THỰC TRẠNG HỦY BỎ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
TẠI BVNT HÀ NỘI.
I.VÀI NÉT VỀ BẢO VIỆT NHÂN THỌ HÀ NỘI.
1.1.Quá trình hình thành và phát triển.
Tập đoàn tài chính-bảo hiểm Bảo Việt mà tiền thân là Tổng công ty bảo hiểm
Việt Nam( hay trước kia là Công ty bảo hiểm Việt Nam) được thành lập theo Quyết
định 179/CP ngày 17/12/1964 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động
từ ngày 15/01/1965.
Năm 1980, Bảo Việt chính thức có mạng lưới cung cấp dịch vụ trên khắp cả
nước.Vào cuối thập niên 80- 1987, Công ty bảo hiểm Việt nam (nay là tập đoàn Bảo
Việt) đã nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ với việc triển khai đề tài “Bảo hiểm nhân thọ
và việc vận dụng vào Việt nam”.
Ngày 20/03/1996 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành quyết định số
281/TC/TCNH cho phép Bảo Việt triển khai thí điểm bảo hiểm nhân thọ.Như vậy, sau
gần 10 năm nghiên cứu, Bảo Việt đã mở ra sự phát triển của một lĩnh vực dịch vụ mới
tại Việt Nam-bảo hiểm nhân thọ, với việc chính thức triển khai bảo hiểm nhân thọ trên
phạm vi cả nước.
Ngày 22/06/1996, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ của Bảo Việt được thành lập theo
quyết định số 568/TC/QĐ/TCCB của Bộ trưởng Bộ tài chính, nhằm phục vụ nhu cầu về
bảo hiểm nhân thọ cho mọi tầng lớp nhân dân.
Ngày 01/08/1996, Bảo Việt triển khai hai sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đầu tiên.
Đó là “Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 năm, 10 năm” và “ chương trình đảm bảo cho
trẻ em đến tuổi trưởng thành”.
Ngày 01/01/1998, Tổng công ty bảo hiểm Việt nam thành lập một phòng quản lý
về bảo hiểm nhân thọ riêng nhằm quản lý tốt hơn tình hình hoạt động của các công ty
đóng tại các địa phương. Do vậy, Công ty Bảo hiểm Nhân Thọ được đổi tên thành Bảo
Việt Nhân Thọ Hà Nội, và chỉ thực hiện chức năng quản lý tình hình kinh doanh trên
địa bàn thủ đô.
Theo chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt nam đến năm 2010 của
Chính Phủ, Bảo Việt sẽ được xây dựng thành một Tập đoàn tài chính đa ngành, có năng
lực tài chính vững mạnh, kinh doanh theo tiêu chuẩn quốc tế sau năm 2005.
nghiệm lâu năm trên thị trương quốc tế, thì Bảo Việt Nhân thọ Hà nội phải nỗ lực hơn
nữa để tồn tại và phát triển cũng như giữ vững được vị thế và vai trò là “đầu tàu” trong
hệ thống Bảo Việt Nhân Thọ của Bảo Việt.
1.2. Cơ cấu tổ chức.
Cùng với sự phát triển của công ty, cơ cấu tổ chức và công tác quản lý của Bảo
Việt Nhân Thọ Hà Nội ngày càng được hoàn thiện theo hướng nâng cao hiệu quả quản
lý và chất lượng phục vụ khách hàng. Hiện nay bộ máy của công ty Bảo Việt Nhân Thọ
Hà Nội bao gồm: 1 Ban Giám đốc, 7 phòng chức năng và 22 phòng khai thác thể hiện ở
sơ đồ sau:
BAN GIÁM ĐỐC
Phòng phát hành hợp đồng Phòng phát triển và quản lý đại lýPhòng market-ingPhòng dịch vụ khách hàngPhòng tài chính kế toán Phòng tin họcPhòng tổng hợp
22 phòng khai thác
Tổ đại lý
Đại lý
Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức của công ty BVNT Hà Nội
Ban giám đốc: Ban giám đốc của BVNT Hà nội gồm 1 giám đốc và 2 phó giám
đốc.
_ Giám đốc:Chức danh giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm,
khen thưởng hay kỷ luật theo đề nghị của Tổng giám đốc. Giám đốc là người có quyền
điều hành cao nhất của công ty, đồng thời giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật cũng như trước Hội đồng quản trị về tình hình hoạt động của công ty.
