VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 475 (Kì 1 - 4/2020), tr 59-64
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON, TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
Nguyễn Thị Hồng Vân+,
Hoàng Thị Vân
Trường Cao đẳng Sơn La
+ tác giả liên hệ ● Email:
Article History
Received: 05/02/2020
Accepted: 25/02/2020
Published: 05/4/2020
ABSTRACT
Self-study competency is a factor that directly affects students’ learning
results, as well as the teaching of lecturers. Students’ self- study is essential
because it will help students to be self-aware of the learning tasks and be ready
to study, contributing to improve the learning quality of students, such as
improve the effectiveness of preschool teacher training, meeting the training
curriculum innovation towards approaching learners' competencies and the
needs of society today.
Keywords
Competency, self-learning,
solution, Son La College,
preschool teacher training.
Học tập là việc SV tiếp thu kiến thức dưới sự hướng dẫn của GV và SV phải ý thức được rằng bản thân cần
học tập, tìm tòi, suy nghĩ thêm để hiểu rõ và mở rộng các kiến thức đã thu thập được. Bên cạnh mục đích học tập,
SV còn phải có tinh thần thái độ học tập đúng đắn, học đi đôi với hành, học ở nhà trường, học ngoài xã hội. Chính
vì thế, việc định hướng cho SV cách học tập và rèn luyện để trở thành những giáo viên mầm non có NL sau này
là điều hết sức quan trọng và thiết thực.
59
VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 475 (Kì 1 - 4/2020), tr 59-64
Qua khảo sát cho thấy, đa số SV cho rằng học tập là việc rất cần thiết và quan trọng không thể thiếu được trong
nhà trường, đặc biệt là ngành Giáo dục mầm non: có 168 SV được hỏi cho rằng việc học tập là rất cần thiết (chiếm
tỉ lệ 85,3%); 29 SV khẳng định là cần thiết (chiếm tỉ lệ 14,7%); đặc biệt không có SV nào cho rằng việc học tập
là ít cần thiết và không cần thiết. Điều đó chứng tỏ rằng, SV đều nhận thức được kết quả học tập là những kiến
thức gắn liền với nghề nghiệp của mình sau này. Đây cũng chính là động lực thúc đẩy GV nghiên cứu, tìm tòi,
vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực theo hướng tiếp cận NL cho SV ngành Giáo dục mầm non
để nâng cao chất lượng giáo dục.
Bên cạnh một số SV có tinh thần, thái độ, kĩ năng học tập tốt, vẫn còn khá nhiều SV ý thức học tập chưa cao,
chán học, lười học, chưa có khả năng TH; chưa chủ động tìm tòi sách, tài liệu phục vụ cho chuyên môn của mình;
không có thói quen đọc giáo trình và các tài liệu liên quan đến môn học đó khi ở nhà, dẫn đến thực trạng thụ động
trong học tập. Kết quả khảo sát cũng cho thấy: có 59,9% SV có sự hứng thú trong học tập, 49,3% SV có ý thức
TH, 33% SV đã có sự chủ động tìm tòi sách, tài liệu phục vụ cho chuyên môn của mình; 26,9% SV nghiên cứu
trước nội dung bài học. Tuy nhiên, tỉ lệ SV tích cực, chủ động cao nhất ở nhóm SV năm thứ ba, tiếp đến là nhóm
SV năm thứ hai và thấp nhất là ở nhóm SV năm thứ nhất. Có thể lí giải cho điều này là do SV năm thứ ba và năm
thứ hai đã bắt đầu học các môn chuyên ngành nên các em ý thức rất rõ về những kiến thức kĩ năng cần đạt được
để có thể đảm nhiệm tốt nhiệm vụ của mình sau khi tốt nghiệp đi làm, đồng thời các em đã đi thực tập và tích lũy
cho mình những kinh nghiệm học tập phù hợp. Hơn nữa, các môn chuyên ngành thường gần gũi với sở thích,
này không chỉ đơn giản là sử dụng các công cụ trợ giúp giảng dạy như máy tính, máy chiếu, như một số GV vẫn
quan niệm như vậy đã đủ để SV hứng thú, tích cực học .
- Thứ ba, phong trào học tập trong tập thể SV có tác động trực tiếp kích thích tính tích cực của mỗi SV. Tuy
nhiên, mỗi người sẽ có sở thích và cách học tập riêng của mình. Mỗi người đều có thể lựa chọn cách TH một mình
60
VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 475 (Kì 1 - 4/2020), tr 59-64
hoặc học theo nhóm. Cách học nào cũng có những ưu, khuyết điểm của nó nên cần lựa chọn một cách thông minh
và cân bằng giữa cả hai kiểu học này để phát huy và khắc phục ưu nhược điểm của chúng, đồng thời phải luôn nỗ
lực cố gắng học tập cho bằng bạn bè để đem lại kết quả học tập tốt hơn.
