BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------
ĐÀO NHẬT MINH
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI ÍCH KẾ TOÁN TRONG GIAI
ĐOẠN SAU TRIỂN KHAI HỆ THỐNG HOẠCH ĐỊNH NGUỒN LỰC
DOANH NGHIỆP (ERP) TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : KẾ TOÁN
MÃ SỐ
: 9340301
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2020
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Võ Văn Nhị
2. PGS. TS. Trần Thị Cẩm Thanh
Phản biện 1: ..........................................................................................................
Phản biện 2: ...........................................................................................................
Phản biện 3: ...........................................................................................................
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại: ................
đến biến phụ thuộc khác. Còn tại Việt Nam thì cũng đã xuất hiện một số nghiên cứu có đề cập LI kế
toán trong hệ thống ERP. Tuy nhiên, cũng như các nghiên cứu trên thế giới, các nghiên cứu tại Việt Nam
không tập trung tìm hiểu biến LI kế toán mà xem nó như là biến độc lập tác động đến một số biến phụ
thuộc khác như: kết quả công việc của người dùng hệ thống ERP (Phạm Trà Lam, 2018); hay năng lực
phản ứng của DN, hiệu quả hoạt động của DN (Bùi Quang Hùng, 2019).... và các nghiên cứu tại Việt
Nam thường chưa chú trọng đến các giai đoạn trong vòng đời của hệ thống ERP khi thực hiện tìm hiểu
về các vấn đề của hệ thống ERP.
Một vấn đề khác cần xem xét, đó là trong bối cảnh công nghệ thông tin đang thay đổi liên tục như
hiện nay, liệu rằng nếu DN ứng dụng các tiến bộ công nghệ mới nhất như: công nghệ điện toán đám
mây, trí tuệ nhân tạo, Blockchain...vào hệ thống ERP trong giai đoạn sau triển khai thì những tiến bộ
này có giúp DN nâng cao LI kế toán mà hệ thống ERP đem lại cho DN hay không? Hay chỉ cần duy trì
hệ thống ERP vốn có là đủ?
Từ tầm quan trọng của vấn đề về mặt thực tiễn, từ chỗ còn ít nghiên cứu về vấn đề này; vấn đề này
còn mới và là khoảng trống trong nghiên cứu tại môi trường Việt Nam và thế giới, tác giả đã quyết định
chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích kế toán trong giai đoạn sau triển khai hệ thống
hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
luận án.
2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định các nhân tố ở giai đoạn sau triển khai và mức độ ảnh hưởng
của chúng đến LI kế toán hệ thống ERP mang lại cho các DN Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát, có hai mục tiêu cụ thể cần được thực hiện trong luận án:
4
- Xác định các nhân tố ở giai đoạn sau triển khai ảnh hưởng đến các LI kế toán trong hệ thống ERP
tại các DN Việt Nam.
- Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố ở giai đoạn sau triển khai ảnh hưởng đến các LI kế toán
trong hệ thống ERP tại các DN Việt Nam.
nghiên cứu trước đây. Đồng thời, luận án đã hoàn thiện thang đo các nhân tố liên quan trong đề tài cho
phù hợp điều kiện đặc thù của các DN Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các DN Việt Nam nhận ra đâu là các nhân
tố cần chú ý để có thể duy trì, nâng cao các LI kế toán hệ thống ERP đem lại cho DN trong giai đoạn
sau triển khai. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là một tham khảo rất có giá trị đối với các
nhân viên tư vấn, triển khai ERP trong việc xây dựng, tập huấn sử dụng hệ thống và nó cũng giúp các
nhà nghiên cứu, giảng dạy xây dựng chương trình và nội dung đào tạo liên quan ERP phù hợp và chất
lượng hơn.
6. Kết cấu của luận án
Kết cấu của đề tài gồm 5 chương như sau:
- Chương 1. Tổng quan nghiên cứu.
5
- Chương 2. Cơ sở lý thuyết.
- Chương 3. Phương pháp nghiên cứu.
- Chương 4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận.
- Chương 5. Kết luận và hàm ý.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu
Để có cái nhìn toàn cảnh về các nghiên cứu trong lĩnh vực ERP, tác giả sẽ trình bày hai nghiên cứu
tổng quan về tình hình ERP mà sử dụng phương pháp meta - analysis. Dựa vào 2 nghiên cứu này tác giả
sẽ làm rõ các xu hướng trong nghiên cứu về ERP hiện nay và các hướng nghiên cứu cần thực hiện trong
tương lai ở lĩnh vực này. Trước đó, các giai đoạn vòng đời của hệ thống ERP sẽ được đề cập để giúp
người đọc hình dung các vấn đề được trình bày.
Vòng đời của hệ thống ERP gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn trước khi triển khai hệ thống đề cập đến hoạt
động quyết định chấp nhận hệ thống và mua sắm; Giai đoạn triển khai hệ thống bao gồm việc tùy biến,
điều chỉnh hệ thống để giúp hệ thống ERP mua về phù hợp với yêu cầu của DN và đưa hệ thống vào
hoạt động; Và cuối cùng là giai đoạn sau triển khai đề cập đến hoạt động sử dụng và bảo trì hệ thống,
hoạt động đổi mới và kết thúc cũng thuộc giai đoạn này (Esteves và Pastor, 1999). Trong luận án, khi đề
LI hệ thống ERP mang lại cho kế toán trong DN gồm có 2 hướng nghiên cứu: (a) tìm kiếm các LI kế
toán cụ thể mà hệ thống ERP đem lại cho DN, (b) xem xét việc triển khai hệ thống ERP có đem lại sự
thay đổi tích cực trong việc thực hành kế toán như việc áp dụng các kỹ thuật kế toán quản trị tiên tiến
cũng như vai trò người kế toán trong hệ thống ERP có bị thay đổi hay không?
