Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO
TRƢỜNG ÐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------

PHAN QUỐC BÌNH

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN
TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH
TẾ - NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO
TRƢỜNG ÐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------

PHAN QUỐC BÌNH

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI
CHÍNH VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI
VIỆT NAM
Chuyên ngành:
Mã số:

Tài chính – Ngân hàng
60340201


2.1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế ............................................................ 6
2.1.2. Thước đo tăng trưởng kinh tế ............................................................. 6
2.1.3. Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế .................................... 7
2.2. Tổng quan về phát triển tài chính ................................................................ 11
2.2.1. Khái niệm về phát triển tài chính ........................................................ 11
2.2.2. Thước đo phát triển tài chính .............................................................. 12
2.3. Cách thức phát triển tài chính tác động đến tăng trưởng kinh tế................. 13
2.4. Sơ lược về một số nghiên cứu liên quan ..................................................... 16
3. TÓM LƢỢC TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH VÀ KINH TẾ TẠI VIỆT NAM….21
3.1. Tình hình kinh tế.......................................................................................... 21
3.2. Tình hình tài chính ....................................................................................... 22
4. DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... 26
4.1. Dữ liệu nghiên cứu ...................................................................................... 26
4.1.1. Thu thập dữ liệu .................................................................................. 26


4.1.2. Mô tả các biến ..................................................................................... 27
4.2. Mô hình nghiên cứu ..................................................................................... 32
4.3. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 35
4.3.1. Phương pháp phân tích thành phần chính ........................................... 35
4.3.2. Phương pháp kiểm định tính dừng ...................................................... 37
4.3.3. Phương pháp tự hồi quy phân phối trễ ................................................ 38
5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................................ 41
5.1. Phân tích thành phần chính .......................................................................... 41
5.2. Kiểm định tính dừng .................................................................................... 43
5.3. Kiểm định đồng liên kết .............................................................................. 47
5.3.1. Mô hình không bao gồm tác động của khủng hoảng kinh tế .............. 47
5.3.2. Mô hình bao gồm tác động của khủng hoảng kinh tế ......................... 55
6. KẾT LUẬN ......................................................................................................... 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO


NHNN

: Ngân hàng nhà nước.

NHTW

: Ngân hàng Trung Ương.

PCM

: Principal Component Method, Phương pháp phân tích thành phần chính.

WB

: World Bank, Ngân hàng thế giới.

WTO

: Tổ chức thương mại thế giới.


DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH

Bảng 2.1: Thống kê tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây ............................ 20
Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2000-2012 .............................. 22
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng tín dụng và cung tiền giai đoạn 2000 – 2012........... 25
Bảng 4.1: Tóm tắt mối quan hệ kỳ vọng giữa các biến số ....................................... 30
Bảng 4.2: Thống kê mô tả ........................................................................................ 31
Bảng 5.1: Kết quả phân tích thành phần chính ........................................................ 41

1

TÓM TẮT
Nghiên cứu tiến hành kiểm tra mối quan hệ giữa phát triển tài chính – được đo
lường bằng chỉ số tổng hợp tạo ra từ 08 đại diện phát triển tài chính khác nhau
thông qua phương pháp phân tích thành phần chính – và tăng trưởng kinh tế tại Việt
Nam dựa trên 56 quan sát trong giai đoạn từ Quý I/1999 đến Quý IV/2012.
Tương tự như nghiên cứu của Uddin và cộng sự (2012) cùng một số nghiên cứu tại
các quốc gia khác trên thế giới, bài nghiên cứu sử dụng mô hình thực nghiệm dựa
trên hàm sản xuất Cobb –Douglas có bổ sung thêm yếu tố biến đổi cấu trúc trong
các chuỗi thời gian dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008.
Cùng với, kiểm định tự hồi quy phân phối trễ được sử dụng để xác định mối quan
hệ đồng liên kết giữa các biến số trong mô hình nghiên cứu. Kết quả ghi nhận được
là nhất quán khi cho rằng tồn tại mối tương quan cùng chiều giữa phát triển tài
chính và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn tại Việt Nam.
Các từ khóa: phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, đồng liên kết, Việt Nam.


