BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TỪ THỊ ĐỊNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA
GIÁ CHỨNG KHOÁN VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI:
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TỪ THỊ ĐỊNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA
GIÁ CHỨNG KHOÁN VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI:
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng
Mã Số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013
1.4
Phƣơng pháp nghiên cứu:...................................................................................... 4
1.5
Kết cấu của Đề tài ................................................................................................... 5
2. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN ............................................6
2.1
Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái: ............................ 6
2.2
Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và các biến kinh tế vĩ mô khác: .... 18
3. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................36
3.1
Tổng quan về thị trƣờng chứng khoán và các biến kinh tế vĩ mô: .................. 36
3.2
Dữ liệu nghiên cứu: .............................................................................................. 43
3.3
Phƣơng pháp nghiên cứu:.................................................................................... 43
Biểu đồ 3.2: Tỷ giá hối đoái tại Việt Nam (USD/VND)
3.
Biểu đồ 3.3: Chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam (%)
4.
Biểu đồ 3.4: Diễn biến giá dầu thế giới (OP)
1
TÓM TẮT
Thị trường chứng khoán là định chế tài chính cao nhất của một nền kinh tế phát
triển. Những biến động thăng trầm của thị trường với những rủi ro tiềm ẩn và lợi nhuận
vượt trội luôn là những chủ đề hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu kinh tế cũng như các nhà
đầu tư trên thị trường chứng khoán. Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam với tuổi
đời chưa nhiều nhưng đã mang lại không ít niềm vui và nổi buồn cho những ai quan tâm
đến chứng khoán từ khi thị trường ra đời cho đến nay.
Trong số các yếu tố tác động lên sự biến động của thu nhập từ thị trường chứng
khoán, thì các yếu tố thuộc về chính sách vĩ mô đã thu hút được khá nhiều sự quan tâm
của các nhà nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới. Tại Việt Nam, các biến số
kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số sản
xuất công nghiệp (IP), lãi suất, cung tiền và tỷ giá hối đoái … đã thu hút nhiều nghiên
cứu thực nghiệm của các học giả. Tuy nhiên, các kết luận xung quanh mối quan hệ giữa
các yếu tố vĩ mô đối với chỉ số giá chứng khoán không có một sự thống nhất rõ ràng giữa
các nghiên cứu.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam liên tục nhập siêu, cộng với áp
GIỚI THIỆU
1.1
Tính cấp thiết của Đề tài
Kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi rõ rệt, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân
và tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong giai đoạn 1985 – 1999 lần lượt đạt
6,4%/năm và 4,5%/năm; đạt 7,0% và 5,7% trong giai đoạn 2000 - 2012 (Worldbank
Indicators, 2013). Với sự kiện thành lập được thị trường giao dịch chứng khoán chính
thức vào năm 2000 và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007,
Chính Phủ Việt Nam đã thể hiện quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua chính
sách huy động các nguồn lực tài chính bao gồm cả trong nước và ngoài nước, trong đó
dòng vốn đầu tư từ nước ngoài đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế
(Solow, 1956).
Sau khi gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã có sự tăng trưởng kinh tế đáng kể,
thúc đẩy sự phát triển của thương mại, đầu tư, tự do hóa ngành Tài chính và thể hiện rõ
nhất là sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán . Thành tựu quan trọng mà thị
trường chứng khoán Việt Nam đạt được kể từ khi tham gia WTO chính là sự gia tăng
đáng kể của dòng vốn đầu tư vào thị trường trong nước. Trong số các nhân tố tác động
đến sự thay đổi của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thì sự ổn định tỷ giá hối
đoái là một nhân tố khá quan trọng. Sự thay đổi dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ ảnh
hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, qua đó ảnh hưởng đến sự thay đổi của chỉ số giá
chứng khoán. Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định mối quan
hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái. Trên cơ sở đó, đề tài “Mối quan hệ
giữa giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái – Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” sẽ
góp phần bổ sung thêm các kết quả thực nghiệm liên quan đến mối quan hệ giữa các biến
vĩ mô như tỷ giá hối đoái, lạm phát, giá dầu và chỉ số giá chứng khoán.