_ Phó giám đốc: là người trợ giúp giám đốc trong việc điều hành một số lĩnh vực
hoạt động của công ty. Phó giám đốc do Giám đốc phân công và phải chịu trách nhiệm
trước giám đốc về nhiệm vụ được giao.
Các phòng chức năng: Các phòng chức năng trong bộ máy quản lý của công ty
có chức năng tham mưu cho lãnh đạo công ty và thực hiện các mặt công tác về chức
năng nhiệm vụ mà mình quản lý.
_ Phòng tổng hợp: Có chức năng tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, hành chính,
quản trị, tổng hợp, pháp chế.
• Công tác hành chính quản trị: công văn đến, công văn đi, quản lý dấu của công ty, sắp
nhân thọ.
• Đề xuất và làm đầu mối thực hiện việc mở rộng các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm
nhân thọ
• Tổ chức, quản lý, kiểm tra giám sát hoạt động của lực lượng bán sản phẩm BHNT và
thực hiện các chế độ chính sách đối với đại lý BHNT
• Xây dựng và tổ chức các phong trào thi đua trong đại lý BHNT
• Quản lý theo dõi, giám sát đôn đốc thực hiện các công việc trong lĩnh vực phát triển và
quản lý đại lý tại các phòng phục vụ khách hàng khu vực.
_ Phòng Tin học:
• Quản trị cơ sở dữ liệu của công ty và hệ thống các chương trình phần mềm tin học
• Đảm bảo hoạt động hệ thống thông tin trong công ty
• Phối hợp với các phòng liên quan tập hợp số liệu báo cáo định kỳ chuyển về công ty,
thực hiện sao lưư dữ liệu theo qui định
• Quản lý đào tạo và hướng dẫn về công tác tin học trong công ty
• Phát triển hệ thống thông tin của công ty theo định hướng của Tổng công ty.
_ Ban kinh doanh: Hiện nay, BVNT Hà Nội có tất cả 22 ban kinh doanh. Các ban này
có trách nhiệm chính là thực hiện công tác khai thác hợp đồng BHNT ở các địa bàn mà
mình phụ trách. Mỗi ban lại gồm các tổ nhóm đại lí và mỗi tổ này bao gồm các tư vấn
viên và thu ngân viên. Các ban chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Ban giám đốc và dưới sự
điều hành của các trưởng ban.Ngoài ra, BVNT Hà Nội còn tổ chức khai thác BHNT qua
việc thành lập các tổ bán chuyên nghiệp và các nhóm kinh doanh đến tận các thị trấn,
thôn như: Tổ bán chuyên nghiệp ở Thành công, nhóm tư vấn viên Vân Hà tại thôn Thiết
Ứng, xã Vân Hà, Đông Anh.
1.3. Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của
BVNT Hà Nội
1.3.1. Thuận lợi
_ Về môi trường kinh tế- xã hội: Trải qua hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt
được những thành tựu vô cùng quan trọng cả về kinh tế- chính trị- xã hội. Từ một nước
nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, Việt nam đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo lớn
thứ hai thế giới, và là nước đạt được khá nhiều thành tựu trong công cuộc công nghiệp
tranh với những đối thủ này sẽ giúp Bảo Việt nói chung và Bảo Việt Nhân Thọ Hà nội
nói riêng có cơ hội để tự nhìn nhận, đánh giá lại mình nhằm rút ra những mặt còn hạn
chế để tim giải pháp khắc phục. Bên cạnh đó, đây còn là điều kiện tốt để công ty xem
xét, nghiên cứu và chắt lọc những tinh hoa, tiến bộ của đối thủ để áp dụng một cách
linh hoạt sáng tạo phù hợp với điều kiện tình hình thực tế của công ty nhằm hoạt động
một cách có hiệu quả.
_ Về môi trường pháp lý: Hiện nay, Nhà nước đã quan tâm hơn đến việc khuyến
khích sự phát triển ngành bảo hiểm Việt nam với sự ra đời của hàng loạt các văn bản
pháp luật như: Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Nghị định 45 thay thế cho Nghị
định 42 qui định một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm, Nghị định 46 thay thế cho
Nghị định 43 qui định một số qui chế tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm.Thông tư
98, 99(2004)hướng dẫn thi hành luật kinh doanh bảo hiểm, Nghị định 118 về xử phạt vi
phạm trong kinh doanh bảo hiểm, Quyết định 175 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt
chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2003-2010 đã tạo môi trường pháp
lý thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
_ Đi đôi với việc đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao thì trình độ dân trí
và nhận thức của đại đa số các tầng lớp dân cư về bảo hiểm cũng ngày được cải thiện
đáng kể. Đến nay, “Bảo hiểm” không còn là khái niệm xa lạ với nhiều người, đồng thời
ý thức về sự cần thiết của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng đang
từng bước được định hình một cách rõ nét trong tư duy của các doang nghiệp cũng như
trong cộng đồng các tầng lớp dân cư.
