Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển tại Tập đoàn công
nghiệp tàu thủy Việt Nam (VINASHIN)
I. Tổng quan về Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam
1. Quá trình hình thành và phát triển của VINASHIN
1.1. Giới thiệu về VINASHIN
Tên giao dịch: Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam – VINASHIN
Trụ sở: 172 Ngọc Khánh - Hà Nội
Chủ Tịch Hội đồng Quản trị: Ông Phạm Thanh Bình
Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vietnam Shipbuilding Industry Group
- VINASHIN) là một trong 8 tập đoàn kinh tế của Việt Nam do Nhà nước nắm quyền sở
hữu chi phối. Tập đoàn được thành lập năm 2006 trên cơ sở tổ chức và sắp xếp lại Tổng
công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, một tổng công ty 91 ra đời từ năm 1996.
Ngành nghề kinh doanh chính của VINASHIN là đóng mới và sửa chữa tàu thủy, một
ngành có truyền thống rất lâu đời ở Việt Nam.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của VINASHIN
* Ngày 31 tháng 01 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 69/TTg
về việc thành lập Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam, tên viết tắt là
VINASHIN trên cơ sở sắp xếp và tổ chức lại các đơn vị thành viên trong Liên hiệp các
xí nghiệp đóng tàu Việt Nam - tổ chức tiền thân của VINASHIN ra đời năm 1972. Khi
mới được thành lập, Tổng công ty có 23 đơn vị thành viên với gần 5.500 cán bộ công
nhân viên.
* Năm 1999, Công ty HYUNDAI – VINASHIN, liên doanh đầu tiên của Việt
Nam trong ngành công nghiệp tàu thủy được thành lập. Sự kiện này đánh dấu quá trình
hội nhập quốc tế của VINASHIN.
* Năm 2002, VINASHIN bàn giao con tàu 11.500 tấn đầu tiên tại Nhà máy đóng
tàu Bạch Đằng. Đây là sự kiện mang tính bước ngoặt đối với VINASHIN khi lần đầu
tiên đóng thành công một con tàu có trọng tải lớn.
* Năm 2004, VINASHIN ký được hợp đồng đóng tàu quốc tế lớn đầu tiên với
Graig Investment Group của Anh (trị giá hợp đồng 322,5 triệu USD) đóng 15 tàu chở
hàng trọng tải 53.000 DWT. Uy tín của VINASHIN trên thị trường công nghiệp tàu
thủy thế giới được nâng cao rõ rệt.
về việc thành lập Công ty mẹ Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, Tập đoàn đã
thành lập và kiện toàn tổ chức 02 Tổng Công ty (Tổng Công ty CNTT Nam Triệu và
Tổng Công ty CNTT Bạch Đằng) trong số 08 Tổng Công ty Nhà nước hoạt động theo
mô hình công ty mẹ - công ty con với cơ cấu 100% vốn của Công ty mẹ là Tập đoàn
Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam.
- Tập đoàn liên tục hạ thủy và bàn giao các sản phẩm tàu xuất khẩu đa
dạng cho Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh Quốc, Đan Mạch... Với thành công này, các cơ sở
đóng tàu của VINASHIN đã vượt qua các yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn kỹ thuật
quốc tế, đủ năng lực hội nhập và cạnh tranh toàn cầu trên lĩnh vực công nghiệp đóng và
sửa chữa tàu.
- Lần đầu tiên VINASHIN đã thành công trong lĩnh vực hội nhập vận tải
quốc tế với sự kiện con tàu VINASHIN VICTORY của Công ty Vận tải Biển Đông chở
47.000 tấn dầu cập cảng San Francisco (Hoa Kỳ).