- Thứ tư, vấn đề đánh giá kết quả học tập của SV cũng hết sức quan trọng, bởi nó là khâu cuối cùng không
những đánh giá độ tin cậy kết quả học tập của quá trình dạy và học mà còn có tác dụng điều tiết trở lại quá trình
đào tạo. Việc đánh giá kết quả học tập của SV chính xác, khách quan, chân thực với nội dung và hình thức, phù
hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo sẽ có tác dụng trực tiếp tới SV, là động lực khích lệ, thúc đẩy không khí thi đua
sôi nổi, ý thức trách nhiệm và tinh thần tự giác, chủ động TH, tự rèn và sự tìm tòi sáng tạo không ngừng của SV,
từ đó giúp SV tìm ra nguyên nhân và giải pháp để việc học tập có hiệu quả.
- Thứ năm, sự quan tâm của gia đình có vai trò rất lớn trong việc định hướng phát triển của mỗi cá nhân. Thực
tế, nếu có sự quan tâm, chia sẻ về mặt tinh thần và cả vật chất từ phía gia đình sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho
SV trong học tập. Một gia đình vui vẻ, đầm ấm, hạnh phúc, cha mẹ quan tâm tới việc học của con là động lực tinh
thần giúp SV dù phải sống xa gia đình nhưng vẫn tập trung vào việc học để đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó, gia
đình có kinh tế đảm bảo sẽ giúp cho SV những cơ sở vật chất đầy đủ, thuận lợi cho việc học, SV sẽ không bị chi
phối khi phải san sẻ thời gian học tập của mình để đi làm kinh tế đảm bảo cho cuộc sống của mình. Do đó, khi gia
đình là điểm tựa vững chắc cho con cái sẽ tạo tâm lí thoải mái, giúp SV có động lực học tập tốt hơn.
2.2.2.2. Các yếu tố chủ quan
- Thứ nhất, SV phải xác định được mục đích học tập của bản thân. Khi đăng kí vào học chuyên ngành đào tạo
vươn lên đáp ứng những nhu cầu mới.
- SV phải thông hiểu bản thân mình sau những tuần học đầu tiên: xem xét mình có những phẩm chất gì cần
bồi dưỡng khi làm giáo viên mầm non, khả năng TH theo tín chỉ như thế nào? Phương pháp học tập tại thư viện,
61
VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 475 (Kì 1 - 4/2020), tr 59-64
sự mạnh dạn chủ động trong học tập ra sao… Tự khám phá ra điểm mạnh và sở thích của bản thân, tìm thấy điều
bản thân say mê trong môn học và biến việc học thành điều mình thích, chứ không chỉ là nghĩa vụ.
- SV phải tự xây dựng cho mình một kế hoạch rõ ràng và chi tiết để phân bổ thời gian sao cho hợp lí giữa các
môn học, địa điểm, thời gian, hình thức TH, đặc biệt là vào các thời điểm như kiểm tra hay thi cử. SV có thể sắp
xếp thời gian học phù hợp với mình nhất, học bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu mà bản thân thấy tiện lợi và hứng thú.
Bên cạnh đó, việc đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành tốt kế hoạch mà bản thân đã đề ra trước đó sẽ giúp SV biết
mình cần phải học vì cái gì, những kiến thức đó sẽ được áp dụng ra sao và đem lại kết quả gì. Khi đó, SV sẽ hào
hứng và chủ động trong việc học tập để có đủ kiến thức đạt mục tiêu đã đề ra.
- Lập kế hoạch TH một cách khoa học và hợp lí: tra cứu tài liệu, đọc hiểu tài liệu, tổng hợp nội dung tra cứu
được, liên kết các kiến thức bằng sơ đồ tư duy hoặc viết tóm tắt nội dung kiến thức. Việc sử dụng sơ đồ tư duy,
viết tóm tắt và ghi nhớ các ý chính của bài học sẽ giúp SV có thể tận dụng tối đa khả năng ghi nhận kiến thức
bằng hình ảnh của bộ não, đây được xem là một trong những phương pháp TH hiệu quả nhất.
- SV cần chủ động tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau: Trên các trang mạng xã hội chính thống, trên
Internet, sự chia sẻ kiến thức khi tham gia học tập theo nhóm, xin ý kiến chuyên gia… Việc làm này sẽ giúp kho
tri thức của SV đa dạng hơn, đồng thời có thể tiếp cận một vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau, từ đó đưa ra được
những phân tích, lập luận và chính kiến của riêng mình. Khi bản thân đã có được một phương pháp hay cộng thêm
sự kiên trì và cố gắng thì sẽ đạt được kết quả tốt trong học tập.