_ Về phía mình, BVNT Hà nội là đầu tàu của hệ thống Bảo Việt Nhân thọ, đồng
thời cũng là một thành viên xuất sắc của Tập đoàn tài chính- bảo hiểm Bảo Việt. Do
vậy, công ty cũng nhận được sự ưu ái từ phía Nhà nước. Hơn nữa, đựợc thành lập từ
giai đoạn thử nghiệm nên BVNT Hà nội có những lợi thế hơn hẳn các doanh nghiệp
khác. Công ty có được nhiều cơ hội hơn trong việc khai thác thị trường, tìm hiểu và
nắm bắt được tâm lý khách hàng, đúc kết được những kinh nghiệm kinh doanh cũng
như trong công tác đào tạo đại lý…Bảo Việt nhân thọ Hà nội cũng là doang nghiệp trả
tiền đáo hạn đầu tiên cho khách hàng, tạo được sự tin tưởng về công tác dịch vụ khách
hàng, về “lời hứa” của doanh nghiệp, tạo ra một cơ hội nâng cao uy tín, tạo dựng niềm
cơ chế tiền lương kém linh hoạt. Điều này cũng phần nào ảnh hưởng tới sức cạnh tranh
của công ty.
Nhận thức của khách hàng về bảo hiểm đang ngày càng được cải thiện và điều đó
đem lại cho công ty những thuận lợi không nhỏ. Song, cùng với đó thì yêu cầu và đòi
hỏi của khách hàng về sản phẩm cũng như dịch vụ của công ty ngày càng cao. Điều này
khiến công ty gặp không ít khó khăn trong việc đáp ứng thỏa mãn những nhu cầu chính
đáng, phong phú đa dạng của khách hàng.
Như vậy, những thuận lợi và khó khăn chung của thị trường cũng như của riêng
công ty Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội luôn tồn tại đan xen lẫn nhau, đòi hỏi công ty phải
nghiên cứu và đưa ra những chính sách thích hợp để phát huy những lợi thế đồng thời
nhằm hạn chế những bất lợi để không ngừng vươn lên, kinh doanh có hiệu quả, xứng
đáng là cánh chim đầu đàn trong hệ thống Bảo Việt Nhân Thọ.
1.4. Các sản phẩm đang triển khai tại công ty
Ngày 01/08/1996, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ở Việt nam được phát
hành tại Bảo Việt Nhân Thọ. Hơn 11 năm qua, cùng với sự phát triển của thị trường,
các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt cũng như Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội
ngày càng được cải tiến và có những bước tiến quan trọng đáng ghi nhận.
Bắt đầu từ những sản phẩm bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, rồi đến các sản phẩm
khác phù hợp với nhu cầu và mong muốn của thị trường, đến nay Bảo Việt Nhân Thọ
Hà Nội đã triển khai đầy đủ 4 nhóm sản phẩm: bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm tử kỳ, bảo
hiểm trọn đời và Niên kim nhân thọ. Bên cạnh đó còn có khác điều khoản bổ sung
nhằm bảo vệ cũng như gia tăng lợi ích cho khách hàng khi gặp phải rủi ro trong thời
gian tham gia bảo hiểm.
Các sản phẩm chính của công ty là:
1. An gia thịnh vượng:BV-NA11/2001; BV-NA12/2001; BV-NA13/2001 với thời
hạn bảo hiểm lần lượt là 10, 15, 20 năm.
2. An khang trường thọ: BV-NC2/2001.
3. An hưởng hưu trí: BV-ND2/2001.
4. An bình hưu trí: BV-ND3/2001.
5. An gia tài lộc: BV-NA14/2003; BV-NA15/2003; BV-NA16/2003; BV-
đoạn 2003-2007.
Trong những năm qua, cùng với sự lớn mạnh không ngừng của Bảo Việt Nhân
Thọ, BVNT Hà nội cũng đã thu được những kết quả to lớn trên thị trường bảo hiểm
nhân thọ Việt nam. Doanh thu của công ty tăng liên tục qua các năm và luôn chiếm một
thị phần quan trọng trong thị trường BHNT. Điều này cho thấy BVNT Hà nội đang tự
khẳng định mình trên thị trường BHNT Việt nam.