Các nghiên cứu về các LI kế toán cụ thể mà hệ thống ERP đem lại cho DN thì nổi bật nhất là công
trình của Kanellou và Spathis (2013). Trước đó, đã có một số nghiên cứu khác xem xét các LI kế toán
DN đạt được trong hệ thống ERP. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa xây dựng được một thang đo kế toán
hoàn thiện như Kanellou và Spathis (2013), chẳng hạn: Spathis và Constantinides (2004), Spathis và
Ananiadis (2005), Colmenares (2009)...
Hướng nghiên cứu tìm hiểu việc thực hiện ERP có đem lại sự thay đổi tích cực trong việc thực hành
kế toán và vai trò người kế toán hay không được nhiều học giả quan tâm. Tuy nhiên, kết quả về sự thay
đổi trong việc thực hành kế toán do sự tác động bởi ERP thực sự chưa rõ ràng. Nhiều nghiên cứu cho
thấy thực hiện các hệ thống tích hợp như ERP không đem lại sự thay đổi nào trong thực hành kế toán
như việc vận dụng các phương pháp kế toán quản trị tiên tiến: Booth và cộng sự (2000), Granlund và
Malmi (2002), Hyvönen (2003), Despina Galani và cộng sự (2010). Ngược lại, một số tác giả khác lại
cho thấy có sự tác động của các hệ thống thông tin tích hợp như hệ thống ERP đến thực hành kế toán
quản trị: Rom và Rohde (2006), Granlund (2011), Steve G. Suton (2006), Järvenpää (2007), Grabski và
cộng sự (2011), Solmat Abbasi và cộng sự (2014). Như vậy, có thể thấy hệ thống ERP và việc thực hành
kế toán chẳng hạn như áp dụng các kỹ thuật kế toán quản trị mới có tương quan với nhau, nhưng chưa
đủ bằng chứng kết luận mức độ tương quan của chúng (Aernoudts và cộng sự, 2005). Về vai trò của
nhân viên kế toán trong môi trường hệ thống hoạch định nguồn lực DN, thì tất cả các nghiên cứu đều
xác nhận thực hiện ERP sẽ làm thay đổi vai trò người kế toán: Mike Newman và Chris Westrup (2005),
Scapens và Jazayeri (2003), Hsueh-Ju Chen và cộng sự (2011), Caglio (2003), Sayed (2006).
1.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố tác động đến các LI kế toán mà hệ thống ERP đem
lại cho DN
Các nghiên cứu nước ngoài thường tìm hiểu các vấn đề về LI kế toán chung trong các nghiên
cứu về LI ERP đem lại cho DN. Do đó, số lượng nghiên cứu về LI kế toán trong hệ thống ERP rất ít. Vì
vậy, trong phần tổng quan này, ngoài các nghiên cứu đề cập trực tiếp đến các nhân tố tác động LI kế
toán trong hệ thống ERP, thì các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến LI DN trong hệ thống ERP;
các nhân tố tác động đến hiệu quả ERP; giá trị ERP đem đến cho DN, hay các nhân tố tác động hệ thống
1.3.2 Các nghiên cứu về kế toán trong hệ thống ERP
Nghiên cứu mở đầu cho trào lưu này là luận án tiến sỹ của Nguyễn Bích Liên (2012). Bên cạnh đó,
một số tác giả kết hợp giữa nghiên cứu về hành vi và nghiên cứu về kế toán trong hệ thống ERP: Phạm
Trà Lam (2018), Lương Đức Thuận (2019). Một số nghiên cứu khác: Nguyễn Phước Bảo Ấn (2018),
Bùi Quang Hùng (2019).
1.4 Khe hổng nghiên cứu và định hướng nghiên cứu
Các khe hổng nghiên cứu cụ thể như sau:
- Trên thế giới, các nghiên cứu về hệ thống ERP ở giai đoạn sau triển khai còn rất hạn chế, còn tại
Việt Nam các nghiên cứu về ERP hầu như không làm rõ giai đoạn trong vòng đời hệ thống ERP khi thực
hiện nghiên cứu. Đa số các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới đều tập trung vào giai đoạn triển
khai hệ thống.
- Các nghiên cứu về LI tổng thể ERP đem lại cho DN đã được thực hiện rất nhiều. Trong khi đó, các
nghiên cứu về các LI đặc thù như LI kế toán ERP đem lại cho DN thường ít được đề cập.
- Dựa vào phần tổng quan, có thể thấy nhiều tác giả cho rằng chưa đủ các bằng chứng kết luận về
mối quan hệ giữa hệ thống ERP và việc thực hành kế toán chẳng hạn việc áp dụng các kỹ thuật kế toán
quản trị tiên tiến.
- Liên quan trực tiếp tới hướng nghiên cứu của đề tài thì tác giả chưa tìm thấy một nghiên cứu nào
xem xét các nhân tố ở giai đoạn sau triển khai tác động đến LI kế toán ERP đem lại cho DN.
