Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh bắc ninh - Pdf 66

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ
HỘI

NGUYỄN VĂN PHÚC

BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI
TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH
SỰ

HÀ NỘI, 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN PHÚC

BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI
TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình
sự
Mã số: 8.38.01.04

1.6. Mối quan hệ giữa bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội với bảo đảm một
số nguyên tắc khác của luật tố tụng hình sự .......................................................35
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM NGUYÊN
TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VÀ THỰC
TRẠNG ÁP DỤNG TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM TẠI
BẮC NINH ...............................................................................................................41
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm nguyên tắc suy
đoán vô tội ..........................................................................................................41
2.2. Thực trạng việc bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong thực hiện
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh.....................................58
2.3. Những khó khăn, vướng mắc và những nguyên nhân tồn tại của việc
bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử vụ án hình sự sơ thẩm trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh .........................................................................................70
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM THỰC
HIỆN NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN
HÌNH SỰ SƠ THẨM TẠI ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH....................................75
3.1. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện một số quy định về suy đoán vô tội trong
xét xử sơ thẩm của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 .......................................75
3.2. Giải pháp tăng cường công tác phổ biến giáo dục và hướng dẫn áp
dụng Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự mới.........................................79
3.3. Các giải pháp khác.......................................................................................81
KẾT LUẬN ..............................................................................................................84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................86


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
B
L
T
T

a

a
Việ
n
Việ
n
Việ
n

qua

qua
Hội
đồn
Hiệ
u

hội


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc tiên tiến, cơ bản
được ứng dụng rộng rãi trong các nền khoa học pháp lý hiện đại. Ngày nay, nguyên
tắc suy đoán vô tội được nhiều Nhà nước coi là một trong những nguyên tắc quan
trọng của tố tụng hình sự, được đánh giá là thành tựu vĩ đại của văn minh pháp lý
trong việc bảo vệ quyền con người. Nó thể hiện ở việc nguyên tắc này đã được công
nhận trong tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc, đó là: “Bất kỳ người bị buộc tội

người tiến hành tố tụng không tuân thủ nguyên tắc dẫn đến việc không những
không phát hiện xử lý được tội phạm mà còn làm oan người vô tội. Đây là những
nguyên nhân chính của việc xâm phạm quyền công dân, chà đạp lên phẩm giá con
người trong hoạt động tố tụng. Nội dung nguyên tắc: “Suy đoán vô tội” về mặt hình
thức được quy định rất ngắn gọn (chỉ có 90 từ), nhưng hiểu như thế nào là đúng để
bảo đảm thực hiện nó trên thực tế mới là vấn đề mà cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng quan tâm. Đến nay, chưa có văn
bản nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn việc bảo đảm nguyên tắc
này trên thực tế. Vì vậy, việc nghiên cứu của tác giả nhằm xác định đầy đủ nội hàm
và cụ thể hóa đầy đủ chính xác nguyên tắc này trong BLTTHS, cũng như việc bảo
đảm thực hiện nguyên tắc này là vấn đề cấp thiết.
Mặc dù, chưa có vụ án thể hiện vi phạm nguyên tắc “suy đoán vô tội” một
cách rõ ràng, nhưng gần đã xuất hiện tình trạng Tòa án kết án oan người vô tội cụ
thể là vụ án ông Hàn Đức Long, TAND tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm đối với ông
Hàn Đức Long về các tội hiếp dâm trẻ em và tội giết người, ông Long đã bị tù oan
hơn 11 năm. Ông Huỳnh Văn Nén ở tỉnh Bình Thuận bị tù oan hơn 17 năm mới
được giải oan theo thủ tục tái thẩm, hay ông Nguyễn Thanh Chấn bị tù oan hơn 10
năm mới được minh oan theo thủ tục tái thẩm.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về “Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội
trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” là một công trình
có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn không chỉ ở địa bàn Bắc Ninh mà có
giá trị lý luận trên toàn lãnh thổ Việt Nam hiện nay. Đề tài nghiên cứu, một mặt góp
phần vào định hướng việc thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp, mặt khác giúp cho
các cơ quan tiến hành tố tụng là Tòa án cấp sơ thẩm tỉnh Bắc Ninh cũng như Tòa án
cấp sơ thẩm trên toàn quốc có cái nhìn đúng đắn hơn về nguyên tắc suy đoán vô tội
cũng như việc bảo đảm nguyên tắc này của Tòa án và người tiến hành tố tụng trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.


