Các yếu tố của môi trường đầu tư tác động đến sự hài lòng của nhà đầu tư: Nghiên cứu trường hợp Huyện Phú Quốc - tỉnh Kiên Giang - Pdf 66

-i-

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
----------------------------

TÔ HOÀNG PHƯƠNG

CÁC YẾU TỐ CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TÁC ĐỘNG
ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA NHÀ ĐẦU TƯ: NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013


- ii -

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số liệu sử
dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu
biết của tôi. Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh
tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 7 năm 2013
Tác giả luận văn

Tô Hoàng Phương



Hiện tại cho thấy các chính sách cải thiện môi trường đầu tư, thu hút đầu tư của Phú Quốc
là không đủ hấp dẫn và kích thích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào Phú
Quốc. Vì vậy, xác định được yếu tố tác động tích cực và tiêu cực của môi trường đầu tư
đến sự hài lòng của các nhà đầu tư để có chiến lược cải thiện ưu tiên và phù hợp là hết sức
cần thiết đối với chính quyền địa phương tỉnh Kiên Giang nói chung và huyện Phú Quốc
nói riêng.
Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận của lý thuyết marketing địa phương xem nhà đầu tư như
khách hàng tiềm năng, môi trường đầu tư là sản phẩm địa phương, bằng phương pháp phân
tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis) và phân tích hồi quy (Regression
Analysis) nhằm định lượng các yếu tố tác động đến sự hài lòng của nhà đầu tư. Nghiên cứu
tiến hành điều tra trực tiếp 220 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn huyện Phú Quốc
để ứng dụng, kiểm định mô hình trên thực tiễn, và nhận diện được một hệ thống thang đo
bao gồm: tính năng động của địa phương, đặc thù ưu đãi địa phương, nguồn nhân lực, tiếp
cận đất đai, chi phí điện nước, thủ tục hành chính, tài chính tín dụng, và hạ tầng kỹ thuật.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 2 yếu tố thật sự có tác động đến sự hài lòng của nhà đầu tư
theo thứ tự tầm quan trọng, đó là: (i) Đặc thù ưu đãi địa phương, (ii) Tính năng động của
địa phương.
Điều này rất có ý nghĩa đối với các nhà hoạch định chính sách ở địa phương về chiến lược
cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư vào Phú Quốc. Nghiên cứu đã đề ra
những khuyến nghị chính sách nhằm gia tăng yếu tố tác động tích cực (đặc thù ưu đãi địa
phương, tính năng động của địa phương) của môi trường đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh


-v-

thu hút đầu tư cho địa phương. Mặt dù nghiên cứu này chưa đủ điều kiện khẳng định các
yếu tố nguồn nhân lực, tiếp cận đất đai, chi phí điện nước, thủ tục hành chính, tài chính tín
dụng, và hạ tầng kỹ thuật có tác động đến sự hài lòng của nhà đầu tư nhưng việc cải thiện
các yếu tố của môi trường đầu tư chưa bao giờ là thừa. Do đó, nghiên cứu vẫn khuyến nghị
chính sách đối với các yếu tố quan trọng (nguồn nhân lực, tiếp cận đất đai, thủ tục hành

1.5

Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin ..................................................................... 7

1.6

Kết cấu của nghiên cứu....................................................................................................... 8

Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ..................... 9
2.1

Các khái niệm về đầu tư ..................................................................................................... 9

2.2

Tiếp cận marketing địa phương trong thu hút đầu tư ....................................................... 10

2.3

Tổng quan các nghiên cứu trước về các yếu tố của môi trường đầu tư tác động đến sự hài
lòng của nhà đầu tư ........................................................................................................... 11

Chương 3. PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ....................................................... 15
3.1

Phương pháp nghiên cứu .................................................................................................. 15

3.2

Nghiên cứu định tính và kết quả ....................................................................................... 16


5.2

Khuyến nghị chính sách ................................................................................................... 42

5.3

Một số hạn chế của đề tài ................................................................................................. 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................ 45
PHỤ LỤC......................................................................................................................................... 48


- vii -

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
EFA (Exploratory Factor Analysis)