Bài viết được thực hiện dựa trên cơ sở dữ liệu chuỗi thời gian của chỉ số giá chứng
khoán (đại diện là Vn-Index) và tỷ giá hối đoái USD/VND trong giai đoạn từ tháng 11
Đầu tiên, Nghiên cứu áp dụng kiểm định ADF và PP được đề xuất bởi Dickey
and Fuller (1979, 1981) và Phillips-Perron (1988) để kiểm tra tính dừng của các chuỗi dữ
liệu.
Tiếp theo, Nghiên cứu kiểm định mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến bằng
phương pháp ARDL.
Cuối cùng, Tác giả ước lượng mối quan hệ ngắn hạn giữa chỉ số giá chứng khoán
và các biến kinh tế vĩ mô theo mô hình ARDL.
5
Nghiên cứu sử dụng phần mềm Eview 6.0 để thực hiện các kiểm định và ước
lượng cho dữ liệu chuỗi thời gian tại Việt Nam.
1.5
Kết cấu của Đề tài
Đề tài được thực hiện sẽ bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ
giữa chỉ số giá chứng khoán, tỷ giá hối đoái, lạm phát và giá dầu trong trường hợp của
Việt Nam với dữ liệu được sử dụng là dữ liệu chuỗi thời gian hàng tháng từ tháng 11
năm 2007 đến tháng 07 năm 2013.
Đề tài gồm có 5 phần như sau:
Phần Giới thiệu sẽ được tác giả giới thiệu tóm tắt các nội dung quan trọng của
Nghiên cứu như tính cấp thiết của Đề tài, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên
cứu, phạm vi và ý nghĩa của Nghiên cứu.
Phần thứ hai, tác giả sẽ giới thiệu tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
làm cơ sở lý thuyết cho Nghiên cứu này.
Phần thứ ba, tác giả sẽ giới thiệu về dữ liệu nghiên cứu, tổng quan về thị trường
chứng khoán và các biến số kinh tế vĩ mô, phương pháp nghiên cứu của Đề tài.
quốc gia và chỉ số thị trường chứng khoán IFC được thu thập từ Datastream và tỷ giá hối
đoái thực hàng tháng (REER) được cung cấp từ công ty Morgan Guaranty Trust tại New
York. Lý thuyết về chỉ số tỷ giá hối đoái thực theo Rhomberg (1981).
Đầu tiên, các Tác giả sử dụng kiểm định ADF theo Augmented Dickey-Fuller
(1979) để kiểm tra nghiệm đơn vị của các chuỗi dữ liệu. Kết quả kiểm định cho thấy,
chuỗi dữ liệu của tất cả các biến không dừng ở bậc gốc và chỉ dừng sau khi lấy sai phân
bậc 1. Tiếp theo, Nghiên cứu áp dụng phương pháp kiểm định đồng liên kết theo Engle
and Granger (1987) để xác định mối quan hệ dài hạn giữa các biến quan sát. Sau đó, các
Tác giả tiến hành kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger giữa các biến theo 2 phương
pháp: 1) Kiểm định nhân quả Granger chuẩn được thực hiện cho các biến không có mối
quan hệ đồng liên kết (tại Hàn Quốc và Pakistan); 2) Kiểm định nhân quả Granger dựa
trên mô hình ECM cho các biến có mối quan hệ đồng liên kết (tại Ấn Độ và Philippines)
vì sử dụng hình thức tự hồi quy vector chuẩn để sai phân dữ liệu đối với các biến có mối
7
quan hệ đồng liên kết là sai quy định theo MacDonald and Kearney (1987); Miller and
Russek (1990); Lyons and Murinde (1994).
Trước khi áp dụng kiểm định nhân quả Granger, các Tác giả cũng đã xác định độ
trễ tối ưu cho mô hình nghiên cứu. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn gồm Akaike’s final
prediction error criterion (FPE), Akaike’s information criterion (AIC) and the SchwartzBayes information criterion cho các kết quả trái ngược nhau. Do vậy, các Tác giả đã đề
xuất chọn độ trễ tối ưu theo tiêu chuẩn R2. Ngoài ra, Nghiên cứu cũng thực hiện các
kiểm định White, kiểm định Glejser and Ramsey để kiểm tra hiện tượng phương sai sai
số thay đổi; kiểm định Lagrange multiplier (LM) để kiểm tra hiện tượng tự tương quan;
kiểm định phá cấu trúc Chow.
