BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------------------
NGUYỄN THỊ MINH HIẾU
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ PHÒNG
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Phương Thảo
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ
PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của chính tôi. Các
nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất
kỳ tài liệu nào và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào cho đến thời điểm
hiện nay. Những số liệu sử dụng cho mô hình là trung thực được chính tác giả thu
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng .................................. 8
2.2.1. Tăng trưởng GDP ...................................................................................... 8
2.2.2. Lãi suất ....................................................................................................... 9
2.2.3. Tăng trưởng tín dụng ................................................................................. 9
2.2.4. Nợ xấu ...................................................................................................... 11
2.2.5. Quy mô ngân hàng ................................................................................... 14
2.2.6. Hệ số rủi ro tín dụng ................................................................................ 15
2.2.7. Thu nhập trước thuế và dự phòng ............................................................ 16
CHƯƠNG 3:PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ PHÒNG
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
VIỆT NAM .............................................................................................................. 17
3.1. Tổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam ............................................. 17
3.2. Thực trạng dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ
phần Việt Nam ..................................................................................................... 19
3.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các
ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam ........................................................ 22
3.3.1. Tăng trưởng GDP .................................................................................... 22
3.3.2. Lãi suất ..................................................................................................... 24
3.3.3. Tăng trưởng tín dụng ............................................................................... 26
3.3.4. Nợ xấu ...................................................................................................... 30
3.3.5. Quy mô ngân hàng ................................................................................... 36
3.3.6. Hệ số rủi ro tín dụng ................................................................................ 38
3.3.7. Thu nhập trước thuế và dự phòng ............................................................ 39
CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM. .............................................................. 41
4.1. Giả thuyết nghiên cứu .................................................................................. 41
4.1.1. Tăng trưởng GDP .................................................................................... 41
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CROA
: Thu nhập trước thuế và dự phòng
GDP
: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product)
FEM
: Mô hình nhân tố tác động cố định (fixed effects)
IMF
: Qũy tiền tệ quốc tế (International monetary fund)
LG
: Tăng trưởng tín dụng
LLR
: Dự phòng rủi ro tín dụng
LTA
: Hệ số rủi ro tín dụng
: Tổ chức tín dụng
VAMC
: Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
WTO
: Tổ chức thương mại thế giới (World trade organization)
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Dự phòng rủi ro tín dụng của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 –
2014.
Bảng 3.2: Tỷ lệ nợ xấu của một số NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014.
Bảng 4.1: Bảng mô tả các biến đo lường được sử dụng trong nghiên cứu.
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến.
Bảng 4.3: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập.
Bảng 4.4: Kiểm tra đa cộng tuyến.
Bảng 4.5: Kết quả ước tính các nhân tố tác động theo FEM, REM.
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định Hausman-test.
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam 2006 –
2014.
Hình 3.2: Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng của các NHTMCP Việt Nam 2006 – 2014.
Hình 3.3: Tăng trưởng GDP và dự phòng rủi ro tín dụng của các NHTMCP Việt
Nam 2006 – 2014.
xấu, hệ số rủi ro tín dụng, tăng trưởng tín dụng, thu nhập trước thuế và trích lập dự
phòng, quy mô ngân hàng,.. (Eng và Nabar, 2007; Floro, 2010; Packer và Zhu, 2012).
Đối với các quốc gia đang phát triển – như ở Việt Nam thì việc quản lý rủi ro tín
dụng thông qua việc trích lập dự phòng là một vấn đề thách thức và nhận được nhiều
sự quan tâm đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách. Trước thực trạng bức
bách về tỷ lệ nợ xấu, trích lập dự phòng rủi ro hằng năm chưa đúng và đủ, Ngân hàng
Nhà nước đã ban hành Thông tư mới quy định về cách phân loại và trích lập dự
phòng rủi ro trong hoạt động Ngân hàng hướng tới giảm tỷ lệ nợ xấu và dự phòng
trích lập của các Ngân hàng được chính xác và toàn diện hơn.
Nhận thấy tầm quan trọng của dự phòng rủi ro tín dụng đối với hoạt động ngân
hàng, tác giả thực hiện luận văn hướng đến nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến
dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”.
1.2. Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu:
2
- Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
Các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương
mại cổ phần Việt Nam như thế nào?