:

Phân tích nhân tố khám phá

FDI (Foreign Direct Investment)

:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP (Gross Domestic Product)


- ix -

DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Dự án đầu tư trên địa bàn huyện Phú Quốc .......................................................... 3
Hình 1.2: Doanh nghiệp phát sinh trên địa bàn huyện Phú Quốc ......................................... 4
Hình 1.3: Tình hình thực hiện của các dự án ........................................................................ 5
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu ............................................................................................ 14
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu .......................................................................................... 15
Hình 3.2: Kết quả khảo sát mức độ quan trọng của môi trường đầu tư Phú Quốc ............. 18
Hình 3.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất ............................................................................... 20
Hình 4.1: Mô hình hồi qui đa biến ...................................................................................... 34


-1-

Chương 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Bối cảnh chính sách
Phú Quốc là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Kiên Giang nhưng đã được Trung
ương định hướng phát triển thành khu kinh tế-hành chính đặc biệt, trung tâm du lịch sinh
thái, nghỉ dưỡng, giải trí cao cấp quốc gia và quốc tế1. Về điều kiện tự nhiên, Phú Quốc có
môi trường thiên nhiên sinh thái đa dạng, với nhiều bãi biển đẹp và hệ sinh vật phong phú,
nằm trong khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang được UNESCO công
nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, đây là vốn quý để phát triển du lịch sinh thái trên
đảo.
Về vị trí địa lý, Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất Việt Nam (diện tích 593km2) tương đương
đảo quốc Singapore, nằm trong Vịnh Thái Lan ở trung tâm khu vực Đông Nam Á. Do đó,
Phú Quốc có lợi thế liên kết giao thương bằng đường hàng không và hàng hải với các quốc
gia, vùng duyên hải Campuchia và Thái Lan. Bên cạnh đó, việc hợp tác phát triển du lịch

-2-

khác trong nước. Ngoài ra, các dự án đầu tư kinh doanh du lịch tại đảo Phú Quốc là dự án
đầu tư vào khu du lịch quốc gia thuộc Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư5. Với những điều
kiện thuận lợi này đã tạo nên lợi thế cạnh tranh cho tỉnh Kiên Giang nói chung và huyện
Phú Quốc nói riêng6 trong việc thu hút đầu tư.
Do đó, thu hút đầu tư của Phú Quốc cũng đạt được kết quả đáng khích lệ. Tính đến tháng
12/2012, Phú Quốc có tổng số doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh lên 1.283 doanh
nghiệp và 197 chi nhánh, 46 văn phòng đại diện với tổng vốn kinh doanh khoảng 22 ngàn
tỷ đồng, và có 80 dự án đươc cấp giấy phép đầu tư với số vốn là 87 ngàn tỷ đồng. Một số
dự án lớn với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang trong quá trình hoàn tất
các thủ tục đầu tư vào Phú Quốc, hứa hẹn mang lại sự phát triển mới cho ngành du lịch của
đảo7. Đồng thời, thu ngân sách Phú Quốc dự toán năm 2013 là 1.000 tỷ đồng8, cao hơn
nhiều đơn vị cấp tỉnh trong nước.
Tuy nhiên, thu hút đầu tư của của Phú Quốc vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đang
gặp khó khăn9. Số liệu từ Ban Quản lý đầu tư phát triển đảo Phú Quốc cho thấy, trong giai
đoạn từ năm 2011 trở về trước có số dự án được cấp phép đầu tư hàng năm không có biến
động lớn, dao động trong khoảng 10–13 dự án (xem Hình 1.1), nhưng năm 2012 số dự án
được cấp phép đầu tư tăng 140% so với năm 2011, từ 10 dự án của năm 2011 lên 24 dự án
trong năm 2012. Tuy nhiên, vốn đăng ký của các dự án có sự biến động mạnh và không ổn
định qua các năm10. Vốn thực hiện so với vốn đăng ký còn ở mức thấp11. Đồng thời, các dự
án đầu tư nhìn chung có quy mô nhỏ12.
5