- LI kế toán ERP đem lại cho DN là một LI đặc thù, chưa có bằng chứng cho thấy rằng các LI kế
toán ERP đem lại cho DN cũng sẽ bị điều chỉnh bởi các nhân tố tác động đến LI tổng thể ERP; hiệu quả,
giá trị ERP mang lại cho DN hay hệ thống thông tin kế toán trong hệ thống ERP. Vì vậy, việc kiểm tra
xem liệu những nhân tố này có thực sự tác động đến các LI kế toán trong hệ thống ERP hay không là
một điều cần thiết.
8
- Các nghiên cứu chỉ mới quan tâm các hành vi biểu hiện của nhân viên trong DN sử dụng ERP mà
chưa tìm hiểu tại sao họ lại có các biểu hiện như vậy.
- Số lượng các nghiên cứu về ERP tại Việt Nam còn hạn chế, nhất là trong lĩnh vực kế toán.
Do đó, hướng nghiên cứu của luận án sẽ là tìm hiểu xem các nhân tố nào ở giai đoạn sau triển khai
Theo Shang và Seddon (2002), thang đo LI Enterprise System - ES (ES là một khái niệm rộng hơn
ERP. Nó có thể bao gồm ERP, quản lý chuỗi cung ứng, quản lý quan hệ khách hàng...) gồm 5 chiều LI:
hoạt động, quản lý, chiến lược, cơ sở hạ tầng CNTT và tổ chức.
2.2.5 Hạn chế của ERP
Thứ nhất, việc ứng dụng ERP là không như nhau ở mọi DN. Các DN lớn thường đạt được hiệu quả
cao hơn so với các DN nhỏ (Shehab và cộng sự, 2004).
Thứ hai, chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các hệ thống ERP.
Hạn chế thứ ba của việc ứng dụng ERP là sự khác biệt hay nói cách khác là khoảng cách giữa yêu
cầu của tổ chức sử dụng ERP về các vấn đề tổ chức dữ liệu, xử lý và nội dung cũng như hình thức thông
tin cung cấp với các chức năng được cung cấp bởi phần mềm ERP.
Bên cạnh đó trong hệ thống ERP, các hoạt động gian lận đối với thông tin, hay tài sản của DN có thể
xảy ra tinh vi hơn khi người dùng biết lợi dụng công nghệ kỹ thuật cao để thực hiện.
2.2.6 Các giai đoạn của vòng đời hệ thống ERP
Giai đoạn trước khi triển khai
hệ thống
Giai đoạn sau triển khai
Quyết định chấp
nhận hệ thống
Mua sắm
Giai đoạn triển khai
Sử dụng
Đổi mới
Kết thúc
2.6 Khái niệm các nhân tố
2.6.1 Chất lượng ERP
Theo Lin Hsiu-Fen (2010), Chất lượng ERP gồm chất lượng hệ thống ERP và chất lượng thông tin.
Vì hướng nghiên cứu của luận án liên quan đến các LI kế toán, nên Chất lượng ERP sẽ bao gồm chất
lượng hệ thống ERP và chất lượng thông tin kế toán do hệ thống ERP cung cấp.
2.6.1.1 Chất lượng hệ thống ERP
Chất lượng hệ thống ERP đề cập đến các đặc điểm kỹ thuật và vận hành của một hệ thống ERP trong
quá trình sử dụng.
2.6.1.2 Chất lượng thông tin kế toán
Chất lượng thông tin kế toán là các đặc điểm thông tin đầu ra phân hệ kế toán của một hệ thống
ERP.
2.6.2 Chất lượng dịch vụ của DN cung cấp giải pháp ERP
Chất lượng dịch vụ của DN cung cấp giải pháp ERP đại diện cho chất lượng của sự hỗ trợ mà người
dùng nhận được từ DN cung cấp giải pháp ERP, chẳng hạn như đào tạo, đường dây nóng, hoặc trợ giúp
khi cần.
2.6.3 Tổ chức
2.6.3.1 Sự hoàn thiện quy trình kinh doanh
Sự hoàn thiện quy trình kinh doanh của DN giai đoạn sau triển khai là việc kiểm soát, kiểm tra,
đánh giá cẩn thận, liên tục các hoạt động hoặc các nhiệm vụ có liên quan với nhau hoặc cùng trong một
cấu trúc của DN trong hệ thống ERP ở giai đoạn sau triển khai, qua đó thực hiện điều chỉnh nếu cần
thiết nhằm đảm bảo quy trình kinh doanh phù hợp với tình hình kinh doanh hiện tại của DN.
2.6.3.2 Sự hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao
Sự hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao giai đoạn sau triển khai là việc tiếp tục cho thấy sự quan tâm và
hứng thú, sẵn sàng hỗ trợ, và tham gia trực tiếp nếu cần thiết vào hoạt động của hệ thống ERP giai đoạn
sau triển khai của những nhà lãnh đạo DN ở cấp cao nhất nhằm giúp hệ thống ERP tại DN hoạt động
hiệu quả.
2.6.4 Sự hài lòng của người dùng ERP trong DN
Sự hài lòng của người dùng ERP trong DN cho thấy sự thỏa mãn về hệ thống ERP của các đối
tượng có công việc liên quan đến hệ thống ERP trong DN khi sử dụng hệ thống ERP thực hiện công
việc của mình.