- Năm 2007, các sản phẩm công nghiệp phụ trợ của VINASHIN sau một
thời gian đầu tư cũng lần lượt có mặt trên thị trường như: mẻ thép tấm đóng tàu đầu
tiên ra lò; những chiếc container đầu tiên được sản xuất trên dây chuyền đồng bộ, hiện
đại bậc nhất trong khu vực; các sản phẩm nội thất tàu thủy kỹ thuật cao mà trước đây
đều phải nhập ngoại... Với những bước đi này VINASHIN đã từng bước chủ động
nguồn cung cấp vật tư chủ yếu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong công nghiệp tàu thủy.
- VINASHIN đã tổ chức phát hành thành công trái phiếu doanh nghiệp
trong nước với tổng trị giá 8.300 tỷ VNĐ và lần đầu tiên vay các tổ chức tài chính quốc
tế không kèm điều kiện bảo lãnh Chính phủ với tổng trị giá 600 triệu USD. Sau kết quả
bước đầu thực hiện kiểm toán theo tiêu chuẩn quốc tế, hệ số tín nhiệm của VINASHIN
được đánh giá ngang với hệ số tín nhiệm quốc gia.
* Năm 2008 và đầu năm 2009, mặc dù gặp nhiều khó khăn do tình hình kinh tế
trong nước và thế giới biến động phức tạp theo chiều hướng xấu, nhưng với sự quyết
tâm cao của toàn thể cán bộ công nhân viên, Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam
vẫn đạt được những bước tiến đáng kể:
- VINASHIN lần đầu tiên vượt chỉ tiêu xuất khẩu 500 triệu USD/năm sản
phẩm công nghiệp, gồm các chủng loại tàu thủy, thép và phôi thép đóng tàu, vỏ
Hiện nay, sau 4 năm phát triển theo mô hình Tập đoàn, VINASHIN thực hiện
chức năng thanh tra, giám sát các đơn vị thành viên thực hiện các dự án được giao. Với
những dự án quan trọng, vốn đầu tư lớn, Tập đoàn trực tiếp cử chuyên gia xuống cơ sở
hướng dẫn, thực hiện quá trình lập và thẩm định dự án. Các xí nghiệp thành viên trực
tiếp sản xuất , đóng mới và sửa chữa các loại phương tiện vận tải biển theo sự chỉ đạo
của Tập đoàn.
2.2. Sơ đồ tổ chức
* Sơ đồ tổ chức tập đoàn mẹ:
BAN
KIỂM SOÁT
Công ty Kỹ thuật điều khiển và thông tin.
Công ty Đầu tư và thương mại Giao thông vận tải.
Công ty Xuất nhập khẩu VINASHIN.
Công ty Container VINASHIN.
Công ty Kỹ thuật công nghệ Biển.
Văn phòng Đảng Ủy
Ban Kiểm tra Đảng.
Văn phòng Công đoàn Tập đoàn.
HỘI ĐỒNG QUẢN
TRỊ
CHỦ TỊCH
HỘI ĐỒNG
Văn phòng Tập đoàn.
Ban Tổ chức cán bộ - Lao động.
Ban Kinh doanh & đối ngoại.
Ban Tài chính kế toán.
Ban Kiểm toán nội bộ.
Ban Kế hoạch đầu tư.
Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp.
Ban KH-CN & Nghiên cứu phát triển.
vụ và chiến lược phát triển theo sự chỉ đạo của Tổng công ty và Tập đoàn.
3. Khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của VINASHIN
Bảng1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2007-2009
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Giá trị tổng sản lượng 27.453,923 36.837,09 35.458,58
Giá trị sản xuất công nghiệp 18.349,5 25.608,85 24.502,7
Giá trị sản lượng xây dựng 2.143,98 2.371,5 2.358,35
Giá trị sản lượng vận tải 3.342,45 5.267,62 5.186,32
Giá trị sản xuất khối thương mại-dịch vụ 2.642,72 3.589,12 3.411,21
Doanh thu 22.796,115 32.538 30.856,54
Doanh thu sản xuất công nghiệp 15.653,22 21.370,55 21.231,84
Doanh thu khối xây dựng 1.483 1.844,7 1.574,13
Doanh thu khối vận tải 3.182,95 5.218,8 4.564,28
Doanh thu khối thương mại-dịch vụ 1.657,43 4.103,95 3.504,29
Nguồn: Báo cáo thường niên của VINASHIN
Bảng2: Tốc độ tăng liên hoàn giá trị sản lượng và doanh thu giai đoạn 2007-2009
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu
Năm 2007
so với
năm 2006
Năm 2008
so với
năm 2007
Năm 2009
so với
năm 2008
Giá trị tổng sản lượng 56 39 -3,74
Giá trị sản xuất công nghiệp 102,43 39,56 -4,32
hoảng trên thế giới bắt đầu từ giữa năm 2007 tại Mỹ và một số nước Châu Âu, nhưng
đến cuối năm 2007 mới bắt đầu ảnh hưởng đến Việt Nam nói chung và ngành đóng tàu
nói riêng, do đó trong năm này, hoạt động sản xuất kinh doanh của VINASHIN vẫn đạt
được những chuyển biến tích cực. Tập đoàn vẫn tập trung, chú trọng phát triển công
nghiệp đóng tàu truyền thống - thế mạnh của Tập đoàn. Các chỉ tiêu doanh thu và sản
lượng sản xuất công nghiệp, xây dựng và vận tải đều tăng gần gấp đôi so với năm 2006,
riêng khối thương mại - dịch vụ giảm mạnh do giá tàu giảm mạnh cuối năm 2007 trong
khi giá vật tư và nhân công tăng cao. Trong năm 2007, Tập đoàn đã thu hút được hơn 2
vạn lao động nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và góp phần đảm bảo an sinh
xã hội. Bên cạnh đó, mức đãi ngộ dành cho cán bộ, công nhân viên vẫn được quan tâm
một cách đúng mực, thu nhập bình quân tăng từ 2.003.000 đồng/người/tháng năm 2006
lên 2.395.000 đồng/người/tháng năm 2007.
* Giá trị tổng sản lượng năm 2008 đạt gần 36.837 tỷ đồng, tổng doanh thu đạt
trên 32.538 tỷ đồng. So với năm 2007, mức tăng tương ứng là 39% và 48%.
- Tổng số cán bộ công nhân viên của Tập đoàn: 64.426 người, thu nhập
bình quân đạt 2.812.000 đồng/người/tháng, bằng 117,4% so với năm 2007.
- Năm 2008, ngoài các sản phẩm có trọng tải từ 1.000 – 5.000 DWT, các
chủng loại tàu từ 6.500 – 22.500 DWT, các loại tàu chuyên dụng như tàu container…
các đơn vị đóng tàu còn triển khai nhiều serie tàu xuất khẩu như tàu 53.000 DWT,
34.000 DWT, các loại tàu kéo công suất lớn các loại tàu chuyên dụng như tàu chở gỗ,
tàu chở ô tô, tàu chở Ethylen, tàu container, tàu có trọng tải đến cho 150.000 DWT cho
tập đoàn dầu khí...Cũng trong năm vừa qua, VINASHIN lần đầu tiên vượt chỉ tiêu xuất
khẩu 500 triệu USD/năm sản phẩm công nghiệp tàu thủy.
Tổng sản lượng và doanh thu năm 2008 tăng cao hơn nhiều so với năm 2007,
khối sản xuất công nghiệp, vận tải và dịch vụ - thương mại đạt doanh thu cao, tuy nhiên
khối xây dựng giảm so với năm 2007 do tiến độ huy động vốn bị đình trệ - ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong khi các Tập đoàn, doanh nghiệp trong
cả nước chịu hậu quả của suy thoái kinh tế thì VINASHIN vẫn đạt những bước tiến
quan trọng do Tập đoàn đã và đang thực hiện hợp đồng đã kí từ những năm trước đó
với các bạn hàng trên toàn thế giới cùng với khả năng điều tiết hoạt động cho phù hợp
- Điều khiển tự động và Công nghệ tin học ..