2. Tình hình nghiên cứu đề tài

luật và nhận thức về bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định trong Bộ


luật tố tụng hình sự và sự cụ thể hóa việc bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong
xét xử vụ án hình sự sơ thẩm nhìn từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, qua đó
chỉ ra những khó khăn vướng mắc và đề xuất một số ý kiến để nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội giai đoạn hiện nay.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu nhằm giải đáp 3 câu hỏi cơ bản sau:
- Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội được nhận thức dựa trên cơ sở lý luận
nào?
- Bộ luật tố tụng hình sự ghi nhận bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội theo
những nội dung nào?
- Cần làm gì để nâng cao hiệu quả trong việc bảo đảm nguyên tắc suy đoán
vô tội tại giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã được ghi nhận trong Bộ luật tố
tụng hình sự hiện hành?
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và
pháp luật; quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về
bảo vệ quyền con người nói chung và bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội nói riêng,
tác giả đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau để thực hiện luận văn:
- Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các vấn đề thuộc cơ sở lý
luận của bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội như: Khái niệm, đặc điểm, vai trò
nguyên tắc suy đoán vô tội; khái niệm, nội dung, các điều kiện bảo đảm nguyên tắc
suy đoán vô tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự…
- Phương pháp lịch sử, so sánh được sử dụng trong các nội dung nghiên cứu
về quá trình hình thành, phát triển của nguyên tắc suy đoán vô tội qua các Bộ luật tố
tụng hình sự các thời kỳ; vấn đề bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội theo pháp luật
các nước trên thế giới.

Chương 1: Lý luận về bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự.
Chương 2: Các quy định bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử sơ
thẩm và thực trạng áp dụng trong xét xử vụ án hình sự sơ thẩm tại Bắc Ninh.
Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động bảo đảm
nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử vụ án hình sự sơ thẩm tại địa bàn tỉnh Bắc
Ninh.


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI
TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội ở cấp xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự
Hiện nay trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một khái niệm chung
nhất về bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội ở cấp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Các khái niệm khóa học pháp lý hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về
nguyên tắc suy đoán vô tội, nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội. Do
đó, việc tìm hiểu và xây dựng khái niệm trên là rất cần thiết. Một mặt giúp các cơ
quan tiến hành tố tụng hiểu thế nào là bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội, bảo đảm
nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ đó có câu trả lời
tại sao phải bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và sự cần thiết phải bảo đảm quyền
của người bị buộc tội. Mặt khác, bổ sung thêm quan điểm khoa học về bảo đảm
nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử sơ thẩm. Trong nội hàm khái niệm bảo đảm
nguyên tắc suy đoán vô tội có một số nội dung chúng ta cần phải làm rõ: Xét xử sơ
thẩm là gì? Thế nào là hoạt động bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội? nguyên tắc
SĐVT. Sau lần lượt làm rõ các vấn đề trên chúng ra sẽ có một khái niệm chung về
bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Trước hết ta có thể thấy, xét xử sơ thẩm được coi là cấp xét xử thứ nhất được
tiến hành theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, trong đó Tòa án cấp sơ thẩm

nguyên tắc của TTHS là những chế định pháp lý, được thể hiện bởi những quy
phạm pháp luật TTHS, thể hiện bản chất của TTHS và mang tính định hướng cho
các hoạt động và hành vi TTHS.[16]
Theo PGS.TS Phạm Hồng Hải thì nguyên tắc TTHS là những quan điểm, tư
tưởng, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về quá trình giải quyết vụ án hình sự đã
được thể chế hóa trong BLTTHS mà các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng, các
cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi công dân phải tuân theo. Khi nguyên tắc được
quy định trong BLTTHS thì đó là nguyên tắc của TTHS... Nếu tư tưởng, quan điểm
nào đó là quan điểm, tư tưởng chủ đạo của Luật TTHS thì chúng cũng là nguyên tắc
của Luật TTHS. Ví dụ: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo là nguyên tắc của
TTHS và là nguyên tắc của Luật TTHS.[14]
Theo GS.TSKH Lê Cảm thì nguyên tắc của luật TTHS là tư tưởng chủ đạo,
định hướng cơ bản của hoạt động TTHS được thể hiện trong pháp luật TTHS, trong