Sơ đồ 3.1 Khung nghiên cứu
12
3.2.2 Quy trình nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, thảo luận nhóm
chuyên gia
Thảo luận tay đôi các
hang đo nháp đầu
đối tượng nghiên cứu
NGHIÊN
CỨU
Định lượng sơ bộ (n=100)
SƠ
Thang đo nháp cuối
BỘ
Kiêm tra tương quan biến tổng
Kiểm tra trọng số EFA, nhân tố và phương sai trích
Kiểm tra Cronbach alpha.
13
3.3.2 Nghiên cứu sơ bộ định tính
Bước nghiên cứu này được tác giả thực hiện sau khi có được kết quả từ việc tổng kết lý thuyết từ các
nghiên cứu trước và các lý thuyết nền có liên quan. Với các nghiên cứu được lựa chọn là các nghiên cứu
công bố trên các tạp chí uy tín của nước ngoài, trong giai đoạn từ 2002 đến 2016, tác giả xây dựng nên
mô hình nghiên cứu dự kiến và thang đo các khái niệm nghiên cứu. Tiếp theo, tác giả sẽ sử dụng công cụ
thảo luận nhóm với các chuyên gia để hoàn thiện mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến LI kế
toán trong hệ thống ERP và thang đo các khái niệm nghiên cứu thông qua sự trao đổi quan điểm (thang đo
nháp đầu). Công cụ thảo luận nhóm được sử dụng vì nó: (1) cho phép nhiều thành viên tham gia; (2) tạo
ra môi trường tương tác: thảo luận và tranh cãi giúp kích thích các ý tưởng mới, những lý do chi tiết giải
thích sự tác động các nhân tố (Nguyễn Đình Thọ, 2014).
Để tăng độ tin cậy cho thang đo các khái niệm nghiên cứu trong luận án, sau khi thảo luận nhóm với
các chuyên gia, trên cơ sở thang đo đã được điều chỉnh theo ý kiến các chuyên gia (nếu có), tác giả sẽ
thực hiện thảo luận tay đôi với kế toán trưởng các DN đã vận hành HT ERP từ 1 đến 3 năm để hoàn thành
thang đo nháp cuối. Trong bước này, tác giả sẽ sử dụng kỹ thuật đánh giá sự thích hợp nội dung trong quy
trình phát triển thang đo của MacKenzie, Podsakoff và Fetter (1991).
3.3.2.1 Mẫu nghiên cứu
Mẫu được chọn cho việc thảo luận nhóm với các chuyên gia là mẫu cho nhóm thực thụ bao gồm
khoảng tám đến mười thành viên tham gia thảo luận (Nguyễn Đình Thọ, 2014). Luận án dự kiến sẽ thực
hiện thảo luận nhóm chuyên gia với: (1) các giảng viên giảng dạy về ERP, (2) các chuyên gia từ các DN
cung cấp HT ERP, (3) kế toán trưởng hoặc giám đốc tại DN đang vận hành HT ERP. Bước này sẽ giúp
hoàn thiện mô hình nghiên cứu và hình thành thang đo nháp đầu các khái niệm nghiên cứu.
Mẫu được chọn cho việc thảo luận tay đôi với các đối tượng nghiên cứu là mẫu lý thuyết. Quy trình
chọn mẫu lý thuyết được tiến hành bằng cách lựa chọn từng đối tượng nghiên cứu cho đến khi nào đạt tới
điểm bão hòa. Đối tượng nghiên cứu là các DN đã vận hành hệ thống ERP từ 1 đến 3 năm, nên đối tượng
thảo luận tay đôi sẽ là kế toán trưởng các DN này. Bước này sẽ giúp hoàn thành thang đo nháp cuối.
3.3.2.2 Công cụ xử lý dữ liệu
Theo Cresswell (2012), việc áp dụng quy trình phân tích dữ liệu định tính bao gồm 6 bước như sau:
- Bước 1: Sắp xếp và chuẩn bị dữ liệu
- Bước 2: Đọc lại toàn bộ dữ liệu.
Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011).
3.4.3 Công cụ xử lý dữ liệu
Phương pháp phân tích dữ liệu chính ở giai đoạn này sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để
phân tích mối quan hệ giữa các biến. Tuy nhiên, trước khi thực hiện SEM cần thực hiện phân tích lại độ
tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha và kiểm tra giá trị hội tụ và giá trị phân biệt thang đo bằng
phân tích nhân tố khám phá EFA với dữ liệu thu thập từ nghiên cứu chính thức (Nguyễn Đình Thọ và
Nguyễn Thị Mai Trang, 2011), sau đó thực hiện phân tích nhân tố khẳng định (CFA).
3.5 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
3.5.1 Giả thuyết nghiên cứu
3.5.1.1 Tác động của Chất lượng thông tin kế toán đến sự hài lòng của người dùng hệ thống ERP
H1: chất lượng thông tin kế toán có sự tác động dương đến Sự hài lòng của người dùng hệ thống
ERP.
3.5.1.2 Tác động của Chất lượng hệ thống ERP đến sự hài lòng của người dùng hệ thống ERP
H2: chất lượng hệ thống ERP có sự tác động dương đến Sự hài lòng của người dùng hệ thống ERP.
3.5.1.3 Tác động của Chất lượng dịch vụ của DN cung cấp giải pháp ERP đến sự hài lòng của người
dùng hệ thống ERP
H3: chất lượng dịch vụ của DN cung cấp giải pháp ERP có sự tác động dương đến Sự hài lòng của
người dùng hệ thống ERP.