Theo Điều 5 Quy chế hoạt động của đảo Phú Quốc và cụm đảo Nam An Thới, tỉnh Kiên Giang ban hành
kèm theo Quyết định số 20/2010/QĐ-TTg ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ xác định Phú
Quốc là Khu du lịch trọng điểm quốc gia
6

Theo nghiên cứu của Vũ Thành Tự Anh về Đồng bằng sông Cửu Long liên kết để tăng cường năng lực cạnh


dự án
30

30,000

25

25,000

20

20,000
15
15,000
10

10,000

5

5,000
0

0
2007 trở về
trước
Vốn đăng ký

2008

thu hút đầu tư của Phú Quốc, với tỷ lệ vốn thực hiện ở mức thấp như vậy cũng phần nào đánh giá được tình
hình kinh tế-xã hội của địa phương chưa có bước chuyển biến mạnh. Dù trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng
chung bởi bất ổn vĩ mô của nền kinh tế, nhưng quan trọng hơn là thiếu nỗ lực của chính quyền địa phương
trong việc cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư để vốn đầu tư được triển khai
nhanh chóng.
12

Bình quân mỗi dự án năm 2008 có vốn đăng ký khoảng 2,5 ngàn tỷ đồng là cao nhất trong giai đoạn 20082012, sau đó giảm còn 1 ngàn tỷ đồng năm 2009 xuống 0,4 ngàn tỷ đồng năm 2011, và năm 2012 tăng trở lại
ở mức bình quân 1,2 ngàn tỷ đồng/dự án. (Số liệu chi tiết xem thêm ở Phụ lục 6)

13

Theo số liệu tác giả tổng hợp từ Chi cục thuế huyện Phú Quốc cho thấy trong giai đoạn 2008-2012 số
lượng doanh nghiệp phát sinh trên địa bàn huyện Phú Quốc bình quân khoảng 200 doanh nghiệp/năm (xem
Hình 1.2), nhưng vốn đăng ký trong giai đoạn này liên tục giảm. Đặc biệt trong giai đoạn 2008-2010 số
lượng doanh nghiệp phát sinh tăng từ 160 năm 2008 lên 260 năm 2010, nhưng vốn đăng ký lại giảm mạnh từ
gần 12 ngàn tỷ đồng năm 2008 xuống còn hơn 2 ngàn tỷ đồng năm 2010. Điều này thấy được doanh nghiệp
phát sinh trên địa bàn có quy mô nhỏ dần, vốn đăng ký bình quân 69 tỷ đồng/doanh nghiệp năm 2008 xuống
còn 8 tỷ đồng/doanh nghiệp năm 2012.


-4-

Hình 1.2: Doanh nghiệp phát sinh trên địa bàn huyện Phú Quốc
tỷ VNĐ
12,000

doanh nghiệp
400
350


2010

2011

2012

Số doanh nghiệp phát sinh

Nguồn: Chi cục thuế huyện Phú Quốc và tác giả tổng hợp

Việc triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn Phú Quốc còn chậm. Trong số 80 dự án được
cấp phép (tính đến cuối năm 2012) chỉ có 13 dự án đi vào hoạt động chiếm tỷ lệ 16% và 11
dự án đang triển khai xây dựng chiếm tỷ lệ 14%, còn lại 70% dự án chưa thực hiện triển
khai (xem Hình 1.3). Điều này cũng phù hợp với vốn thực hiện bình quân trong giai đoạn
2008-2012 đạt ở mức thấp 10% so với vốn đăng ký. Ngoài ra còn có 97 dự án thu hồi chủ
trương đầu tư tại Phú Quốc do chậm triển khai, không phù hợp với quy hoạch theo báo cáo
kết luận14 của Thanh tra Chính phủ vào tháng 3/2012.