việc giải thích và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS thông qua quy phạm hay chế
định của nó.[3]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chí thì "Luật tố tụng hình sự" là khái niệm để chỉ
tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự. "Luật tố tụng hình sự" là một phạm trù chủ quan, là
nhận thức hiện tượng khách quan của nhà làm luật. Vì vậy, những phương châm,
định hướng quan trọng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của quá trình TTHS,
quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS được gọi là các nguyên tắc cơ bản
của Luật TTHS.[4]
Từ việc nghiên cứu trên nhiều quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học
ta có thể hiểu về định nghĩa nguyên tắc suy đoán vô tội như sau: Nguyên tắc suy
đoán vô tội là một nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự Việt Nam, là tư
tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phát điểm, bảo đảm người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo không bị coi là có tội khi lỗi của họ chưa được cơ quan tiến hành tố tụng
chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và chưa có bản án kết tội

chế hóa cho phù hợp với Hiến pháp, tác giả Đoàn Thị Ngọc Hải đưa ra quan điểm
về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội bao gồm:
- Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực
pháp luật;
- Người bị tình nghi, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội
của mình. Nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến
hành tố tụng.
- Mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm của người bị tình nghi,
bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình
sự quy định thì phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo.[21]
Tác giả Lê Văn Sua với bài viết “Nguyên tắc suy đoán vô tội và vấn đề bảo
đảm thực thi trong hoạt động tụng hình sự” đã đưa ra quan điểm về nội dung
nguyên tắc suy đoán vô tội bao gồm:
- Không ai có thể bị coi là có tội khi tội phạm do họ thực hiện chưa được
chứng minh theo đúng các quy định của BLTTHS năm 2015 và chưa được xác định
bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.


- Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát; bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội.
- Bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra; cáo trạng của Viện
kiểm sát và bản án kết tội của Tòa án phải dựa trên các chứng cứ khẳng định chắc
chắn về hành vi khách quan, mối quan hệ nhân – quả, lỗi của người bị buộc tội
trong việc thực hiện tội phạm cụ thể. [17]
Tác giả Minh Thảo trong bài viết Nguyên tắc SĐVT trong Hiến pháp năm
2013 và việc thể chế hóa nguyên tắc này trong BLTTHS để phù hợp với tinh thần
của Hiến pháp mới cho rằng nguyên tắc suy đoán vô tội có nội dung gồm:
- Không ai có thể bị coi là có tội khi tội phạm do họ thực hiện chưa được
chứng minh theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và chưa
được xác định bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của tòa.

định ngoài điều kiện có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật - là điều
kiện được tất cả các tác giả thừa nhận.
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra khi nghiên cứu về nội dung
nguyên tắc suy đoán vô tội, nhưng qua nghiên cứu, tổng hợp, tác giả luận văn cho
rằng nguyên tắc suy đoán vô tội và bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội được thể
hiện ở những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, Bảo đảm người bị buộc tội được suy đoán vô tội cho đến khi
được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án có hiệu
lực pháp luật.
Người bị buộc tội có quyền được suy đoán vô tội. Điều đó nghĩa là tuy đang
bị buộc tội, đã tham gia vào tố tụng, chịu sự hạn chế nhất định về quyền tự do cá
nhân theo quy định của pháp luật nhưng người bị buộc tội vẫn có quyền được coi
như không phạm tội cho đến khi bản án kết tội của toà án có hiệu lực pháp luật.
Khác với các quan điểm của các tác giả Đoàn Thị Ngọc Hải, Lê Văn Sua,
Minh Thảo và tác giả Nguyễn Thành Long khi sử dụng các cụm từ: Ai, người bị
tình nghi, bị can, bị cáo, người bị tạm giữ.... tác giả luận văn cho rằng việc sử dụng
thuật ngữ người bị buộc tội là phù hợp và bao quát tất cả các trường hợp. Nguyên
tắc suy đoán vô tội cần được áp dụng ngay khi bắt đầu có sự buộc tội từ phía các cơ
quan tiến hành tố tụng, vì vậy, việc sử dụng thuật ngữ người bị buộc tội mới có thể
bao quát được tất cả các trường hợp, tất cả các chủ thể cần được suy đoán vô tội.
Khi nghiên cứu về nguyên tắc suy đoán vô tội, việc đưa ra nội dung nguyên tắc cần