Cuối cùng, các Tác giả kiểm định các mối tương tác giữa 4 thị trường tài chính
mới nổi bằng cách tính toán hệ số tương quan của các mức thu nhập trên các thị trường.
Theo Pindyck and Rubinfeld (1991, p. 64), phương pháp tương quan không liên quan đến
giả định ngầm của quan hệ nhân quả trong phân tích hồi quy, tuy nhiên các mối tương
trường chứng khoán có tác động nhân quả lên thu nhập từ thị trường ngoại hối và chịu
tác động nhẹ theo hướng ngược lại.
Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng ngày
của chỉ số thị trường chứng khoán và tỷ giá hối đoái (tỷ giá giữa đồng Rupi Ấn Độ và đô
la Mỹ) tại Ấn Độ. Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ tháng 3 năm 1993 đến tháng
12 năm 2002. Chỉ số chứng khoán S&P CNX NIFTY của Sở giao dịch chứng khoán
quốc gia Ấn Độ (NSE) được chọn để đại diện cho thị trường chứng khoán Ấn Độ. Để
phân tích mối quan hệ giữa chỉ số thị trường chứng khoán (NF) và tỷ giá hối đoái (ER)
tại Ấn Độ, đầu tiên các tác giả sử dụng phương pháp ADF theo Augmented DickeyFuller (1979) để kiểm định tính dừng của hai chuỗi dữ liệu. Tiêu chuẩn Schwarz
Criterion được chọn để tìm độ trễ tối ưu. Các dữ liệu được lấy logarit tự nhiên trước khi
phân tích. Kết quả kiểm định ADF cho thấy hai chuỗi dữ liệu có nghiệm đơn vị ở bậc ban
đầu và chỉ dừng ở sai phân bậc 1. Tiếp theo, phương pháp kiểm định đồng liên kết của
Johansen (1991) được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ dài hạn giữa hai biến. Kiểm định
Trace cho thấy NF và ER tại Ấn Độ không tồn tại mối quan hệ đồng liên kết. Sau cùng,
các tác giả tăng độ trễ lên trễ 5 với kỳ vọng 5 ngày giao dịch trong 1 tuần là giai đoạn đủ
9
để có được sự ảnh hưởng của một thị trường lên thị trường còn lại và thực hiện kiểm định
Granger để tìm kiếm quan hệ nhân quả giữa hai biến.
Kết quả nghiên cứu: Nath and Samanta (2003) tìm thấy rằng, đối với giai đoạn
mẫu đầy đủ, các kết quả đều đưa đến kết luận hai thị trường này đã không có bất kỳ mối
quan hệ nhân quả nào. Nếu kiểm tra theo từng năm, kết quả nghiên cứu cho thấy không
có bất kỳ mối quan hệ nhân quả quan trọng nào giữa tỷ giá và biến động giá cổ phiếu,
ngoại trừ một số năm gồm 1993, 2001 và 2002 có ảnh hưởng nhân quả một chiều từ thu
nhập của chỉ số chứng khoán lên thu nhập của thị trường ngoại hối được phát hiện (tương
ứng với trị thống kê F ở mức ý nghĩa 5%). Ảnh hưởng quan hệ nhân quả rất nhẹ theo
chiều ngược lại cũng được tìm thấy trong một số năm (1997, 2002). Những kết quả này
đã mở ra một số vấn đề thú vị liên quan đến tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu của mối quan
quốc gia. Kết quả của phương pháp VECM cho thấy có một mối quan hệ ngắn hạn tồn tại
giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái của Slovakia, và giá cổ phiếu của Đức. Kết quả kiểm
định Granger cho thấy một mối quan hệ tác động một chiều từ tỷ giá hối đoái lên giá cổ
phiếu trong trường hợp của Czech Republic, Hungary, Poland. Ngoài ra còn có bằng
chứng về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái của Hungary lên giá chứng khoán của Anh, tỷ
giá hối đoái từ Ba Lan lên giá cổ phiếu của Anh, từ tỷ giá hối đoái của Cộng hòa Séc lên
giá cổ phiếu Anh, và tỷ giá hối đoái của Slovakia lên giá cổ phiếu Anh. Và cuối cùng Tác
giả cũng tìm thấy bằng chứng về quan hệ nhân quả từ giá cổ phiếu với giá cổ phiếu trong
trường hợp của Hungary đến Anh, Anh đến Ba Lan và Hoa Kỳ đến Ba Lan.