14

Báo cáo kết luận số 478/KL-TTCP ngày 12/3/2012 của Thanh tra Chính phủ về thanh tra công tác quy
hoạch, quản lý sử dụng đất đai, quản lý đầu tư xây dựng và một số dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang.
Tác giả cũng trực tiếp gặp một số nhà đầu tư nằm trong số các dự án thu hồi theo kết luận của Thanh tra
Chính phủ để tìm hiểu nguyên nhân mà các nhà đầu tư chậm triển khai dự án. Thông tin có được là do phía
chính quyền địa phương chưa giải quyết mặt bằng cho dự án, thủ tục hành chính về đầu tư chưa thông suốt
còn chồng chéo giữa các bộ phận quy hoạch, đất đai, xây dựng, thẩm định đầu tư, và cấp phép. Ông: Nguyễn
Tấn Phúc – Phó tổng giám đốc Công ty liên doanh trách nhiệm hữu hạn Khu du lịch Veranda, cho biết
nguyên nhân mà dự án của công ty tại hòn Gầm Ghì chậm triển khai là do thủ tục hành chính quá nhiều, các

15

Hội nghị Đầu tư và phát triển Đồng bằng sông Cửu Long tại Cần Thơ (ngày 06/9/2010) do Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng chủ trì. Gia Tuệ (2010) “Đồng bằng sông Cửu Long: Gỡ rào cản để thu hút đầu tư” Pháp
Luật TP.HCM, 07 tháng 9, http://phapluattp.vn/20100906112058457p0c1014/dong-bang-song-cuu-long-gorao-can-de-thu-hut-dau-tu.htm
16

TS.Nguyễn Hữu Lam (2010) “Phát triển nhân lực trong các doanh nghiệp tại Việt Nam” trình bày trong
hội thảo “Future of Vietnamese‐Japanese Bilateral Economic and Human Resources Exchange” được tổ
chức bởi Đại học Kinh tế TP.HCM và Kansai Keizai Doyukai - Nhật bản, ngày 10/03/2010
http://www.cemd.ueh.edu.vn/index.php?q=node/172
17

Theo ông Huỳnh Ngọc Quí, Phó Tổng giám đốc Công ty Liên doanh khu du lịch La Veranda. Gia Tuệ
(2010) “Đồng bằng sông Cửu Long: Gỡ rào cản để thu hút đầu tư” Pháp Luật TP.HCM, 07 tháng 9,
http://phapluattp.vn/20100906112058457p0c1014/dong-bang-song-cuu-long-go-rao-can-de-thu-hut-dautu.htm


-6-

địa phương cho biết hiện nay Phú Quốc đang tập trung cho mục tiêu phát triển du lịch bằng
cách chuẩn bị cơ sở hạ tầng, đảm bảo an ninh quốc phòng18. Theo nhận định của lãnh đạo
ở cấp cao hơn, thu hút đầu tư ở Phú Quốc hiện nay đang tự trói mình trước những quy định
pháp luật về thuê đất19, để thúc đẩy phát triển Phú Quốc cần phải ưu tiên ban hành khung
giá đất, cho thuê đất hợp lý nhằm thu hút các nhà đầu tư có tầm cỡ vào Phú Quốc20.
Trước những ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề môi trường đầu tư và yêu cầu đặt ra cho
phát triển kinh tế-xã hội ở Phú Quốc trong việc thu hút đầu tư như hiện nay, tác giả cho
rằng việc sử dụng lý thuyết marketing địa phương nhằm nghiên cứu các yếu tố môi trường
đầu tư tác động đến năng lực thu hút đầu tư của một địa phương là hợp lý. Lý thuyết
marketing địa phương cho rằng sự hài lòng của khách hàng (nhà đầu tư, doanh nghiệp) với


Tác giả đã giới thiệu ở trang 1, gồm có: lợi thế về cơ chế chính sách, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, hấp
dẫn đầu tư.