Bảng 3: Kết quả kinh doanh của BVNT Hà Nội (2003-2007)
Năm
Chỉ tiêu
2003 2004 2005 2006 2007
Số HĐKTM(HĐ)
18519 13132 10901 9741 10196
Tốc độ tăng (%) _ -29,09 -16,99 -10,64 4,67
PĐTKTM (tỷ đồng) 28,067 20,846 17,018 18,613 23,695
Tốc độ tăng (%) _ -25,72 -18,36 9,37 27,3
PĐTKTM/HĐKTM (triệu
đồng/HĐ)
1,51 1,58 1,56 1,91 2,32
Tổng doanh thu (tỷ đồng) 204 215 212 212 220
Tốc độ tăng (%) _ 5,39 -1,39 0 3,77
Nguồn: Bảo Việt Nhân Thọ Hà nội
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, do thị trường cạnh tranh gay gắt, mà 5 năm
qua số hợp đồng khai thác mới của công ty liên tục giảm. Năm 2003 là 18519 hợp đồng
đến năm 2004 giảm mạnh 29,09% xuống còn 13132 hợp đồng. Năm 2005 số hợp đồng
khai thác mới tiếp tục giảm xuống còn 10901 hợp đồng tức là giảm 16,99% so với năm
2004. Và năm 2006 con số này là 9741 hợp đồng bằng 89,36% năm 2005. Riêng năm
2007 số hợp đồng khai thác mới có chút khởi sắc tăng 4,67% tương ứng với 10196 hợp
đồng. Nguyên nhân của hiện tượng số hợp đồng khai thác mới giảm mạnh trong các
năm 2004, 2005, 2006 là do đây được coi là 3 năm khủng hoảng của thị trường bảo
góp vào thành tích chung, BVNT Hà Nội năm 2003 đạt doanh thu 204 tỷ đồng. Năm
2005, năm 2006 thị trường BHNT phải đối đầu với xu hướng bão hòa và hủy bỏ hợp
đồng cho nên doanh thu phí 2 năm nay của BVNT Hà Nội có sự giảm sút và chững
lại( đạt 212 tỷ đồng doanh thu). Nhưng đến năm 2007 có sự khởi sắc trở lại BHNT làm
cho doanh thu năm nay của BVNT Hà Nội tăng lên con số là 220 tỷ đồng. Như vậy, tốc
độ tăng trưởng bình quân của doanh thu trong 5 năm này là 1,90%. Trong đó, tăng cao
nhất là năm 2007(đạt 220 tỷ) do trong năm này, kinh tế thủ đô tiếp tục tăng trưởng và
ổn định ở mức khá cao, thu nhập bình quân của người dân ổn định đã tạo điều kiện thuậ
lợi cho việc phát triển BHNT. Bên cạnh đó, do trong năm 2007, công ty đã cung cấp
nhiều sản phẩm mới đem lại cho khách hàng nhiều lựa chọn hơn. Hơn nữa, sau một thời
gian xâm nhập thị trường, đến nay một số công ty BHNT nước ngoài đã có những biểu
hiện chững lại và không còn giữ được chất lượng phục vụ như ban đầu. Do vậy, kết quả
mà công ty thu được tương đối khả quan. Công ty cần nỗ lực hơn nữa để phát huy
những kết quả đạt được.
Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty không chỉ được thể hiện ở các chỉ
tiêu số hợp đồng khai thác mới, phí đầu tiên khai thác mới, tổng doanh thu mà còn được
thể hiện ở đội ngũ cán bộ, đại lý tư vấn viên mà công ty sử dụng. Vì đại lý, tư vấn viên
là lực lượng bán hàng nòng cốt và hiệu quả nhất của công ty.
Bảng 4: Tổng số đại lý và tư vấn viên tuyển mới của BVNT Hà nội (2003-2007).
Năm
Chỉ tiêu
2003 2004 2005 2006 2007
TVV tuyển mới(người) 1053 429 358 229 243
Tổng số đại lý (người) 1375 1263 990 825 880
Nguồn: Bảo Việt Nhân Thọ Hà nội
Từ bảng số liệu ta có thể thấy số tư vấn viên tuyển mới cũng như tổng số đại lý
đều giảm qua các năm 2003, 2004,2005, 2006 trong đó giảm mạnh nhất là năm 2004-
năm mở đầu cho chuỗi 3 năm khủng hoảng của BHNT. Năm 2003 số tư vấn viên tuyển
mới là 1053 người thì năm 2004 chỉ còn là 429 người tức là giảm 59,26%. Lý do số
lượng tư vấn viên tuyển mới cũng như số đại lý giảm mạnh đó là do thị trường BHNT
cho những hợp đồng 5 năm này. Vì vậy, chi đáo hạn năm 2005 lên tới 140 tỷ đồng.
