, degree,
year, job, crush, club.
gpa = + * attend + * final + * hwrte + * hour + * degree + * year + * job
+ * crush + * club +
Mô hình hồi quy mẫu tương ứng (SRF):
+ * attend + * termgpa + * hwrte + * hour + * degree + * year + * job +
* crush + * club +
3.2 Bảng tương quan và mối quan hệ tương quan giữa các biến
Bảng 3.1 Mối quan hệ tương quan giữa các biến

Termgp
a
Attend
Hour


0.3695

Year

-0.0125

0.1459

Job

0.0399

0.1063

Crush

-0.2117

0.1327

0.003
3

club

0.1830

0.2362


6

1
0.474
4
0.509
8
0.130
3
0.108
0
0.252
8
0.080
7

1
0.762
1
0.033
3
0.044
8
0.147
9
0.160
7

1
0.111


-

Hệ số tương quan giữa biến gpa và attend là 0.3470.

-

Hệ số tương quan giữa biến gpa và termgpa là 0.7722

-

Hệ số tương quan giữa biến gpa và hwrte là 0.4744.

15

1


-

Hệ số tương quan giữa biến gpa và hour là 0.2768

-

Hệ số tương quan giữa biến gpa và degree là 0.7621.

-

Hệ số tương quan giữa biến gpa và year là -0.0333


Bảng 3.2 Kết quả mô hình hồi quy
Tên biến
Hệ số tự do
attend
hour

Hệ số hồi quy
-0.010154
0.3344
0.3188

16

Độ lệch chuẩn
0.247769
0.0903
0.1106

P – value
0.0407
0.0004
0.0048


hwrte
termgpa
degree
year
job
crush




Hệ số xác định R2 = 75.42% thể hiện mức độ phù hợp của hàm hồi
quy mẫu là khá cao. Ngoài ra, giá trị của R 2 còn cho biết 75.42% sự
biến động của điểm GPA của kì được giải thích bởi các biến độc lập

trên
 Hệ số xác định điều chỉnh = 73.02%
 Ý nghĩa các hệ số hồi quy trong mô hình:
• = -0.010154 có nghĩa là khi giá trị các biến độc lập = 0 thì điểm GPA của kỳ sẽ là
xấp xỉ -0.01 điểm.
• = 0.3344 có nghĩa là nếu số buổi đi học của sinh viên tăng thêm 1 đơn vị thì điểm
GPA của kỳ tăng thêm xấp xỉ 0.3344 điểm với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
• = 0.3188 có nghĩa là số giờ tự học của sinh viên tăng thêm 1 đơn vị thì điểm GPA


của kỳ tăng thêm xấp xỉ 0.3188 điểm với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
= 0.2712 có nghĩa là phần trăm làm bài tập về nhà của sinh viên tăng thêm 1 đơn vị
thì điểm GPA của kỳ tăng thêm xấp xỉ 0.02712 điểm với điều kiện các yếu tố khác

không đổi.
• = 0.7478 có nghĩa là nếu điểm cuối kì của sinh viên tăng thêm 1 đơn vị thì điểm
GPA của kỳ tăng thêm xấp xỉ 0.3344 điểm với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
• = 0.7785 có nghĩa là nếu kì vọng về bằng tốt nghiệp của sinh viên tăng thêm 1 đơn
vị thì điểm GPA của kỳ tăng thêm xấp xỉ 0.7785 điểm với điều kiện các yếu tố khác


không đổi.
= -0.0222 có nghĩa số năm học của sinh viên tăng them 1 đơn vị thì điểm GPA của


-

đến điểm gpa của kỳ.
Các biến còn lại đều có giá trị P-value < 0.05 suy ra bác bỏ H 0, nghĩa là các biến
này có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kế đến termgpa.
3.5.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Tiến hành kiểm định nhằm xem xét trường hợp các hệ số hồi quy của biến độc
lập đồng thời bằng 0 có thể xảy ra hay không.
Cặp giả thuyết thống kê:

18


(Hay chính là )
Nếu giá trị Prob > F nhỏ hơn mức ý nghĩa thì bác bỏ H 0, chấp nhận H1 tức là
hàm hồi quy mẫu phù hợp.
Theo kết quả chạy hồi quy, giá trị Prob > F = 0.0000 < 0.05 nên bác bỏ giả
thiết H0, chấp nhận giả thiết H1. Kết luận với độ tin cậy 95% các hệ số hồi quy của
biến độc lập không đồng thời bằng 0, tức là mô hình hồi quy phù hợp, hay sự giao
động của biến phụ thuộc được giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình.