- Mục tiêu nghiên cứu:
Sau khi đặt câu hỏi nghiên cứu, với mục đích xem xét và xác định các yếu tố
ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng ngân hàng, luận văn nghiên cứu mong muốn
đạt được các mục tiêu sau:
Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các
ngân hàng thương mại.
Kiểm định mô hình lý thuyết về ảnh hưởng của các yếu tố đến dự phòng rủi
ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Đề xuất một số khuyến nghị cho công tác quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân
hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Kiểm định hồi quy thông qua phần mềm Stata 12.
1.5. Kết cấu của bài nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu gồm 5 chương, ngoài phần giới thiệu, tóm tắt, danh mục
các chữ viết tắt, danh mục bảng, danh mục hình, kết luận chung, tài liệu tham khảo,
phụ lục thì nội dung chính của mỗi chương được trình bày như sau:
Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng
rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại.
Chương 2: Tổng quan các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng.
Chương 3: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các
ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
4
Chương 4: Nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi
ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.
1.6. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu:
Về mặt khoa học:
Kết quả nghiên cứu đúc kết, hệ thống lại cơ sở lý thuyết về dự phòng rủi ro tín
dụng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại NHTMCP Việt
Nam, cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của lãi suất, tăng
trưởng tín dụng, nợ xấu, quy mô ngân hàng và thu nhập trước thuế và dự phòng đến
dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động các ngân hàng thương mại cổ phần Việt
Nam.
Về mặt thực tiễn:
Thông qua mô hình, nghiên cứu xác định ảnh hưởng của tăng trưởng tín dụng,
nợ xấu, quy mô, thu nhập trước thuế và dự phòng của Ngân hàng và lãi suất đến dự
phòng rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Điều này
xử lý rủi ro là điều cần thiết nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của tổ chức tín
dụng.
Như vậy trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng nhận diện và
đánh giá rủi ro của khoản vay từ đó ước lượng khả năng tổn thất tài sản của ngân
hàng. Khi một khoản nợ của khách hàng được xác định có khả năng rủi ro không thu
6
hồi được một phần hay toàn bộ, ngân hàng tạo ra nguồn dự trữ để trang trải cho
những tổn thất tín dụng.
Trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng, dự phòng là một khoản mục thuộc tài
sản và làm giảm giá trị của tài sản có, nhằm phản ánh sự suy giảm của tài sản trước
những tổn thất có khả năng xảy ra. Trong khi đó, trong bảng kết quả kinh doanh, dự
phòng là một khoản chi phí phi tiền mặt, được ghi nhận làm giảm lợi nhuận/vốn chủ
sở hữu của ngân hàng. (Hishamuddin và cộng sự, 2014).
Khi ngân hàng không đánh giá được tổn thất dự kiến và không liên tục kiểm tra
rủi ro của khoản vay khi các điều kiện ảnh hưởng đến khách hàng thay đổi; dẫn đến
trong các báo cáo tài chính, việc trình bày rủi ro tín dụng tiềm ẩn chưa được rõ ràng.
Từ đó nhà đầu tư, các chủ nợ, nhà quản lý và hoạch định chính sách sẽ không thể
đánh giá chính xác rủi ro tín dụng mà các ngân hàng đang công bố và độ tin cậy của
khoản mục này trong báo cáo tài chính sẽ không cao.
2.1.2. Phân loại dự phòng và các trích lập dự phòng
Việc phân loại và lập dự phòng hiện tại gây nhiều khó khăn và các quốc gia có
lựa chọn rất đa dạng cho hệ thống phân loại và lập dự phòng. Quá trình phân loại và
trích lập dự phòng là vấn đề đánh giá chủ quan, do đó kết quả đánh giá có thể rất khác
nhau. Mặc dù có những điểm tương đồng, nhưng vẫn chưa có quy định và tiêu chuẩn
quốc tế thống nhất được thừa nhận.
Theo Floro (2010), ở hầu hết các nước dự phòng rủi ro tín dụng được chia thành
dự phòng chung và dự phòng cụ thể. Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để
tỷ lệ trích lập dự phòng, mà còn phụ thuộc vào giá trị tài sản bảo đảm. Nếu giá trị tài
sản bảo đảm sau khi được tính theo tỷ lệ phần trăm lớn hơn giá trị khoản nợ, thì số
tiền dự phòng cũng bằng không có nghĩa là tổ chức tín dụng trên thực tế không phải
lập dự phòng cho khoản nợ đó.