2.1.4 Nghiên cứu của Rahman (2009) - Dynamic Relationship between Stock Prices
and Exchange Rates: Evidence from Three South Asian Countries
Mục đích chính của Nghiên cứu: Rahman (2009) kiểm tra mối quan hệ giữa chỉ
số giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái ở 03 nước Nam Á mới nổi gồm Bangladesh, India
and Pakistan.
Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời
gian hàng tháng từ tháng 1 năm 2003 đến tháng 6 năm 2008. Các biến nghiên cứu chính
gồm có tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa đồng Taka của Bangladeshi, đồng Rupee của
Indian và đồng Rupee của Pakistan với đồng đôla Mỹ và chỉ số chứng khoán Dhaka,
11
Bombay và Karachi. Đầu tiên, tác giả sử dụng hai kiểm định ADF và PP theo
Augmented Dickey-Fuller (1979) và Phillips & Perron (1988) để kiểm tra tính dừng của
các chuỗi dữ liệu. Kết quả kiểm định ADF và PP cho thấy, các chuỗi dữ liệu ban đầu của
tỷ giá hối đoái và chỉ số giá chứng khoán có nghiệm đơn vị và chỉ dừng ở sai phân bậc 1.
Tiếp theo, phương pháp kiểm định đồng liên kết theo Johansen and Juselius (1990) được
sử dụng để tìm kiếm mối quan hệ dài hạn giữa các biến. Sau cùng, tác giả sử dụng kiểm
định Granger dựa trên ước lượng VECM theo Granger (1988) để xác định mối quan hệ
nhân quả giữa các biến.
và PP đều cho thấy, trong cả 3 mô hình, hai chuỗi ER và ASI đều không dừng ở bậc gốc
và chỉ dừng khi lấy sai phân bậc 1. Tiếp theo, tác giả sử dụng cả hai phương pháp kiểm
định đồng liên kết của Engle & Granger (1987) và Johansen and Juselius (1990) để xác
định mối quan hệ dài hạn của các biến quan sát. Sau cùng, tác giả sử dụng phương pháp
VECM để ước lượng mối quan hệ dài hạn của các biến quan sát trong 3 mô hình và kiểm
định quan hệ nhân quả Granger để kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa các biến. Ngoài
ra, một số kiểm định như kiểm định Breusch and Godfrey đối với hiện tượng tự tương
quan, kiểm định White đối với hiện tượng phương sai sai số thay đổi cũng được tác giả
thực hiện.
Kết quả nghiên cứu chính: Aliyu (2009) đã tìm thấy giữa hai biến quan sát là chỉ
số giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái ở Nigeria có tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn.
Hơn nữa, kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger cũng cho thấy bằng chứng mạnh
mẽ của mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái trong các mô
hình.
2.1.6 Nghiên cứu của Richards và Simpson (2009) - The Interaction between
Exchange Rates and Stock Prices: An Australian Context
Mục đích chính của Nghiên cứu: Richards và Simpson (2009) điều tra mối quan
hệ giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái tại Úc và sau đó mở rộng các phân tích để điều tra
những thay đổi trong các biến kinh tế trọng điểm và các mối quan hệ giữa những thay đổi
thông qua quá trình kiểm tra quan hệ nhân quả Granger-Sim. Động lực cho nghiên cứu
13
này là để kiểm tra mức độ tương tác giữa giá cổ phiếu và biến động tỷ giá ở Úc theo ngày
từ năm 2003 đến năm 2006. Trong giai đoạn này, giá trị của thị trường chứng khoán Úc
tăng hai phần ba, trong khi tỷ giá đô la Úc được định giá cao khoảng 32% so với đồng đô
la Mỹ. Điều này có nghĩa là một mối quan hệ tích cực mạnh tồn tại giữa hai biến trong
khoảng thời gian quan sát.