Với việc đồng thời sử dụng sản phẩm của hầu hết các ngành nói trên làm vật tư
và thiết bị đầu vào của mình Ngành CNTT sẽ thúc đẩy các ngành công nghiệp đó cùng phát
triển. Hơn nữa, là một ngành công nghiệp liên ngành, khi phát triển CNTT sẽ trở thành
động lực thúc đẩy nhiều lĩnh vực KH-CN khác phát triển nhanh chóng, đồng bộ, từ
khâu nghiên cứu, thiết kế đến kiểm định kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới. Bản thân
CNTT cũng là ngành công nghiệp chế tạo thu hút nhiều lao động kỹ thuật và là ngành
tạo ra giá trị doanh thu rất lớn: nhất là khi sản phẩm của nó đạt được tiêu chuẩn quốc tế,
có thể đáp ứng tốt thị trường trong nước- đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và
tránh được tình trạng nhập khẩu tầu thuỷ.
Ở hầu hết các nước có CNTT phát triển, song song với hệ thống các nhà máy
đóng và sửa chữa tàu được xây dựng, các ngành công nghiệp khác chế tạo máy, luyện & cán
thép, điện & điện tử, công nghệ thông tin, chất dẻo, gỗ công nghiệp và v.v…cũng phát
triển, chuyên môn hoá các cơ sở sản xuất của mình để cung ứng sản phẩm cho ngành
CNTT. Ví dụ như các xí nghiệp sản xuất động cơ diesel thuỷ, thiết bị điện tàu thuỷ, sơn
tàu thuỷ,v.v... Đồng thời với tư cách là một ngành công nghiệp liên ngành, một khi đã
phát triển, CNTT Việt Nam sẽ lại có khả năng trang bị và cung ứng kỹ thuật cũng như
chia sẻ thị trường với các ngành công nghiệp khác như chế tạo các cấu kiện thép lớn của giàn
khoan biển, các lò xi măng, dầm cầu lớn, các tổ hợp kết cấu thép mà các ngành cơ khí lắp ráp
khác khó có điều kiện thực hiện được.
2. Vốn và nguồn huy động vốn đầu tư phát triển tại VINASHIN giai đoạn 2007-2009
2.1. Tổng mức vốn đầu tư huy động
Bảng 4: Tổng mức vốn đầu tư huy động của Vinashin giai đoạn 2007-2009
Đơn vị tính:tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Tổng mức vốn huy động (tỷ đồng)
8.300 13.000 7.200
Tốc độ tăng liên hoàn(%)
56,6 -44,6
Tốc độ tăng định gốc(%)
việc làm cho các nhà máy đóng tàu đến hết năm 2010.
- Vốn vay nước ngoài chịu lãi suất từ 6% đến 7,1%/năm. Vay trong nước
chủ yếu là các khoản vay dài hạn từ trước, lãi suất cao nhất là 12%/năm. Nhiều khoản
vay với lãi suất 8,4%/năm, một số hợp đồng vay trả lãi thấp hơn. Cũng như các doanh
nghiệp xuất khẩu khác, VINASHIN được hưởng chính sách ưu đãi xuất khẩu, trong đó
có ưu đãi lãi suất vốn vay. Nguồn vốn huy động được dành cho các hợp đồng đóng tàu
xuất khẩu đã ký kết; các dự án đóng tàu đã ký kết với Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt
Nam; các dự án đóng tàu tại Nhà máy đóng tàu Dung Quất (tàu chở dầu thô 104.000
DWT, 105.000 DWT, tàu 54.000 DWT), và các dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện các hợp đồng trên.