3.5.1.4 Tác động của sự hài lòng của người dùng hệ thống ERP đến các LI kế toán trong hệ thống ERP
H4: Sự hài lòng của người dùng hệ thống ERP có sự tác động dương đến các LI kế toán trong hệ
thống ERP.
3.5.1.5 Tác động của Chất lượng thông tin kế toán đến các LI kế toán trong hệ thống ERP
H5: chất lượng thông tin kế toán có sự tác động dương đến các LI kế toán trong hệ thống ERP.
3.5.1.6 Tác động của chất lượng hệ thống ERP đến các LI kế toán trong hệ thống ERP
H6: chất lượng hệ thống ERP có sự tác động dương đến các LI kế toán trong hệ thống ERP.
3.5.1.7 Tác động của chất lượng dịch vụ của DN cung cấp giải pháp ERP đến các LI kế toán trong hệ
thống ERP
15
Sự tiếp tục hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao (QL)
Nhân tố tổ chức
H8
H9
Sự hoàn thiện quy trình kinh doanh tại DN (KD)
Nhân tố kiểm soát: Những tiến bộ công nghệ thông tin DN áp dụng (TB
Sơ đồ 3.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất
3.6 Thang đo các nhân tố nghiên cứu
3.6.1 Thang đo LI kế toán trong hệ thống ERP
Thang đo các LI kế toán trong hệ thống ERP tại các DN Việt Nam được đề xuất trong luận án là
thang đo các LI kế toán trong hệ thống ERP của Kanellou và Spathis (2013). Đồng thời, tác giả đề xuất
thêm vào thang đo này khía cạnh LI kế toán về mặt vai trò nhân viên kế toán gồm 1 biến quan sát ERP
nâng cao vai trò nhân viên kế toán trong DN, từ việc tập trung vào các công việc kế toán trở thành
chuyên gia tư vấn và các nhà phân tích.
3.6.2 Thang đo chất lượng thông tin kế toán
16
Thang đo chất lượng thông tin kế toán trong luận án được kế thừa từ thang đo đề xuất đo lường khái
niệm chất lượng thông tin của DeLone và McLean (2016) và kết hợp thêm một số biến quan sát từ thang
đo của Sedera và cộng sự (2004).
3.6.3 Thang đo Chất lượng hệ thống ERP
Tương tự như khái niệm nghiên cứu chất lượng thông tin kế toán, tác giả sẽ sử dụng thang đo đề xuất
Số lượng
Thay đổi
LI kế toán trong
Loại 1 biến quan sát, điều chỉnh 5 biến
17
18
hệ thống ERP
quan sát, thêm vào 2 biến quan sát.
chất lượng thông tin
Loại 2 biến quan sát, điều chỉnh 1 biến
9
7
kế toán
quan sát.
chất lượng hệ thống
12
10
Loại 2 biến quan sát.
ERP
chất lượng dịch vụ
của DN cung cấp giải
5
5
Không điều chỉnh.
pháp ERP
17
Sự tiếp tục hỗ trợ của
lãnh đạo cấp cao
3
Không điều chỉnh.
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Để tăng độ tin cậy cho thang đo các khái niệm nghiên cứu, sau khi có được thang đo điều chỉnh theo ý
kiến chuyên gia, tác giả sẽ thực hiện phỏng vấn tay đôi với kế toán trưởng các DN đã vận hành hệ thống ERP
từ 1 đến 3 năm dựa trên thang đo đã điều chỉnh này với kỹ thuật đánh giá sự thích hợp nội dung trong quy
trình phát triển thang đo của MacKenzie, Podsakoff và Fetter (1991). Luận án thực hiện phỏng vấn tay đôi
với 10 đối tượng nghiên cứu. Kết quả 80% người được phỏng vấn phân loại chính xác các biến quan sát vào
đúng khái niệm nghiên cứu. Do đó, thang đo nháp cuối này được chấp nhận và chuyển qua bước nghiên cứu
định lượng sơ bộ.
4.2.2 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ
4.2.2.1 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha
4.2.2.2 Kết quả kiểm định EFA
Sau khi thực hiện nghiên cứu định lượng sơ bộ, thang đo các khái niệm nghiên cứu đều đạt độ tin cậy, giá
trị hội tụ và giá trị phân biệt. Không có biến quan sát nào bị loại hay cần điều chỉnh gì thêm.
4.3 Mô hình nghiên cứu và thang đo các khái niệm nghiên cứu chính thức
4.3.1 Mô hình nghiên cứu chính thức
Theo kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ đã trình bày, mô hình nghiên cứu (Sơ đồ 3.3) của luận án vẫn
được giữ nguyên như đã trình bày ở chương 3, không có sự điều chỉnh gì thêm.
4.3.2 Thang đo các khái niệm nghiên cứu chính thức
Về thang đo các khái niệm nghiên cứu và nhân tố kiểm soát, kết quả phỏng vấn nhóm các chuyên gia đã
đề xuất một số sự thay đổi như điều chỉnh cách diễn giải biến quan sát trong thang đo, loại các biến quan sát
không cần thiết hay thêm vào biến quan sát mới... nhằm làm cho thang đo các khái niệm nghiên cứu phù hợp
với đặc điểm các DN Việt Nam. Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ không thay đổi gì thang đo đã được
điều chỉnh trong nghiên cứu định tính.