Việc sử dụng dự phòng rủi ro được quy định để thúc đẩy việc xử lý tài sản đảm
bảo thu hồi nợ (chỉ cho phép sử dụng dự phòng cụ thể của chính món nợ đó để xử lý
8
rủi ro khi có phát sinh); dự phòng chung chỉ được dùng để xử lý khi các ngân hàng đã
xử lý tài sản bảo đảm nhưng thu hồi chưa đủ nợ gốc.
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng
2.2.1. Tăng trưởng GDP
Yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến chất lượng các khoản cho vay của các
ngân hàng đã được các nhà nghiên cứu nói đến rất nhiều trong hai thập kỷ qua.
Trong đó, tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product – GDP) là một trong
những chỉ tiêu chủ yếu để đo lường sức khỏe của nền kinh tế một quốc gia. GDP là
giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra
trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Borio và cộng sự (2001), Bikker và cộng sự (2005), Craig và cộng sự (2006),
Taktak và cộng sự (2010) đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa dự phòng rủi
ro tín dụng và tăng trưởng GDP thực. Khi nền kinh tế tăng trưởng, biểu thị thông
qua GDP tăng, điều đó cho thấy các doanh nghiệp trong nền kinh tế đang hoạt động
hiệu quả, hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra có thị trường tiêu thụ sẽ thúc đẩy các
doanh nghiệp gia tăng hiệu quả hoạt động, tái sản xuất và đầu tư, từ đó gia tăng lợi
nhuận, khả năng trả nợ của các doanh nghiệp được nâng cao. Các doanh nghiệp trả
nợ đúng hạn, nợ xấu thấp nên trích lập dự phòng rủi ro tín dụng thấp. Ngược lại khi
nền kinh tế rơi vào suy thoái, biểu thị thông qua GDP giảm, điều đó cho thấy các
doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, không bán được hàng hóa, các khoản nợ vay
nhiều rủi ro hơn (Foos và cộng sự, 2010).
Tác động của tăng trưởng tín dụng đến dự phòng rủi ro tín dụng là tác động trên
cả 2 mặt tích cực và tiêu cực.
DeLiz và cộng sự (2000) khi nghiên cứu chu kì phát triển kinh tế đã thấy rằng
tăng trưởng tín dụng thường đi kèm với chu kì phát triển kinh tế. Tốc độ tăng trưởng
tín dụng sẽ nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP trong nền kinh tế thuận lợi, và giảm
nhanh hơn đà giảm GDP khi nền kinh tế suy thoái. Hiện tượng này có thể được giải
thích bằng quy luật cung - cầu. Yếu tố cầu phụ thuộc nhiều vào khuynh hướng đầu tư,
10
tiêu dùng của nền kinh tế và lãi suất cho vay của ngân hàng. Trong khi đó, yếu tố
cung phụ thuộc chủ yếu vào chính sách tín dụng của ngân hàng. Khi nền kinh tế tăng
trưởng, trước áp lực cạnh tranh để phát triển, các ngân hàng có xu hướng nới lỏng
điều kiện xét duyệt tín dụng. Điều này sẽ tích lũy rủi ro và bộc phát vào giai đoạn
kinh tế suy thoái.
Nghiên cứu của Cavallo và Majnoni (2002) được thực hiện trên một mẫu của
1.176 ngân hàng thương mại lớn, 372 trong số đó từ các nước không thuộc tổ chức
quốc tế G10, trong giai đoạn 1988 - 1999. Với các biến kiểm soát vĩ mô và thể chế
quốc gia khác nhau, nghiên cứu tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ của một mô hình có
tính chu kỳ khác biệt giữa nhóm nước G10 và ngoài G10. Trong đó các ngân hàng
trong nhóm G10 cho thấy một mối quan hệ tích cực giữa thu nhập hoạt động và dự
phòng, điều này ngược lại các ngân hàng ngoài G10. Đồng thời chỉ ra rằng tăng
trưởng tín dụng có mối tương quan ngược chiều với dự phòng rủi ro tín dụng.
