Căn bệnh Hà Lan 1 - Pdf 65

Căn bệnh Hà Lan Trang 1
I. NGUYÊN NHÂN – NGUỒN GỐC CĂN BỆNH
Căn bênh Hà Lan là tên gọi một loại nguy cơ kinh tế xảy ra khi đẩy mạnh xuất khẩu
tài nguyên thiên nhiên dẫn tới làn suy giảm ngành công nghiệp chế tạo – một hiện
tượng giảm công nghiệp hóa. Thuật ngữ căn bệnh Hà Lan đôi khi được dùng để
chỉ nguy cơ xảy ra khi phụ thuộc nguồn lực vào bên ngoài dẫn tới suy giảm các nguồn
lực trong nước.
“Căn bệnh Hà Lan” là một thuật ngữ trong kinh tế học ra đời năm 1977 để mô tả sự
suy giảm của khu vực sản xuất Hà Lan sau khi nước này tìm ra mỏ khí gas lớn. Từ đó
về sau thuật ngữ này dùng để nói về mối quan hệ giữa việc phát hiện nguồn tài nguyên
thiên nhiên mới với sự tụt hậu của sản xuất trong nước của một quốc gia.
Trong quá trình thăm dò, các nhà địa chất phát hiện một nguồn khí đốt với trữ lượng
rất lớn. Nhờ việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, Hà Lan có thêm một khoản
trời cho rất lớn. Chính phủ Hà Lan đã tăng chi tiêu ngân sách, đầu tư vào nhiều lĩnh vực
kém hiệu quả, sản xuất hàng hóa phi ngoại thương không có sức cạnh tranh.
Căn bệnh Hà Lan phát tác một khi nguồn tài nguyên trong nước đã cạn kiệt hoặc có
sự biến động giảm giá tài nguyên trên thị trường thế giới. Khi đó việc khai thác tài
nguyên để bán gặp khó khăn. Các ngành sản xuất khác trong nước hầu như đã tê liệt vì
tụt hậu kỹ thuật khi không được đầu tư trong thời gian dài. Nền kinh tế lâm vào khủng
hoảng.
II. MÔ HÌNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CĂN BỆNH HÀ LAN
1. Mô hình cổ điển
1
1.1. Nội dung
Mô hình cổ điển của Căn bệnh hà Lan được công bố bởi hai nhà kinh tế học là W.
Max Corden và J. Peter Neary vào năm 1982. Mô hình này dựa trên giả thiết rằng nền
kinh tế quốc dân được chia ra làm 2 khu vực: khu vực xuất khẩu (tradable sector) và khu
vực không xuất khẩu (non-tradable). Trong đó, khu vực xuất khẩu được chia làm 2 khu
vực nhỏ.
• Khu vực “bùng nổ” (booming sector) : khu vực khai thác tài nguyên
• Khu vực “trì trệ” (non-booming sector): khu vực chế tạo (manufacturing sector)