4.4 Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức
Tổng cộng 300 phiếu khảo sát đã được gởi đi, sau khi thu thập và kiểm tra thì 18 phiếu bị loại do cung
cấp thông tin không đồng nhất, DN không phù hợp để tham gia khảo sát hoặc trả lời không đủ số câu hỏi.
thời, các chuyên gia cũng đồng ý việc hệ thống ERP không hề dễ dàng tùy chỉnh hoặc cải tiến theo yêu cầu
của các công ty, vì nó liên quan đến các quy trình kinh doanh và có sự tích hợp chặt chẽ giữa các bộ phận
trong toàn DN, nên một sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng cần điều chỉnh lại toàn bộ quy trình kinh doanh
trong DN. Vì vậy, các chuyên gia đồng ý việc loại bốn biến quan sát này.
4.4.2.2 Kết quả kiểm định EFA
Dựa vào ma trận xoay nhân tố Rotated Component Matrix, có thể thấy các biến quan sát trong hai thang
đo LI kế toán về mặt hoạt động (thời gian) và thang đo LI kế toán về mặt hoạt động (chi phí) đã hội tụ về
thành một thang đo duy nhất. Các thang đo còn lại đều có các biến quan sát hội tụ về đúng như cơ sở lý
thuyết tác giả đã đề xuất, vì vậy sẽ được giữ nguyên.
Thực hiện trao đổi với các chuyên gia về việc 3 biến LI-TG1, LI-TG2, và LI-CP1 hội tụ về cùng nhóm,
các chuyên gia giải thích rằng vì đối tượng trả lời khảo sát là lãnh đạo (kế toán trưởng hoặc giám đốc) tại DN
nên khi thấy LI về việc giảm thời gian các hoạt động, họ nhận diện điều này sẽ dẫn tới giảm nhân sự nên họ
có xu hướng chọn các biến quan sát này chung nhóm. Điều này cũng không mâu thuẫn lý thuyết vì chúng
đều là LI kế toán về mặt hoạt động. Vì vậy, thang đo bậc hai LI kế toán trong hệ thống ERP từ 6 thang đo
đơn hướng ban đầu, sẽ còn 5 thang đo. Trong đó, các biến quan sát trong hai thang đo LI kế toán về mặt hoạt
động (thời gian) và thang đo LI kế toán về mặt hoạt động (chi phí) sẽ được gộp chung và được đặt tên là LI
kế toán về mặt hoạt động. Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo mới này là 0,803, hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3.
4.4.2.3 Kết quả kiểm định CFA
P-value < 0,05 vì cỡ mẫu nhỏ, còn các thước đo khác đều phù hợp. Theo Đinh Phi Hổ và cộng sự
(2018), mức ý nghĩa của Chi bình phương hoặc Chi bình phương điều chỉnh theo bậc tự do tùy thuộc vào cỡ
mẫu. Cỡ mẫu càng lớn, mức ý nghĩa càng cao và Chi bình phương điều chỉnh càng lớn. Nếu cỡ mẫu của
nghiên cứu nhỏ, Significance (P-value) <= 0,05 hoặc (CMIN/ df) > 5, các điều kiện khác thỏa mãn, mô hình
19
vẫn chấp nhận. Kết luận, qua phân tích nhân tố khẳng định, mô hình đo lường phù hợp tốt với dữ liệu thực
tế.
4.4.3 Tổng kết về thang đo các khái niệm nghiên cứu
Về thang đo các khái niệm nghiên cứu, trong bước nghiên cứu định tính các chuyên gia đã có một số sự
điều chỉnh, thêm bớt các thang đo này cho phù hợp với đặc thù các DN Việt Nam, sau đó phỏng vấn tay đôi
lượng hệ thống ERP (28,65%) và cuối cùng là chất lượng thông tin kế toán (20,55%). Điều này cho thấy
người dùng ERP tại DN trong giai đoạn sau triển khai cần nhất là các sự hỗ trợ từ DN cung cấp giải pháp
ERP để giải quyết các vấn đề phát sinh gặp phải trong quá trình sử dụng hệ thống, còn chất lượng hệ thống
ERP và chất lượng thông tin kế toán không có tác động nhiều tới tâm lý người dùng. Khám phá này của luận
án phù hợp với điều kiện thực tế các DN Việt Nam ứng dụng ERP giai đoạn sau triển khai, vì chất lượng hệ
thống ERP và chất lượng thông tin kế toán thường được thiết lập, điều chỉnh trong giai đoạn triển khai hệ
thống. Trong giai đoạn sau triển khai, hai nhân tố này đã đi vào ổn định và người dùng ERP tại DN đã quen
20
với việc sử dụng hệ thống và các báo cáo được cung cấp từ hệ thống ERP nên tâm lý người dùng ít bị ảnh
hưởng bởi hai nhân tố này. Cái họ cần nhất trong giai đoạn sau triển khai là sự hỗ trợ của DN cung cấp giải
pháp ERP cho những vướng mắc họ gặp phải trong quá trình sử dụng.