-7-

1.2 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau đây:
(1) Các yếu tố nào của môi trường đầu tư ở huyện Phú Quốc tác động đến sự hài lòng
của nhà đầu tư? Mức độ tác động như thế nào?
(2) Những chính sách nào là phù hợp, khả thi nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tăng
khả năng thu hút đầu tư của địa phương?
1.3 Mục tiêu của nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm tìm ra các thuộc tính đặc thù địa phương về môi trường đầu tư, kinh
doanh tác động đến sự hài lòng của nhà đầu tư từ đó dẫn đến quyết định đầu tư vào Phú
Quốc và đánh giá mức độ tác động của chúng. Đồng thời, nghiên cứu này sẽ giúp cho các
nhà hoạch định chính sách của tỉnh Kiên Giang nói chung và huyện Phú Quốc nói riêng có
thể phân tích, đánh giá tính hiệu quả của các chính sách cải thiện môi trường đầu tư, kinh
doanh, các chính sách thu hút đầu tư mà Phú Quốc đã thực hiện thời gian vừa qua. Kết quả
nghiên cứu giúp đề ra các khuyến nghị chính sách cải thiện môi trường đầu tư khả thi hơn,
gia tăng năng lực cạnh tranh của Phú Quốc để thu hút các nhà đầu tư trong thời gian tới
một cách hiệu quả.
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố của môi trường đầu tư tác động đến sự hài lòng của nhà
đầu tư. Phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp đang hoạt động, đầu tư trên địa bàn huyện
Phú Quốc (tính đến thời điểm 31/12/2012).
1.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá dựa trên các phân tích định
tính và định lượng. Với nghiên cứu định tính bằng việc phỏng vấn sâu lấy ý kiến của một

và các khuyến nghị chính sách, cũng như đề cập đến những hạn chế trong quá trình thực
hiện đề tài nhằm gợi ra các hướng nghiên cứu tiếp theo.


-9-

Chương 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.1 Các khái niệm về đầu tư
Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành
tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của
pháp luật có liên quan23. Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo
quy định của pháp luật Việt Nam24.
Có nhiều khái niệm về môi trường đầu tư, một trong những số đó được hiểu rằng môi
trường đầu tư là tập hợp các yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và
động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất25. Nhưng
môi trường đầu tư còn được định nghĩa là chính sách, thể chế, và môi trường hành vi, cả
trong hiện tại và dự kiến, ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro liên quan đến đầu tư26.
Môi trường đầu tư là những yếu tố về kinh tế, tiền tệ và những điều kiện khác có ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động của đầu tư27. Một định nghĩa khác về môi trường đầu tư, đó
là các điều kiện về kinh tế và tài chính trong một đất nước ảnh hưởng đến việc các cá nhân
và doanh nghiệp sẵn sàng bỏ tiền đầu tư hoặc mua cổ phần trong các doanh nghiệp hoạt
động ở đó. Môi trường đầu tư xét ở cấp độ quốc gia bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao
gồm: nghèo đói, tội phạm, lực lượng lao động, cơ sở hạ tầng, an ninh quốc gia, bất ổn

23

Theo Điều 3 khoản 1 Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam (Khoá 11) thông qua ngày 29/11/2005.

đảm những lợi thế cho họ trong hoạt động đầu tư.
2.2 Tiếp cận marketing địa phương trong thu hút đầu tư
Lý thuyết marketing địa phương cho thấy, chính quyền địa phương cần xem các nhà đầu tư
như khách hàng30, đồng thời việc am hiểu nhu cầu các nhà đầu tư là hết sức cần thiết để
thoả mãn các nhu cầu của họ. Ngoài ra, chính quyền địa phương cần nắm bắt những đòi
hỏi của nhà đầu tư về địa phương mình31. Để cạnh tranh với các địa phương, chính quyền
địa phương cần làm cho địa phương mình có những đặc tính có thể thoả mãn, hài lòng đối
với khách hàng là các nhà đầu tư hiện tại cũng như tương lai. Sự hài lòng của nhà đầu tư
với một địa phương là lợi thế cạnh tranh của địa phương đó32. Nếu địa phương đáp ứng
được yêu cầu của nhà đầu tư thì sẽ tác động tích cực đến sự hài lòng dẫn đến họ quyết định
đầu tư tại địa phương.
Với cách tiếp cận marketing địa phương trong thu hút vốn đầu tư, yếu tố quan trọng mà
chính quyền địa phương cần quan tâm đó là “sản phẩm” cung cấp cho khách hàng (ở đây là
nhà đầu tư). Sản phẩm được hiểu là bất kể cái gì làm thoả mãn khách hàng, và lý thuyết
marketing hiện đại chỉ ra rằng khách hàng mua một sản phẩm không phải vì những đặc
điểm mà nhà sản xuất cho là tốt mà vì những lợi ích của sản phẩm. Sản phẩm không phải
là bản thân chính sách thu hút đầu tư mà chính là môi trường đầu tư của một địa phương33.
Do đó, chính quyền địa phương cần có quá trình phục vụ, làm hài lòng các nhà đầu tư và
từng bước cải thiện môi trường đầu tư nhằm nắm giữ, phát triển các nguồn đầu tư hiện có,
28