- Tìm phương pháp TH phù hợp với bản thân: Có thể bắt đầu học bất cứ lúc nào bản thân mình muốn và tự
nhủ phải cố gắng phấn đấu, phải “tập trung học” và làm ngay theo để rèn thói quen TH cho bản thân kết hợp với
và kiểu học tập khác nhau. Do vậy, SV cần có cơ hội để thể hiện tài năng riêng của họ và được học theo cách hữu
hiệu nhất với mỗi người rồi sau đó mới học theo cách học mới. Chẳng hạn, mỗi SV đều có phương pháp ghi chép
62
VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 475 (Kì 1 - 4/2020), tr 59-64
riêng, nhưng GV cũng cần hướng dẫn SV về các vấn đề như: viết thông tin có trong tài liệu bắt buộc và tài liệu
tham khảo như thế nào cho ngắn gọn, dễ hiểu để trên lớp bản thân SV tự tin phát biểu những thông tin đã tìm hiểu
được khi cùng trao đổi với GV.
- Khuyến khích SV TH kết hợp với học theo nhóm:
Học theo nhóm sẽ giúp bản thân SV phát huy được mặt mạnh và cải thiện mặt còn chưa mạnh, đồng thời rèn
luyện tư duy phản biện và góp phần lấp đầy lỗ hổng kiến thức cho các thành viên trong nhóm. Nhưng học theo nhóm
lại có hạn chế là giảm sự linh động về mặt thời gian, do phải phụ thuộc vào các thành viên khác, dễ bị phân tâm, chi
phối bởi môi trường xung quanh. Bên cạnh đó, một số thành viên trong nhóm thường ỉ lại vào những người nhiệt
tình, học tốt nên vào nhóm học cho có lệ và tránh bị cô lập nên kết quả học nhóm đôi khi không hiệu quả.
Nhìn chung, TH một mình hay học theo nhóm đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Điều quan trọng
là SV phải xác định những yêu cầu phù hợp với bản thân như: thời gian, khả năng và mục tiêu của chính mình.
Bản thân mỗi SV cần lựa chọn một cách thông minh và cân bằng giữa TH và học theo nhóm để phát huy và khắc
phục ưu, nhược điểm của các cách học đó nhằm đem lại kết quả học tập tốt hơn.
- Hỗ trợ SV trong hoạt động thực hành để SV rèn luyện các kĩ năng trong đó có kĩ năng TH:
+ Khuyến khích SV tự rèn kĩ năng nghề vào thời gian ngoài giờ học chính khóa, nếu gặp khó khăn trong quá
trình TH thì trao đổi ngay với GV để GV hỗ trợ kịp thời.
+ Khuyến khích SV chủ động đi thực tế ở trường mầm non.
+ Khuyến khích SV báo cáo nội dung TH của mình qua video thực hành bài học (tập giảng, tập vệ sinh cá
nhân trẻ, xây dựng thực đơn...) và gửi cho GV để xin ý kiến nhận xét. Từ đó tự rút ra những bài học kinh nghiệm,
khắc phục những mặt còn hạn chế.
63
VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 475 (Kì 1 - 4/2020), tr 59-64
2.3.4. Giảng viên tăng cường đổi mới phương pháp dạy học
- Thiết kế bài giảng hướng sự TH của SV thông qua nội dung bài với những thông tin nhất định giúp SV tiếp thu
thông tin được chủ động hơn, SV sẽ hứng thú hơn và học được nhiều hơn. Muốn vậy, GV phải có kiến thức sâu rộng
và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn minh họa cho nội dung bài giảng. GV cần đặt ra những câu hỏi, những tình huống
cần phải giải quyết nhằm giúp SV áp dụng lí thuyết và kiến thức học được để ra giải quyết vấn đề. GV phân tích tình
huống đặt ra để SV biết cách áp dụng những gì đã học vào thực tế công tác sau này. Bài giảng khi thiết kế cũng cần
hướng tới các NL SV cần được hình thành, phải chú ý tới khả năng nhận thức của từng đối tượng SV.
- Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học: Các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm
thoại, luyện tập luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học. Tuy nhiên, các phương pháp này cũng có
những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống, GV cần phối hợp đa dạng các
phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực và
sáng tạo của người học.
- Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề: Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích
cực nhận thức của người học, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau
của SV. Muốn giải quyết được vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn ở trên lớp học thì bắt buộc SV phải
tăng cường hoạt động TH qua nghiên cứu các tài liệu bắt buộc và các nguồn tài liệu tham khảo để hoàn thành
nhiệm vụ học tập.
- Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lí hỗ trợ dạy học:
GV có thể dùng máy tính để chuẩn bị bài giảng, nội dung giảng dạy… và chỉnh sửa, bổ sung, cập nhật thông
tin cho bài giảng luôn mới, luôn phong phú và sinh động; kết hợp sử dụng máy tính và máy chiếu trên tiết học sẽ
hỗ trợ hiệu quả cho GV trong quá trình tổ chức các hoạt động nhận thức cho SV, giúp cho quá trình dạy học được
sinh động, thuận tiện, chính xác; rút ngắn thời gian giảng dạy mà vẫn bảo đảm cho SV lĩnh hội đủ nội dung học
tập một cách vững chắc; giảm nhẹ cường độ lao động của GV, nâng cao hiệu quả dạy học. Bên cạnh đó, GV có