Việc các giả thuyết H4, H5, H6, H8, H9 được chấp nhận đã cho thấy biến Sự hoàn thiện quy trình kinh
doanh tại DN, Sự tiếp tục hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao, chất lượng hệ thống ERP, Sự hài lòng của người dùng
trong hệ thống ERP, chất lượng thông tin kế toán tác động tích cực đến LI kế toán trong hệ thống ERP. Trong
đó, nếu xét tác động trực tiếp thì Sự hoàn thiện quy trình kinh doanh tại DN có tác động mạnh nhất
(25,03%), tiếp theo là Sự tiếp tục hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao (20,42%), Sự hài lòng của người dùng trong
hệ thống ERP (20,03%), chất lượng hệ thống ERP (17,52%) và cuối cùng là chất lượng thông tin kế toán
(17%). Tuy nhiên, hai nhân tố chất lượng hệ thống ERP và chất lượng thông tin kế toán ngoài việc tác động
trực tiếp tới LI kế toán trong môi trường giai đoạn sau triển khai, còn tác động gián tiếp tới biến phụ thuộc
này thông qua biến trung gian Sự hài lòng của người dùng trong hệ thống ERP. Vì vậy, mức độ tác động
tổng cộng của chúng tới biến phụ thuộc sẽ tăng lên.
Nếu xét mức độ tác động tổng cộng thì nhân tố giai đoạn sau triển khai Sự hoàn thiện quy trình kinh
doanh tại DN vẫn có tác động mạnh nhất đến LI kế toán trong hệ thống ERP (21,71%). Nhưng Sự tiếp tục hỗ
trợ của lãnh đạo cấp cao đã tụt xuống vị trí thứ ba (17,71%). Trong giai đoạn sau triển khai, mức độ tác
động tổng cộng của chất lượng hệ thống ERP đến LI kế toán trong hệ thống ERP ở vị trí thứ 2 (18,97%). Sự
hài lòng của người dùng trong hệ thống ERP và chất lượng thông tin kế toán có cùng mức độ tác động đến
biến phụ thuộc (17,37%) và xếp ở vị trí thứ 4. Cuối cùng là ở giai đoạn sau triển khai chất lượng dịch vụ của
DN cung cấp giải pháp ERP chỉ có tác động gián tiếp tới các LI kế toán trong hệ thống ERP thông qua Sự
toán, vì sự hài lòng người dùng hệ thống ERP luận án chọn là sự hài lòng của nhân viên về hệ thống ERP
liên quan đến xử lý công việc của họ. Nên việc sử dụng hệ thống ERP là bắt buộc đối với các nhân viên này,
dù hài lòng hay không, các nhân viên cũng cần đáp ứng các yêu cầu trong việc sử dụng hệ thống ERP để
hoàn thành công việc của mình, vì vậy các LI kế toán hệ thống ERP đem lại cho DN không chịu ảnh hưởng
lớn bởi sự hài lòng của các nhân viên thực hiện.
Chất lượng hệ thống ERP và chất lượng thông tin kế toán có ít sự tác động vào các LI kế toán trong hệ
thống ERP giai đoạn sau triển khai, vì hai nhân tố này thường được thiết lập, hoàn thiện trong giai đoạn triển
khai hệ thống, do đó tác động của hai nhân tố này đến các LI kế toán hệ thống ERP đem lại cho DN chủ yếu
diễn ra trong giai đoạn triển khai hệ thống. Sang giai đoạn sau triển khai, chất lượng hệ thống và chất lượng
thông tin lúc này đã tương đối hoàn thiện, nên hai nhân tố này đã không còn tác động nhiều đến các LI kế
toán trong hệ thống ERP.
Trong giai đoạn sau triển khai, nhân tố Sự hài lòng của người dùng trong hệ thống ERP ngoài việc tác
động trực tiếp đến các LI kế toán trong hệ thống ERP, nó còn là biến trung gian giúp tăng mức độ tác động
tổng của nhân tố chất lượng hệ thống ERP và chất lượng thông tin kế toán đến biến phụ thuộc. Ngoài ra,
nhân tố chất lượng dịch vụ của DN cung cấp giải pháp ERP có tác động gián tiếp đến các LI kế toán trong hệ
thống ERP cũng thông qua biến trung gian này. Điều này phù hợp với mô hình của D & M (2003), khi sự hài
lòng của người dùng đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống, chất lượng thông
tin, chất lượng dịch vụ và LI thuần của một hệ thống thông tin.
4.5.2 Bàn luận về các giả thuyết nghiên cứu bị bác bỏ
Giả thuyết H7 được xuất phát từ mô hình sự thành công của hệ thống thông tin D & M (2003). Mặc dù
mô hình gốc không đề cập đến mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và LI thuần nhưng Petter và cộng sự
(2008) đã đề xuất việc kiểm tra mọi mối quan hệ trong mô hình D & M (2003) là điều cần thiết trong điều
kiện đặc thù từng loại hệ thống thông tin khác nhau. Tuy nhiên, trong chính bài báo này (nghiên cứu đo
lường sự thành công của hệ thống thông tin, bàn về các vấn đề trong mô hình D & M (2003)), Petter và cộng
sự (2008) với phương pháp meta-analysis cũng đã kết luận ở đơn vị phân tích tổ chức, chưa đủ bằng chứng
cho thấy có sự tác động của chất lượng dịch vụ đến LI thuần.