Direct Deindustrialise
Booming sector (1
st

tradable sector)
Non-tradable
sector
Non-Booming sector (2
nd

tradable sector)
Căn bệnh Hà Lan Trang 3
hóa gián tiếp (Indirect Reindustrialize). W. Max Corden và J. Peter Neary gọi đây là
hiệu ứng di chuyển nguồn lực của căn bệnh Hà Lan (resource movement effect).
Việc một lượng ngoại tệ đổ vào làm cho tỷ giá thực giảm điều đó có nghĩa là sức
mua của đồng nội tệ tăng hay giá hàng nội đắt hơn tương đối so với hàng cùng loại của
nước ngoài.
Và cũng chính điều này cũng góp phần vào việc làm cho khu vực sản xuất hàng xuất
khẩu suy thoái.Vì khi tỷ giá thực giảm làm cho các ngành sản xuất các mặt hàng này trở
nên kém cạnh tranh hơn so với nước ngoài, do các mặt hàng này đắt hơn các hàng cùng
loại của nước ngoài một cách tương đối. Khi có hiện tượng suy thoái xảy ra thì nhất
thiết các ngành sản xuất hàng xuất khẩu này sẽ giải phóng một số lượng vốn và lao
động. Tuy nhiên lượng vốn và lao động này không được hấp thụ hoàn toàn vào các
ngành thuộc khu vực ngoại thương – bùng nổ và khu vực phi ngoại thương. Bởi lẻ đã có
một lượng cầu hàng hoá của người tiêu dùng được đáp ứng bởi một lượng cung từ nước
ngoài, do khi tỷ giá giảm thì người tiêu dùng thấy mình giàu có hơn so với các mặt hàng
nhập khẩu và vì vậy người tiêu dùng sẽ tăng cầu hàng hoá này. Vậy tỷ giá thực giảm đã
làm góp phần di chuyển nguồn lực từ khu vực sản xuất hàng ngoại thương – không
bùng nổ sang khu vực ngoại thương bùng nổ và khu vực phi ngoại thương.
 Hiệu ứng tiêu dùng

Krugman, Ohyama, Helpman… và cả World Bank, IMF. Chúng ta có thể tham khảo bài
nghiên cứu và tổng hợp khá đầy đủ của O De Silva năm 1994.
Về cách phân chia nền kinh tế, mô hình 4 khu vực cũng chia tradable sector thành
khu vực có sự bùng nổ và khu vực không có sự bùng nổ. Điểm khác biệt là khu vực
nontradable cũng được chia thành khu vực sản xuất hàng tư bản và khu vực sản xuất
hàng tiêu dùng. Bên cạnh đó, thay vì nghiên cứu nông nghiệp như một khu vực đơn nhất
giống mô hình 2 khu vực, mô hình 4 khu vực xem khu vực nông nghiệp gồm khu vực
sản xuất nhằm xuất khẩu thu lợi nhuận (cash crops) và khu vực sản xuất lương thực tiêu
dùng trong nước (food crops) thay vì một khu vực đơn nhất.
Căn bệnh Hà Lan Trang 5
Hình 1.3 Mô hình 4 khu vực
2.2 Tác động
 Hiệu ứng di chuyển nguồn lực
Về cơ bản, mô hình 4 khu vực cũng thừa nhận tác động duy chuyển nguồn lực như
mô hình 2 khu vực. Tuy nhiên, do có sự phân chia khu vực chi tiết hơn, mô hình này
phân tích các tác động chi tiết hơn.
Cụ thể, đối với khu vực nông nghiệp, hiệu ứng duy chuyển nguồn lực chỉ ra rằng, do
đồng nội tệ tăng giá làm giảm sức cạnh tranh mà khu vực sản xuất xuất khẩu cash crops
sẽ bị thu hẹp lại trong lúc khu vực food crops lại có xu hướng được mở rộng hơn.
Nghiên cứu cụ thể của Benjamin, Devarajan và Weiner năm 1989 đã cho thấy rõ tác
động này. Đó là sự sụt giảm mạnh mẽ của cash crops trong khi food crops lại phản ứng
tích cực với sự bùng nổ của khai thác dầu ở Camoroon những năm 1979-1985.
THE ECONOMY
TRADABLE
SECTOR
NON-TRADABLE
SECTOR
BOOMING
SECTOR
Ex: Petroleum

phát hiện bị khai thác nhanh chóng, nguồn dự trữ hạn chế và nguồn lợi thương mại
không ổn định, các nhà hoạch định chính sách cần bảo vệ những ngành dễ bị ảnh hưởng
bằng cách can thiệp vào tỉ giá hối đoái. Thường thì chính phủ trong tình trạng đất nước
trưởng nóng do căn bệnh Hà Lan sẽ áp dụng chính sách tỷ giá cố định. Để dễ tìm hiểu
hơn chúng ta giả sử thị trường chỉ có hai nước Anh và Mĩ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status