2

1. GIỚI THIỆU
Tăng trưởng kinh tế là một trong những đề tài luôn nhận được nhiều sự quan tâm
trong suốt thời gian vừa qua. Đã có khá nhiều bài nghiên cứu trên cả hai phương
diện lý thuyết và thực nghiệm cố gắng tìm hiểu về các nhân tố có khả năng ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Và hiện nay, các nhà nghiên cứu đang đặt quan tâm
của mình vào giả thuyết cho rằng phát triển tài chính là một tác nhân quan trọng đối
với tăng trưởng kinh tế, do đó việc xem xét tác động của phát triển tài chính đến
tăng trưởng kinh tế sẽ giúp các nhà nghiên cứu đưa ra được các kiến nghị chính
sách vĩ mô đối với thị trường tài chính. Họ cho rằng vai trò của thị trường tài chính
và các trung gian tài chính trong quá trình tăng trưởng thay đổi đáng kể từ quốc gia

Do đó, bài nghiên cứu này sẽ đưa ra cách tiếp cận theo hướng tạo ra một chỉ số tổng
hợp có khả năng đại diện cho nhiều chỉ số phát triển tài chính khác nhau nhằm
nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam.
Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu thực hiện xem xét tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng
kinh tế tại Việt Nam thông qua mô hình hàm sản xuất Cobb –Douglas, với câu hỏi
nghiên cứu tổng quát: phát triển tài chính tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh
tế tại Việt Nam? Trên cơ sở đó, mục tiêu nghiên cứu sẽ được xác định như sau:
 Đánh giá tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế dựa trên
phân tích thực nghiệm các số liệu thực tế.
 Mở rộng phân tích thực nghiệm mối quan hệ này dưới tác động của cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008.
Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu được xác định là tác động của phát triển tài chính đến tăng
trưởng kinh tế tại Việt Nam. Trong đó, phát triển tài chính được đo lường thông qua
chỉ số tổng hợp được tính toán dựa trên các đại lượng đặc trưng trong khu vực ngân
hàng. Đồng thời, để có thể gia tăng tính tổng quát cho biến số phát triển tài chính,
bài nghiên cứu đã căn cứ thêm nghiên cứu của Adu và cộng sự (2013) để gia tăng


4

số lượng các yếu tố đại diện cho phát triển tài chính, cụ thể như: tổng tín dụng nội
địa, tín dụng trong khu vực tư nhân, tiền mặt trong lưu thông, cung tiền hẹp, cung
tiền mở rộng và tổng các khoản nợ từ tiền gửi của ngân hàng.
Trình tự thực hiện nghiên cứu:
Bài nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu định lượng, với quy
trình tiến hành nghiên cứu như sau:
Bước 1: Tiến hành kiểm tra, thu thập dữ liệu có liên quan từ các website

có thể giúp bài nghiên cứu đưa ra được những nhận định mang tính khái quát
tốt hơn so với những kết luận trước đây.
 Với những biến động kinh tế diễn ra như trên, bài nghiên cứu sẽ tiến hành
thêm các kiểm định liên quan đến việc biến đổi trong cấu trúc của các chuỗi
số liệu thời gian.
 Ngoài ra, đối với biến số phát triển tài chính, bài nghiên cứu sử dụng nhiều
chỉ số đại diện khác nhau hơn khi tiến hành kiểm định: 08 chỉ số (bài nghiên
cứu của Anwar và Nguyen (2011) chỉ sử dụng 02 chỉ số).
Đồng thời, bài nghiên cứu dựa trên quan điểm của một số nghiên cứu ở các
quốc gia khác trên thế giới về việc cho rằng không có một chỉ số tài chính
đơn lẻ nào có thể là đại diện đầy đủ cho sự phát triển tài chính của một quốc
gia. Mức độ phát triển tài chính ở một quốc gia nên được xem xét là một chỉ
số tổng hợp có nguồn gốc từ một tập hợp gồm nhiều đại diện – Adu và cộng
sự (2013). Do đó, khi tiến hành kiểm định, bài nghiên cứu sẽ sử dụng chỉ số
tổng hợp lấy thông tin từ các chỉ số đại diện khác nhau trong khu vực ngân
hàng bằng phương pháp phân tích thành phần chính.
 Cuối cùng, khác với các nghiên cứu trước đây, bài nghiên cứu xác định tác
động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế thông qua phương pháp
tự hồi quy phân phối trễ để kiểm định mối liên hệ đồng liên kết giữa các biến
số. Đây là một trong những mô hình thành công nhất, linh hoạt và dễ sử dụng
cho việc phân tích chuỗi thời gian đa biến.


6

Với những điểm phân tích mới như trên, bài nghiên cứu sẽ được trình bày xúc tích
trong 06 phần. Phần đầu tiên đã thực hiện giới thiệu về nội dung nghiên cứu. Phần
tiếp theo sẽ tóm tắt cơ sở lý thuyết về: tăng trưởng kinh tế, phát triển tài chính và
mối quan hệ giữa hai yếu tố này, đồng thời tổng kết các kết quả thực nghiệm trước
đây để củng cố cho các lập luận lý thuyết.

trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một
năm tài chính).
 Tổng sản phẩm quốc gia: là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch
vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất
định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm
quốc nội cộng với thu nhập ròng.
Tốc độ:
 Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân
số.
 Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân
số.
2.1.3. Các nhân tố tác động đến tăng trƣởng kinh tế
Để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học dùng các mô
hình kinh tế.