Đồng quan điểm, Laeven và cộng sự (2003), Craig và cộng sự (2006), Davis và
Zhu (2009), Packer và Zhu (2012) cũng tìm thấy ảnh hưởng trái chiều của tăng
trưởng tín dụng lên dự phòng rủi ro tín dụng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, dự phòng
rủi ro tín dụng có xu hướng thấp khi tăng trưởng tín dụng tăng.
Trong bối cảnh có nhiều cuộc tranh luận về quy định vốn ngân hàng, đặc biệt là
lập dự phòng rủi ro tín dụng hay không.
2.2.4. Nợ xấu
Nợ xấu là các khoản vay mà ngân hàng không thể thu lợi từ khoản vay đó
(Patersson và Wadman, 2004); hay nợ xấu là các khoản vay không hoàn trả được
(Isa, 2011). Về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc
gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái
cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn
dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được
thanh toán đầy đủ. (IMF, 2009).
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2005), nợ xấu của tổ chức tín dụng là các
khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng
mất vốn.
12
Từ những định nghĩa trên có thể thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức
về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới. Theo đó, một khoản nợ được coi
là nợ xấu nếu xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc và lãi; khi
khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng (TCTD) hoặc ngân hàng đánh giá là không
có khả năng trả nợ.
Phân loại nợ xấu được hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các danh mục
cho vay và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm tương
đồng của khoản vay. Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp các ngân hàng
có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay và trong trường hợp cần thiết, sẽ có
các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong chất lượng tín dụng các danh mục cho
vay. Thông thường, các ngân hàng sử dụng hệ thống phân loại nội bộ, hệ thống phân
loại quy định bởi các nhà giám sát yêu cầu được sử dụng chủ yếu phục vụ mục tiêu
báo cáo, so sánh và giám sát.
Tùy vào tình hình thực tế và tiêu chí mỗi quốc gia mà có cách phân loại nợ
Nợ nhóm 4 ( nợ nghi ngờ ) Doubtful: bao gồm các khoản nợ quá hạn
từ 181 ngày đến 360 ngày.
Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Loss: bao gồm các khoản nợ
quá hạn trên 360 ngày.
Trong đó, nợ xấu bao gồm các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5.
Mối quan hệ giữa nợ xấu và dự phòng rủi ro tín dụng đã được đề cập nhiều
trong các nghiên cứu trước đây của Hasan và Wall (2004), Asokan Anandarajan và
cộng sự (2005), Eng và Nabar (2007),..
Nghiên cứu của Hasan và Wall (2004) phân tích các yếu tố quyết định đến dự
phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng, với mẫu nghiên cứu được lựa chọn từ các
ngân hàng Mỹ và các ngân hàng ngoài nước Mỹ bao gồm Canada, Nhật và một nhóm
21 quốc gia. Tác giả sử dụng mô hình nhân tố tác động cố định (fixed effects) để xác
định và đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến mức trích lâp dự phòng rủi ro
tín dụng. Kết quả thể hiện các yếu tố đều được xác định là có ảnh hưởng đến mức
trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhưng có sự khác nhau về ý nghĩa thống kê giữa 2
khu vực. Cụ thể là các ngân hàng ở Mỹ có mức ý nghĩa thống kê thấp hơn các ngân
hàng khác về dự phòng rủi ro tín dụng, nợ xấu và tỷ lệ giá trị tổn thất ròng. Nghiên
cứu chỉ ra rằng, nợ xấu có ảnh hưởng tích cực đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín
dụng.
Nghiên cứu của Hsieh và cộng sự (2008) lại sử dụng phương pháp hồi quy
GMM để phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữa chu kì kinh doanh, thu nhập và dự
phòng rủi ro tín dụng cho mẫu nghiên cứu là 49 quốc qua trong giai đoạn 1991 –
2002. Kết quả cho thấy trong nền kinh tế cùng với thu nhập ngân hàng ổn định, các
nhà quản lý ngân hàng có xu hướng gia tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và
ngược lại trong nền kinh tế sôi động nhưng tăng trưởng âm trong thu nhập ngân hàng
trưởng tín dụng của ngân hàng tăng cao thì đồng nghĩa sẽ có những khoản nợ xấu
15
phát sinh, điều này là nguyên nhân khiến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của
ngân hàng cũng sẽ tăng cao. Như vậy, khi tổng tài sản tăng lên thì ngân hàng sẽ gia
tăng cho vay dẫn đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng lên.