Thực hiện phỏng vấn chuyên gia về việc bác bỏ giả thuyết này, các chuyên gia đã giải thích vì giai đoạn
nghiên cứu của luận án là giai đoạn sau triển khai hệ thống ERP, khi hệ thống ERP đã đi vào ổn định. Những
hỗ trợ mang lại trực tiếp LI kế toán cho DN như: huấn luyện, đào tạo, tài liệu hệ thống... đã được các DN
cung cấp giải pháp ERP thực hiện trong giai đoạn triển khai hệ thống. Vì vậy, trong giai đoạn sau triển khai,
tại DN được tìm thấy có tác động tích cực đến các LI kế toán trong hệ thống ERP. Trong đó, chất lượng
thông tin kế toán, chất lượng hệ thống ERP ngoài việc tác động trực tiếp đến biến phụ thuộc các LI kế toán
trong hệ thống ERP, còn có sự tác động gián tiếp đến biến phụ thuộc này thông qua biến trung gian Sự hài
lòng của người dùng hệ thống ERP. Nhân tố chất lượng dịch vụ của DN cung cấp giải pháp ERP thì giai đoạn
sau triển khai chỉ có tác động gián tiếp đến các LI kế toán trong hệ thống ERP thông qua biến trung gian Sự
hài lòng của người dùng hệ thống ERP, chứ không có tác động trực tiếp đến biến phụ thuộc này.
Với mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu số 2, Về mức độ tác động của các nhân tố ở giai đoạn sau triển khai này
đến các LI kế toán trong hệ thống ERP, nếu xét tác động trực tiếp, thì thứ tự các nhân tố như sau (thứ tự được
sắp xếp theo độ mạnh tác động giảm dần):
1. Sự hoàn thiện quy trình kinh doanh tại DN.
2. Sự tiếp tục hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao.
3. Sự hài lòng của người dùng trong hệ thống ERP
4. Chất lượng hệ thống ERP
5. Chất lượng thông tin kế toán
Nếu xét tác động tổng cộng, bao gồm tác động trực tiếp và gián tiếp, thì thứ tự mức độ tác động của
các nhân tố tới các LI kế toán trong hệ thống ERP có một số sự thay đổi như sau (thứ tự được sắp xếp theo
độ mạnh tác động giảm dần):
1. Sự hoàn thiện quy trình kinh doanh tại DN
2. Chất lượng hệ thống ERP
3. Sự tiếp tục hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao
23
4. Sự hài lòng của người dùng trong hệ thống ERP; Chất lượng thông tin kế toán.
5. Chất lượng dịch vụ của DN cung cấp giải pháp ERP
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ở giai đoạn sau triển khai, biến kiểm soát Những tiến bộ công
nghệ thông tin DN áp dụng có tác động tích cực vào các LI kế toán trong hệ thống ERP. Trong đó, khả
năng tăng cường bảo mật của những công nghệ mới là yếu tố giúp thúc đẩy mạnh nhất những LI kế toán
DN có được từ hệ thống ERP. Ngoài ra, những tiến bộ công nghệ mới cũng giúp hệ thống ERP tại DN
tăng cường khả năng kết nối; xử lý tạo ra thông tin, qua đó nâng cao LI kế toán DN nhận được từ hệ
hoàn thiện quy trình kinh doanh tại DN và Sự hài lòng của người dùng trong hệ thống ERP đến các LI
kế toán trong hệ thống ERP.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò trung gian của nhân tố Sự hài lòng của người
dùng trong hệ thống ERP trong việc thúc đẩy sự tác động của các nhân tố ở giai đoạn sau triển khai:
24
chất lượng thông tin kế toán; chất lượng hệ thống ERP; và chất lượng dịch vụ của DN cung cấp giải
pháp ERP đến các LI kế toán trong hệ thống ERP.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò giải thích bổ sung của nhân tố kiểm soát Những
tiến bộ về mặt công nghệ DN áp dụng đến các LI kế toán trong hệ thống ERP ở giai đoạn sau triển khai.
5.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Bên cạnh những mặt đã đạt được, luận án vẫn còn một số hạn chế sau đây:
Thứ nhất, phạm vi khảo sát của luận án còn hạn chế. Số lượng mẫu khảo sát của luận án là 282
DN, chủ yếu là các DN ở miền Nam và miền Trung.
Thứ hai, vì đơn vị phân tích của đề tài là tổ chức, nên nhân tố Sự hài lòng của người dùng trong
hệ thống ERP tại DN được đo lường trên quan điểm của giám đốc DN hoặc kế toán trưởng. Nên có một
nghiên cứu thực hiện riêng biệt về sự tác động của nhân tố này ở giai đoạn sau triển khai đến các LI kế
toán trong hệ thống ERP với đơn vị phân tích cá nhân. Như vậy, sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện
hơn về sự tác động của nhân tố này đến biến phụ thuộc.
Thứ ba, các DN trong mẫu khảo sát bao gồm các DN có quy mô lớn và các DN có quy mô vừa.
Đặc điểm hệ thống ERP triển khai tại hai loại DN này có nhiều khác biệt. Nếu tách riêng được hai loại
DN này để nghiên cứu, kết quả nghiên cứu sẽ chính xác hơn.
Thứ tư, luận án được thực hiện dựa trên giả định các LI kế toán DN có được từ hệ thống ERP
được duy trì từ khi triển khai hệ thống cho đến giai đoạn sau triển khai. Tuy nhiên, trong giai đoạn sau
triển khai hệ thống ERP, với nhiều sự thay đổi, các LI kế toán hệ thống ERP cung cấp cho DN có thể bị
thay đổi theo. Vì vậy, cần thực hiện một nghiên cứu điều tra về những sự thay đổi này.
Xuất phát từ những hạn chế kể trên, hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài được đề xuất là:
1. Mở rộng phạm vi mẫu khảo sát của luận án. Tập trung vào các địa bàn có nhiều DN hoạt động,
đồng thời mở rộng ra các DN ở phía Bắc.