bảo đảm tính ổn định, tính nghiên cứu, việc sử dụng thuật ngữ cần bảo đảm tính
bao quát, phù hợp với sự thay đổi của pháp luật thực định. Vì vậy, việc sử dụng
thuật ngữ “người bị buộc tội” đáp ứng yêu cầu của việc nghiên cứu khoa học.
Pháp luật tố tụng hình sự có thể thay đổi theo đó, các thuật ngữ pháp lý trong
lĩnh vực tố tụng hình sự về chủ thể được suy đoán vô tội có thể thay đổi, ví dụ như:
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về chủ thể được suy đoán vô tội là
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về chủ

hình sự và đưa ra các quyết định tố tụng. Người có thẩm quyền buộc tội không
được đối xử với người bị buộc tội theo định kiến rằng họ là người phạm tội mà
ngược lại, vẫn phải tôn trọng và bảo đảm các quyền của người bị buộc tội. Mọi sự
cưỡng chế, hạn chế, ngăn chặn được áp dụng đối với người bị buộc tội trong tố
tụng hình sự đều phải dựa trên cơ sở cần thiết theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai, Bảo đảm trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến
hành tố tụng, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình
vô tội.
Cùng với việc khẳng định một người không thể bị coi là có tội khi chưa có
bản án kết tội của tòa án có hiệu lực pháp luật thì cũng có nghĩa thừa nhận người bị
buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình. Để xác định một
người là người phạm tội, trên cơ sở đó truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự, các
cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) phải chứng
minh được người đó là người thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm. Nếu
không chứng minh được một người đã thực hiện tội phạm thì không thể kết tội
người đó. Trên thực tế, có thể một người đã thực hiện tội phạm tức là về khách
quan, họ là người phạm tội, nhưng nếu không chứng minh được người đó đã thực
hiện hành vi được luật hình sự coi là tội phạm, thì các cơ quan tiến hành tố tụng
cũng không thể truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó. Chứng
minh tội phạm là một quá trình diễn ra ở cả giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố và
giai đoạn xét xử. Quyền và trách nhiệm chứng minh tội phạm không chỉ thuộc về
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà còn thuộc về Tòa án. Tại phiên tòa, Tòa án
tham gia vào việc xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng, áp dụng những
biện pháp do pháp luật quy định để chứng minh làm rõ bị cáo phạm tội hay không
phạm tội; nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự để


đưa ra phán quyết, kết tội, quyết định hình phạt đối với họ. Vì vậy, trách nhiệm
chứng minh tội phạm cũng thuộc về Tòa án.
Với việc xác định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến

tồn tại mặc dù các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng tất cả các biện pháp cần
thiết mà pháp luật quy định. Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải
dựa trên những chứng cứ xác thực, không còn nghi ngờ. Mọi sự nghi ngờ đối với
người bị buộc tội đều phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ. Nếu không chứng
minh làm rõ được sự nghi ngờ thì sự nghi ngờ đó phải được giải thích theo hướng
có lợi cho họ. Nội dung này của nguyên tắc suy đoán vô tội thể hiện sự nhân đạo
của pháp luật đối với người bị buộc tội.
Thứ tư, Bảo đảm bản án kết tội của tòa án không được dựa trên những giả
định.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, giả định được hiểu là việc “đưa ra một khả năng
như có thật”.[26-tr.722]. Như vậy, giả định cũng có thể là có thật cũng có thể là
không có thật. Trong hoạt động điều tra, chứng minh tội phạm giả định là cần thiết
và cũng thường được sử dụng để tìm ra sự thật khách quan của vụ án hình sự. Tuy
nhiên, giả định không được sử dụng làm cơ sở để đưa ra bản án kết tội vì bản án
hình sự là văn bản pháp lý thể hiện kết quả áp dụng pháp luật về xét xử vụ án hình
sự của Tòa án, là một nội dung rất quan trọng của hoạt động xét xử. Bản án kết tội
của Tòa án đúng pháp luật, công bằng là tiền đề cho mục đích của hình phạt.
Bản án kết tội được tuyên đối với bị cáo phải bảo đảm tính xác định, có căn
cứ, tính hợp lý và không thể dựa trên những giả định, chưa được kiểm chứng. Khi
ra bản án buộc tội, phải trên cơ sở các chứng cứ có trong vụ án làm căn cứ, nhưng
những chứng cứ đó phải được kiểm tra, đánh giá một cách tổng thể và công khai
trong quá trình xét xử, dựa trên những thông tin có thật, đã được kiểm chứng mà
không dựa trên những thông tin có tính giả định.
Bốn nội dung trên của bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội có mối quan hệ
biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau, thiếu một trong bốn nội
dung thì bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ không được nhận thức đầy đủ. Với
các nội dung của bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội được phân tích ở trên thì
Hiến pháp không quy định cụ thể nhưng để bảo vệ quyền con người nói chung và
quyền của người bị buộc tội, Hiến pháp đã hiến định những tư tưởng, định hướng
có tính nền tảng cho cả hệ thống pháp luật cũng như tổ chức và hoạt động của bộ