2.1.7 Nghiên cứu của Agrawal (2010) - A Study of Exchange Rates Movement and
Stock Market Volatility
Mục đích chính của Nghiên cứu: Agrawal (2010) kiểm tra các động thái giữa sự
biến động của lãi cổ phiếu (SP) và sự dịch chuyển của tỷ giá hối đoái giữa đồng Rupi và
đôla Mỹ (ER) về mức độ phụ thuộc lẫn nhau và quan hệ nhân quả.
Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo ngày
trong khoảng thời gian ngày 11 tháng 10 năm 2007 đến ngày 09 tháng 03 năm 2009 cho
hai biến quan sát chính trong mô hình là tỷ giá hối đoái giữa đồng Rupee của Ấn Độ và
đôla Mỹ (ER) và chỉ số giá chứng khoán Nifty index của Sở giao dịch chứng khoán Ấn
Độ (SP). Trước khi phân tích, dữ liệu của 2 biến ER và SP được chuyển thành logarit tự
nhiên. Đầu tiên, tác giả áp dụng kiểm định Jarque-Bera (JB) theo Gujarati (2003) để
kiểm tra phân bố xác suất của từng biến quan sát. Tiếp theo, tác giả sử dụng kiểm định
ADF theo Augmented Dickey-Fuller (1979) để kiểm tra tính dừng của các chuỗi dữ liệu,
kết quả kiểm định ADF cho thấy hai chuỗi ER và SP đều dừng, Do vậy, tác giả sử dụng
kiểm định Bivariate Granger để xác định mối quan hệ giữa hai biến quan sát. Các tiêu
chuẩn gồm final prediction error (F & E), AKaike information criterion (AIC), Schwarz
information criterion (SC) và Hannan–Quin information criterion (HQ) được xem xét để
chọn độ trễ tối ưu.
Kết quả nghiên cứu chính: Agrawal (2010) cho thấy rằng thu nhập của chỉ số
Nifty cũng như tỷ giá hối đoái tại Ấn Độ đều không phải là phân phối chuẩn. Thông qua
kiểm tra nghiệm đơn vị, tỷ giá hối đoái và thu nhập của chỉ số Nifty đều dừng ở chuỗi
ban đầu. Mối tương quan giữa thu nhập của chỉ số Nifty và tỷ giá hối đoái đã được tìm
thấy là ngược chiều. Kiểm tra sâu hơn vào mối quan hệ nhân quả giữa hai biến sử dụng
kiểm định nhân quả Granger cho thấy có tồn tại mối quan hệ một chiều giữa thu nhập của
chỉ số Nifty và tỷ giá hối đoái.
15
2.1.8 Nghiên cứu của Lee (2012) - A Study of the Causal Relationship between Real
Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ được sử dụng trong nghiên cứu này được lấy từ IMF, tổ chức Thống
kê tài chính quốc tế (IFS) và kéo dài trong giai đoạn 2001:08 đến 2009:08 để trên cơ sở
hàng tháng.
Kết quả nghiên cứu: cho thấy có tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá hối đoái,
giá chứng khoán tại Thổ Nhĩ Kỳ và giá chứng khoán tại Mỹ. Tỷ giá hối đoái có tác động
ngược chiều, trong khi thị trường chứng khoán Mỹ có một tác động cùng chiều lên thị
trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn phân tích. Kết quả này chỉ ra rằng, thị
trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ được hội nhập với thế giới. Kiểm định quan hệ nhân
quả xác định rằng có mối quan hệ hai chiều giữa tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu Thổ Nhĩ
Kỳ. Ngoài ra, mối quan hệ ngắn hạn được duy trì giữa các thị trường chứng khoán Thổ
Nhĩ Kỳ và tỷ giá hối đoái.
2.1.10 Nghiên cứu của Kisaka (2012) - The Causal Relationship between Exchange
Rates and Stock Prices in Kenya
Mục đích chính của Nghiên cứu: Kisaka (2012) kiểm tra mối quan hệ giữa tỷ giá
hối đoái và giá chứng khoán tại Kenya, thiết lập mối liên hệ nhân quả giữa sự truyền giá
cả vào thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán Nairobi.
Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu về giá chứng
khoán tại Kenya đại diện là chỉ số NSE 20-share Index (SP) và tỷ giá hối đoái giữa đồng
Shilling và đôla Mỹ (ER) từ tháng 11 năm 1993 đến tháng 5 năm 1999. Nghiên cứu giả
định giữa SP và ER tại Kenya tồn tại mối quan hệ ngược chiều và có tác động nhân quả
từ tỷ giá hối đoái lên giá chứng khoán. Tác giả sử dụng mô hình Bivariate VAR theo
Granger (1969) để xác định mối quan hệ nhân quả giữa hai biến quan sát. Trước đó, kiểm
định nghiệm đơn vị ADF theo Augmented Dickey-Fuller (1979) được sử dụng để kiểm
tra tính dừng của các chuỗi dữ liệu. Kết quả kiểm định ADF cho thấy, SP và ER là các
chuỗi có nghiệm đơn vị ở chuỗi ban đầu. Do đó, tác giả sử dụng phương pháp kiểm định
đồng liên kết theo Engle and Granger (1987) để xác định mối quan hệ dài hạn giữa các
biến. Cuối cùng, tác giả kiểm định quan hệ nhân quả Granger dựa trên mô hình VECM.
18
trường ngoại hối trong nền kinh tế Hàn Quốc để ngăn chặn hiện tượng lan truyền sự bất
ổn của thị trường chứng khoán lên thị trường ngoại hối.
2.2
Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và các biến kinh tế vĩ mô khác:
2.2.1 Nghiên cứu của Parsva và Lean (2011) - The Analysis of Relationship between
Stock Prices and Exchange Rates: Evidence from Six Middle Eastern Financial
Markets
Mục đích chính của nghiên cứu: Parsva và Lean (2011) tìm kiếm mối quan hệ
nhân quả hai chiều giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái trong cả ngắn hạn và dài hạn.
Ngoài ra, các Tác giả cũng bổ sung vào nghiên cứu các yếu tố kinh tế vĩ mô khác gồm lãi
suất, tỷ lệ lạm phát và giá dầu để xem xét mối quan hệ với chỉ số giá chứng khoán.
Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu: Các tác giả sử dụng dữ liệu của sáu quốc
gia Trung Đông, cụ thể là Ai Cập, Iran, Jordan, Kuwait, Oman, và Ả Rập Saudi trước và
trong khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 diễn ra. Các biến trong Nghiên
cứu được thu thập từ tháng 1 năm 2004 đến tháng 9 năm 2010. Các biến như chỉ số giá
chứng khoán (SP), tỷ giá hối đoái (ER) và giá dầu (OP) được lấy logarit tự nhiên, trong
khi đó các biến còn lại gồm tỷ lệ lạm phát và lãi suất được giữ ở đơn vị %. Đầu tiên,
nghiên cứu sử dụng kiểm định ADF và PP để kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu.
Độ trễ tối ưu được lựa chọn theo tiêu chuẩn Akaike Information Criteria (AIC). Phương
pháp đồng liên kết của Johansen (2000) được sử dụng để kiểm định mối quan hệ cân
bằng dài hạn giữa các biến. Cuối cùng, mô hình VECM được sử dụng để ước lượng mối
quan hệ dài hạn, kiểm định Granger cũng được thực hiện để xem xét mối quan hệ nhân
quả giữa các biến.
có sự khác nhau. Cụ thể: tại Malaysia, tỷ lệ lạm phát kỳ vọng, tỷ lệ lạm phát thực tế, tỷ
giá hối đoái, lãi suất tác động ngược chiều lên sự thay đổi của giá chứng khoán, trong khi
đó GDP có tác động cùng chiều lên giá chứng khoán. Tại Mỹ, tỷ lệ lạm phát kỳ vọng, tỷ
lệ lạm phát thực tế, tỷ giá hối đoái, lãi suất tác động cùng chiều lên sự thay đổi của giá
chứng khoán, trong khi đó GDP có tác động ngược chiều lên giá chứng khoán. Tại Trung
Quốc, tỷ lệ lạm phát kỳ vọng, tỷ lệ lạm phát thực tế, tỷ giá hối đoái tác động ngược chiều
lên sự thay đổi của giá chứng khoán, trong khi đó, lãi suất và GDP có tác động cùng