Từ thực tế trên ta có thể thấy khả năng huy động vốn một cách linh hoạt của Tập
đoàn, không chỉ bó hẹp trong phạm vi vốn nhà nước, Tập đoàn đã tự huy động vốn dưới
sự giám sát của nhà nước bằng cách phát hành trái phiếu hay tự huy động vốn trên thị
trường tài chính quốc tế. Các khoản vay của VINASHIN thường là vay tín dụng dài hạn
với lãi suất tương đối thấp cho thấy được hệ số tín nhiệm khá cao của Tập đoàn nói
riêng và Việt Nam nói chung trên chính trường quốc tế. Đây là những biện pháp cần
thiết và phù hợp giúp Tập đoàn đẩy mạnh sản xuất, chủ động trước các diễn biến phức
tạp của thị trường, vượt qua thời kì khủng hoảng như hiện nay.
2.2. Cơ cấu vốn đầu tư của Vinashin theo nguồn hình thành vốn
Bảng 5: Nguồn vốn huy động của VINASHIN giai đoạn 2007-2009
Đơn vị tính: tỷ đồng
Nguồn vốn huy động Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Vay ngân hàng thương mại 10.000
Phát hành trái phiếu doanh nghiệp 8.300 3.000 7.200
Tổng nguồn vốn huy động 8.300 13.000 7.200
Nguồn: www.vinashin.com.vn
Do đặc thù của ngành công nghiệp tàu thủy là thời gian đầu tư kéo dài, lượng
vốn huy động lớn, nên VINASHIN luôn có các hinh thức huy động vốn đa dạng nhằm
thu hút được lượng vốn đầu tư cần thiết cho quá trình sản xuất. Nguồn huy động vốn
chính củ Tập đoàn vẫn là phát hành trái phiếu doanh nghiệp, tuy nhiên để đa dạng
tỷ trọng
(%)
giá trị
(tỷ đồng)
tỷ trọng
(%)
Tổng nguồn vốn huy động
8.300 13.000 7.200
Vốn cho hoạt động ĐTPT
5.300 63,9 8.415 64,7 5.180 71,9
Vốn cho hoạt động khác
3.000 36,1 4.585 35,3 2.020 28,1
Tốc độ tăng vốn ĐTPT(%)
158,8 61,6
Nguồn: www.vinashin.com.vn
Tập đoàn VINASHIN là Tập đoàn kinh tế đa ngành, lấy công nghiệp tàu thủy làm hoạt
động chính, vì vậy, lượng vốn huy động được Tập đoàn ưu tiên cho ĐTPT. Từ năm 2007 đến
năm 2009, tỷ trọng vốn cho hoạt động ĐTPT luôn trên 60%: năm 2007 là 63,9%, năm 2008 là
64,7% và năm 2009 là 71,9%. Ngoài việc sử dụng vốn cho ĐTPT, Tập đoàn còn thực hiện một
số hoạt động đầu tư khác như đầu tư vào ngành thép, hàng không, bảo hiểm; tuy nhiên, lượng
vốn đầu tư dành cho các hoạt động này tương đối nhỏ, Tập đoàn đầu tư ra ngoài ngành chủ yếu
để tiếp cận với thị trường trong nước và quốc tế cũng như tự quảng bá thương hiệu của mình.
Vốn dành cho hoạt động ĐTPT có sự biến đổi trên đa phần là do ảnh hưởng của suy thoái kinh
tế thế giới, khi mà các dự án đầu tư bị đình trệ vốn, nên việc đầu tư thêm cho hoạt động ĐTPT
giai đoạn cuối năm 2008 và đặc biệt là đầu năm 2009 gặp rất nhiều khó khăn (chỉ đạt 61,6% so
với năm 2008).
Hảng năm, Tập đoàn luôn thực hiện chiến lược ĐTPT hợp lí dựa trên việc đầu tư mở
rộng các cơ sở hiện có và tích cực nghên cứu triển khai xây dựng các khu CNTT tại các địa điểm
có tiềm năng lớn. Trong vài năm trở lại đây, VINASHIN đang tiến hành ĐTPT mạnh vào khu
vực miền Trung, mặc dù các công ty đóng tàu tại khu vực miền Trung khá non trẻ so với một số