Quan điểm thứ hai cho rằng, bảo đảm nguyên tắc SĐVT được áp dụng đối
với tất cả các giai đoạn của quá trình TTHS và trong một số trường hợp nhất định


nguyên tắc này còn được áp dụng đối với cả giai đoạn tiền tố tụng trong trường hợp
bắt giữ người bị tình nghi.[9]
Quan điểm thứ ba đồng tình với quan điểm thứ hai nhưng cho rằng, bảo đảm
nguyên tắc này còn được áp dụng cả khi bản án của Tòa án đã có HLPL trong
trường hợp bản án kết tội bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.[10]
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba về phạm vi bảo đảm nguyên tắc suy
đoán với lý do sau:
Thứ nhất, về mặt lý luận, quá trình TTHS được phân thành các giai đoạn
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Khi một người bị khởi tố với tư cách
là bị can cũng có nghĩa là họ chính thức bị buộc tội. Vì vậy, từ thời điểm này và
trong các giai đoạn tiếp theo (điều tra, truy tố, xét xử) cho đến khi bản án kết tội có
HLPL với tư cách là bị can, bị cáo, họ luôn có quyền được SĐVT.
Thứ hai, trong trường hợp người bị tình nghi bị bắt, tạm giữ, mặc dù chưa
văn bản tố tụng chính thức buộc tội nhưng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế và hạn
chế một số quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì ở mức độ nhất định đã thể hiện sự
buộc tội. Vì vậy, pháp luật cũng coi người bị tình nghi là người bị buộc tội và từ
thời điểm bị bắt, tạm giữ họ đương nhiên có quyền được SĐVT và cơ quan tố tụng
có trách nhiệm coi họ là người không có tội trong suốt quá trình TTHS cho đến khi
có bản án kết tội có HLPL.[25]
Thứ ba, khi bản án kết tội có HLPL có nghĩa là tội phạm đã được chứng
minh và người bị kết án chính thức bị coi là có tội và phải thi hành bản án. Tuy
nhiên, theo quy định của BLTTHS, thì bản án đã có HLPL có thể bị kháng nghị và
được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm (khoản 2 Điều 20). Tác
giả cho rằng trong trường hợp này người bị kết án vẫn được áp dụng nguyên tắc với
lý do sau để chấm dứt áp dụng nguyên tắc SĐVT phải có đồng thời cả hai điều kiện
(cần và đủ): 1) Tội phạm được chứng minh theo trình tự luật định; 2) Có bản án kết

nguyên tắc SĐVT, thì "người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được
chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật". Yêu cầu này của nguyên tắc SĐVT là bắt buộc không chỉ đối với các
chủ thể tiến hành tố tụng mà cả đối với các chủ thể khác (cơ quan, tổ chức, báo chí,
truyền thông...). Mọi hình thức thể hiện về sự có tội đối với người bị buộc tội của
bất kỳ cơ quan, tổ chức nào trước khi có bản án kết tội của Tòa án có HLPL đều là vi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status