Investopedia (2012), “Investment Climate”, Investopedia ULC.

29

Lam & đtg (2004, trích trong Nguyễn Đình Thọ, 2010, tr.103).

30

Mai Thế Cường (2005, tr.5).

thị trường, mức độ phát triển kinh tế, thương mại tự do, chi phí lao động, vị trí địa lý, và cơ
sở hạ tầng giao thông là những yếu tố quan trọng của môi trường đầu tư có tác động tích
cực đến việc lựa chọn sẽ đầu tư ở địa phương nào của nhà đầu tư nước ngoài. Chất lượng
nguồn nhân lực đáp ứng các nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài là cơ sở để thu hút
nguồn vốn FDI nhiều hơn ở các địa phương37. Ngoài các đặc tính của một địa phương mà
các nhà đầu tư nước ngoài cần xem xét để lựa chọn địa điểm đầu tư (tài nguyên thiên
nhiên, các yếu tố nội sinh, các yếu tố về chi phí, thể chế, sự ổn định chính trị, bất ổn vĩ mô,
chính sách thuế...) thì sự hình thành các cụm ngành38 cũng có ảnh hưởng đến lựa chọn địa

34

Hồ Đức Hùng và đ.t.g (2005, tr.171-172).

35

Kotler và đ.t.g (1993, trích trong Lee, 2010, tr.13).

36

Assunção và đ.t.g (2011, tr.6) trên cơ sở tổng hợp, đánh giá các nghiên cứu trước trên các tiếp cận khác
nhau (mô hình OLI của Dunning, cách tiếp cận thể chế, lý thuyết thương mại mới) về các yếu tố ảnh hưởng
đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư của các công ty đa quốc gia.

37
38

Li (2005, trích trong Võ Bửu Viết Cường, 2012, tr.10).

Cụm ngành được định nghĩa bao gồm các công ty tạo ra sản phẩm hay dịch vụ cuối, các nhà cung ứng
những đầu vào, các tổ chức tài chính và doanh nghiệp trong các ngành liên quan, nhà sản xuất sản phẩm bổ

40

Porter (2004, tr.31).

41

Nguyễn Phi Lân (2009, tr.125).

42

Nguyễn Ngọc Anh và Nguyễn Thắng (2007, tr.38).

43

Nguyễn Mạnh Toàn (2010, tr.271-276) đã khảo sát từ 300 doanh nghiệp FDI ở Thành phố Hồ Chí Minh,
Đà Nẵng và Thành phố Hà Nội nghiên cứu về các yếu tố tác động đến thu hút FDI của một địa phương ở
Việt Nam dựa trên bốn nhóm nhân tố chính là kinh tế (thị trường tiềm năng, lợi thế về chi phí), tài nguyên
(nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý), cơ sở hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội) và
chính sách (những ưu đãi hỗ trợ đầu tư).
44

Cơ sở hạ tầng “cứng” bao gồm tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp, chất lượng đường giao thông và chi phí
vận chuyển, các dịch vụ công ích như điện, nươc, viễn thông, khoảng cách đến các thị trường chính và các cơ
sở hạ tầng khác như cảng biển, sân bay...(Phạm Thị Quỳnh Lợi, 2010, tr.19).