Đánh giá hiệu quả kinh doanh của BVNT Hà Nội
Đánh giá hiệu quả kinh doanh là cách đánh giá chính xác nhất về tình hình hoạt
động của một doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh theo doanh thu phí là sự so sánh giữa
chi phí bỏ ra và doanh thu phí thu về được. Nó phản ánh 1 đồng chi phí bỏ ra công ty sẽ
thu được bao nhiêu đồng doanh thu.Còn hiệu quả kinh doanh theo lợi nhuận là sự so
sánh giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận thu về. Hiệu quả kinh doanh của BVNT Hà Nội
giai đoạn 2005- 2007 được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 6: Hiệu quả kinh doanh của BVNT Hà Nội(2005-2007).
Chỉ tiêu
Năm
Doanh thu
(triệu đồng)
Chi phí (triệu
đồng)
Lợi nhuận
(triệu đồng)
Doanh thu/chi
phí
Lợi nhuận/Chi
phí
2005 212.000 164.687 47.313 1,287 0,287
2006 212.000 150.970 61.030 1,404 0,404
2007 220.000 164.530 55.470 1,337 0,337
Nguồn: Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội
Từ bảng số liệu trên ta có thể thấy rằng hiệu quả kinh doanh của công ty mặc dù có
sự biến động tăng giảm nhưng trong suốt 3 năm công ty đều kinh doanh có lãi. Năm
2005 tỷ lệ doanh thu/ chi phí đạt 1,287 tức là với một đồng chi phí bỏ ra công ty thu
được 1,287 đồng doanh thu và 0,287 đồng lợi nhuận. Năm 2006 mặc dù tình hình khai
thác mới có sự giảm sút nhưng do quản lí được chặt chẽ các khoản chi, chi tiết kiệm và
Khi yêu cầu huy bỏ HĐBH người tham gia bảo hiểm phải lập thành văn bản
chuyển cho DNBH chậm nhất là 15 ngày trước ngày đến hạn nộp phí tiếp theo.Thời hạn
này không áp dụng đối với hợp đồng nộp phí 1 lần.Với những HĐBH dài hạn (>1 năm)
thì DNBH sẽ trả cho người tham gia bảo hiểm giá trị giải ước của hợp đồng nếu hợp
đồng có hiệu lực từ 2 năm trở lên ngay tại thời điểm huỷ bỏ hợp đồng.
DNBH khi nhận được văn bản yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng của bên mua bảo hiểm
phải chấp nhận yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng này.Sau đó doanh nghiệp sẽ khẩn trương tiến
hành kiểm tra quá trình nộp phí của khách hàng, thời gian hợp đồng có hiệu lực tính
đến thời điểm hợp đồng huỷ bỏ…để nhanh chóng xét duyệt hồ sơ và giải quyết việc
huỷ bỏ hợp đồng cho khách hàng.
Tại Khoản 2 Điều 19 Luật kinh doanh bảo hiểm cũng qui định về DNBH có
quyền đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH trong các trường hợp sau:
• Bên mua bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết HĐBH để
được trả tiền bảo hiểm hoặc được bảo hiểm( qui định tại mục a khoản 2 điều 19 Luật
KDBH).
• Bên mua bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin cho DNBH
trong trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của
DNBH trong quá trình thực hiện HĐBH( qui định tại mục b khoản 2 điều 19 Luật
KDBH).
• Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo
hiểm thì DNBH có quyền huỷ bỏ hợp đồng và hoàn trả số phí bảo hiểm đã thu cho bên
mua bảo hiểm sau khi đã trừ đi những chi phí có liên quan.Các chi phí này bao gồm chi
phí đánh giá rủi ro, chi phí kiểm tra sức khoẻ, chi phí phát hành hợp đồng…
• Trong trường hợp phí bảo hiểm được đóng nhiều lần và bên mua bảo hiểm
đã đóng một hoặc một số lần phí bảo hiểm nhưng không thể đóng được các khoản phí
bảo hiểm tiếp theo thì sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày gia hạn đóng phí, DNBH có
quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng( khoản 3 điều 23 Luật KDBH).
• Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến
tăng các rủi ro được bảo hiểm thì DNBH có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian
còn lại của HĐBH.Nếu bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm thì