Các nghiên cứu Hasan và Wall (2003), Chen và cộng sự (2005), Anvàarajan
và cộng sự (2005), Ashour và cộng sự (2011),..đều lựa chọn đưa yếu tố này vào bài
nghiên cứu của mình.
Theo Eng và Nabar (2007), quy mô ngân hàng có mối quan hệ trái chiều với
trích lập dự phòng; các ngân hàng có quy mô lớn thì trích lập dự phòng rủi ro ít.
Trái ngược với quan điểm của Eng và Nabar là nghiên cứu thực nghiệm của
Floro (2010). Tác giả nghiên cứu 38 ngân hàng thương mại ở Philippine thời gian
2001 - 2009 và tìm thấy có mối tương quan cùng chiều giữa quy mô ngân hàng với
dự phòng rủi ro tín dụng. Đồng quan điểm, Taktak và cộng sự (2010) cũng tìm thấy
quy mô ngân hàng có ảnh hưởng tích cực lên dự phòng rủi ro tín dụng.
2.2.6. Hệ số rủi ro tín dụng
Những ngân hàng có hệ số rủi ro tín dụng tăng cao thể hiện rủi ro mà ngân
hàng phải đối mặt trong tương lai. Tỷ số này ám chỉ rằng các cổ đông đang thực
hiện chính sách thâm dụng nợ và làm cho ngân hàng trở nên rủi ro hơn. Điều này
hoàn toàn không có lợi cho ngân hàng khi được đánh giá về độ an toàn và tính hấp
dẫn trong việc thu hút dòng tiền vào. Vì vậy, ngân hàng sẽ tìm cách giảm tỷ lệ này
xuống bằng cách tăng cường vốn làm tăng tài sản của ngân hàng thông qua giảm
các khoản dự phòng rủi ro.
Craig và cộng sự (2006), Davis và Zhu (2009), Floro (2010) đã tìm thấy mối
tương quan cùng chiều giữa hệ số rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng. Đồng
quan điểm, Bikker và cộng sự (2005) đã tìm thấy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài
sản ảnh hưởng tích cực đáng kể lên dự phòng rủi ro tín dụng.
đến dự phòng rủi ro tín dụng của các quốc gia trên thế giới. Từ đó làm cơ sở cho việc
xây dựng giả thuyết và lựa chọn mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến dự
phòng rủi ro tín dụng phù hợp với trường hợp của Việt Nam.
17
CHƯƠNG 3:PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ
PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN VIỆT NAM
Trong chương này, luận văn trình bày tình hình trích lập rủi ro tín dụng tại các
NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 - 2014 đồng thời mối tương quan giữa các yếu tố
và dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam sẽ được phân tích và minh
họa bằng đồ thị.
3.1. Tổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam
Ngân hàng được xem là hệ tuần hoàn vốn của nền kinh tế từng quốc gia và toàn
cầu. Đặc biệt trong nền kinh tế hiện nay, Ngân hàng là một bộ phận không thể thiếu
được với hoạt động chủ yếu là tiền tệ, tín dụng và thanh toán, trong đó tín dụng giữ
vai trò đặc biệt. Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, song
với đặc điểm hoạt động riêng có của mình ngành Ngân hàng giữ một vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Cho đến nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có sự phát triển khá mạnh mẽ.
Số lượng các ngân hàng tăng lên nhanh chóng, đến hết tháng 6/2015 hệ thống NHTM
hoạt động tại Việt Nam gồm có: 1 NHTMNN (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam); 34 NHTMCP; 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 4 ngân
hàng liên doanh và 2 ngân hàng chính sách (NHNN, 2014).
Những đóng góp của hệ thống Ngân hàng Việt Nam vào quá trình đổi mới và
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá là
rất lớn. Các ngân hàng không chỉ tiếp tục khẳng định là một kênh dẫn vốn quan trọng
cho nền kinh tế, mà còn góp phần ổn định sức mua đồng tiền.