45

Cơ sở hạ tầng “mềm” và các quyết sách của địa phương được nhận định tương ứng với 10 chỉ số thành
phần của PCI (chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, tính minh bạch,
chi phí thời gian để thực hiện các qui định của nhà nước, chi phí không chính thức, tính năng động và tiên

động đến sự hài lòng của nhà đầu tư tại Long An48.
Tóm lại, nghiên cứu trước đây dựa trên lý thuyết marketing địa phương và sử dụng khung
phân tích EFA khám phá các thuộc tính môi trường đầu tư (cơ sở hạ tầng, chế độ chính
sách, dịch vụ đầu tư kinh doanh, môi trường sống và làm việc) tác động đến sự hài lòng
46

Phạm Thị Quỳnh Lợi (2010, tr.51-58).

47

Nguyễn Đình Thọ (2010, tr.135-141).

48

Võ Bửu Viết Cường (2012, tr.38).


- 14 -

của doanh nghiệp kinh doanh tại địa phương. Các thuộc tính địa phương đóng vai trò quan
trọng đối với nhà đầu tư, kinh doanh và có ảnh hưởng rất lớn trong quyết định lựa chọn địa
điểm để đầu tư kinh doanh. Do đó, tác giả dựa vào mô hình nghiên cứu ban đầu ở Hình 2.1
để xây dựng thang đo cho mô hình nghiên cứu và thực hiện các bước nghiên cứu tiếp theo.
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu
THUỘC TÍNH ĐỊA PHƯƠNG
(SẢN PHẨM)
Cơ sở hạ tầng
Chế độ chính sách, dịch vụ
đầu tư kinh doanh


Kiểm định thang đo
Phân tích nhân tố

Phân tích
định lượng

Hồi quy đa biến
Kết luận, khuyến nghị chính sách

Nghiên cứu định tính bằng việc phỏng vấn sâu lấy ý kiến của một số chuyên gia, lãnh đạo
địa phương, nhà quản lý doanh nghiệp đầu tư tại Phú Quốc nhằm khám phá, tìm hiểu các
thuộc tính địa phương của môi trường đầu tư Phú Quốc có tác động đến sự hài lòng của
các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào Phú Quốc. Từ đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên
cứu, các giả thuyết, và xây dựng thang đo. Bước nghiên cứu này dựa trên cơ sở kết quả
phỏng vấn và cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu trước sẽ tiến hành xây dựng bảng hỏi


- 16 -

chính thức và điều chỉnh nội dung thang đo để điều tra, thu thập thông tin từ các doanh
nghiệp tại Phú Quốc sử dụng cho nghiên cứu định lượng tiếp theo.
Còn nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng lấy mẫu khảo sát doanh nghiệp có nội
dung dựa trên thang đo của mô hình nghiên cứu. Thực hiện kiểm định thống kê bằng hệ số
Cronbach’s Alpha được tiến hành nhằm xác định mức độ chặt chẽ và tin cậy của các thang
đo, là cơ sở loại bỏ các mục hỏi có độ tương quan thấp49. Bên cạnh đó, kiểm định KaiserMeyer-Olkin (KMO) được tiến hành nhằm xác định mức độ thích hợp của kết quả khảo sát
cho việc phân tích nhân tố50. Tiếp theo, nghiên cứu tiến hành phân tích nhân tố khám
phá51để rút gọn biến đo lường và phân tích hồi quy đa biến (Regression Analysis) nhằm
đánh giá các yếu tố thuộc tính địa phương tác động đến sự hài lòng của nhà đầu tư và mức
độ tác động của chúng. Bước nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng phần mềm SPSS
phiên bản 16.0 theo qui trình nghiên cứu. Kết quả phân tích sẽ làm cơ sở khuyến nghị các

đảo Phú Quốc, và ông Nguyễn Trọng Cường – Phó chi cục trưởng Chi cục thuế huyện Phú Quốc; bên cạnh
đó đã trao đổi, phỏng vấn nhà quản lý, nhà đầu tư của 5 doanh nghiệp: Công ty CP Ê Đen tại Phú Quốc,
Công ty TNHH Miramar, Công ty CP Sài Gòn – Phú Quốc, Công ty CP Dương Đông – An Thới, Công ty
LD TNHH Khu du lịch Veranda, (thống kê mô tả đặc trưng các doanh nghiệp phỏng vấn xem tại Phụ lục 3).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status