19


CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH VÀ KHẮC PHỤC CÁC KHUYẾT TẬT CỦA MÔ
HÌNH HỒI QUY.
4.1 Đa cộng tuyến.
Mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển giả định các biến độc lập không có mối
quan hệ tuyến tính với nhau, tức là các hệ số hồi quy đối với một biến cụ thể là số



Sử dụng lệnh vif trong Eview nếu Mean VIF > 10 thì xảy ra hiện tượng đa
cộng tuyến. Chạy lệnh vif ta thu được kết quả như sau:
Bảng 4.1 Kiểm định đa cộng tuyến bằng VIF
Variables

VIF

Attend

1.4127

Hour

1.2805

Hwrte

1.5610

termgpa

2.2883

Degree

2.3290

Year

xã hội, quá trình thu thập, xử lí, làm trơn số liệu hay do mô hình định dạng sai mà
giả thiết này bị vi phạm dẫn đến hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
Hậu quả của phương sai sai số thay đổi: Hậu quả là không thể kiệm định
được giả thuyết thống kê một cách chính xác.

21


Ta có:
;.
se dùng để kiểm định giả thuyết thống kê T nhưng nếu có thay đổi thì cũng
thay đổi như vậy không thể tính được giá trị cụ thể của thống kê T do T thay đổi
theo từng quan sát. Như vậy sẽ không thể rút ra kết luận của kiểm định.
Cách phát hiện:
Để kiểm định phương sai sai số thay đổi ta có cặp giả thuyết sau:

Sử dụng kiểm định White để kiểm định phương sai sai số thay đổi:
Nếu giá trị Prob >chi2 , chúng ta bác bỏ giả thiết H0 và chấp nhận giả thiết H1
hay mô hình có phương sai sai số thay đổi.
Sử dụng phần mềm Eview ta có kết quả kiểm định White như sau:

22


Kết quả kiểm định White cho thấy giá trị P-value = 0.1883 lớn hơn 0.05 nên
chấp nhận giả thuyết H0. Do đó mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay
đổi.

23


24


thời gian hơn để ôn luyện cuối kỳ thật tốt. Nếu điểm cuối kỳ cao, nhất định GPA của
sinh viên sẽ tăng lên.
Bên cạnh đó, kì vọng về bằng cấp cũng có ảnh hưởng nhất định tới điểm GPA
của sinh viên, chính vì vậy việc đặt mục tiêu về tấm bằng tốt nghiệp càng cao sẽ
càng tạo động lực để sinh viên đạt được điểm GPA cao hơn.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy điểm GPA của sinh viên cũng chịu
ảnh hưởng từ một số yếu tố khác như đang là sinh viên năm mấy? Có tham gia câu
lạc bộ không? Có đi làm thêm không? Có người yêu không? Những yếu tố mang
tính cá nhân này cũng tác động không nhỏ tới kết quả học tập của sinh viên. Vì vậy,
sinh viên cần phải biết cân đối giữa học tập với các công việc làm thêm, các hoạt
động xã hội, câu lạc bộ… để đảm bảo thành tích học tập của mình.
Một số hạn chế trong quá trình làm tiểu luận: Trên thực tế còn rất nhiều các
yếu tố ảnh hưởng đến GPA của sinh viên: Có tham gia nghiên cứu khoa học ở
trường không? Thời gian dành cho các thiết bị điện tử và giải trí như thế nào?... Các
yếu tố trên chưa phản ánh được đầy đủ bản chất của vấn đề.
Đề xuất: Nếu có điều kiện, chúng em sẽ đưa thêm một số yếu tố khác vào mô
hình để có mọi người sẽ có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề.
Hi vọng, những phân tích trên của nhóm sẽ phần nào giải đáp những thắc mắc,
băn khoăn của mọi người về sự tác động của những yếu tố ảnh hưởng tới GPA của
sinh viên.
Qua đây, nhóm chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn đến giảng viên hướng dẫn,
cô Đinh Thị Thanh Bình đã có những chỉ dẫn sát sao cùng với sự giúp đỡ và đóng
góp của các bạn trong lớp đã giúp chúng em hoàn thành báo cáo này.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status