Mô hình David Ricardo (1772-1823): với luận điểm cơ bản là đất đai sản
xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Nhưng đất sản xuất
lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn
để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí
sản xuất lương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nông phẩm tăng, tiền
lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm, mà lợi
nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng. Như vậy, do
giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản
xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.


8



nhân tố tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế.
Các nhân tố thuộc tổng cầu: Tổng mức cầu của nền kinh tế đề cập đến khối lượng
mà người tiêu dùng, các doanh nghiệp và Chính phủ sẽ sử dụng: GDP = C + I + G +
X – M (Trong đó: C: tiêu dùng các hộ gia đình, G: các khoản chi tiêu của chính phủ,
I: tổng đầu tư cho sản xuất của các doanh nghiệp và (X - M): Xuất khẩu ròng trong
năm). Do đó, sự biến đổi của các bộ phận trên sẽ gây nên sự biến đổi của tổng cầu
và từ đó tác động đến tăng trưởng kinh tế. Sự biến đổi của tổng cầu có thể theo hai


9

hướng: suy giảm hay gia tăng tổng cầu. Theo hai hướng đó, tác động của sự thay
đổi tổng cầu đến tăng trưởng kinh tế cũng khác nhau:
 Nếu tổng cầu sụt giảm sẽ gây ra hạn chế tăng trưởng và lãnh phí các yếu tố
nguồn lực vì một bộ phận không được huy động vào hoạt động kinh tế.
 Nếu tổng cầu gia tăng sẽ tác động đến hoạt động của nền kinh tế như sau:
 Nếu nền kinh tế đang hoạt động dưới mức sản lượng tiềm năng, thì sự gia
tăng của tổng cầu sẽ giúp tăng thêm khả năng tận dụng sản lượng tiềm
năng, nhờ đó mà thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
 Nếu nền kinh tế đang hoạt động đã đạt hoặc vượt mức sản lượng tiềm
năng (đường cung dài hạn là thẳng đứng) thì sự gia tăng của tổng cầu
không làm gia tăng sản lượng của nền kinh tế (nghĩa là không thúc đẩy
tăng trưởng) mà chỉ làm gia tăng mức giá.
Các nhân tố thuộc tổng cung: Tổng mức cung đề cập đến khối lượng sản phẩm và
dịch vụ mà các ngành kinh doanh sản xuất và bán ra trong điều kiện giá cả, khả
năng sản xuất và chi phí sản xuất nhất định. Như vậy tổng cung liên quan chặt chẽ
đến sản lượng tiềm năng. Xét theo quan điểm dài hạn, sự gia tăng sản lượng tiềm
năng của nền kinh tế có tác động quyết định đến tăng trưởng kinh tế. Các nhân tố
tác động đến sản lượng tiềm năng và do đó quyết định đến tổng mức cung chính là
các yếu tố đầu vào của sản xuất, cụ thể đó là: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư

nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động
có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt. Thực tế nghiên cứu
các nền kinh tế bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ II cho thấy mặc dù
hầu hết tư bản bị phá hủy nhưng những nước có nguồn nhân lực chất lượng
cao vẫn có thể phục hồi và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục.



Nguồn tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển,
những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ,
rừng và nguồn nước. Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát
triển kinh tế, có những nước được thiên nhiên ưu đãi một trữ lượng dầu mỏ
lớn có thể đạt được mức thu nhập cao gần như hoàn toàn dựa vào đó như Ả
rập Xê út. Tuy nhiên, các nước sản xuất dầu mỏ là ngoại lệ chứ không phải
quy luật, việc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú không quyết
định một quốc gia có thu nhập cao. Nhật Bản là một nước gần như không có
tài nguyên thiên nhiên nhưng nhờ tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm


11

lượng lao động, tư bản, công nghệ cao nên vẫn có nền kinh tế đứng thứ hai
trên thế giới về quy mô.


Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không
phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư
bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng của việc thay đổi công nghệ sản
xuất. Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể
tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Công

một hệ thống tài chính bền vững và hiệu quả sẽ có khả năng đẩy mạnh tăng trưởng
bằng việc chuyển các nguồn lực đến độ hữu ích nhất của chúng và thúc đẩy sự phân
bổ các nguồn lực này hiệu quả hơn. Đồng thời, một hệ thống tài chính mạnh mẽ hơn
và tốt hơn cũng có thể nâng cao tăng trưởng bằng việc gia tăng tỷ lệ tiết kiệm tổng
thể và tỷ lệ đầu tư, đẩy mạnh sự tích lũy vốn vật chất. Sự phát triển tài chính cũng
thúc đẩy tăng trưởng bằng việc tăng cường sự cạnh tranh và khuyến khích các hoạt
động đổi mới mà thúc đẩy hiệu quả động.
Theo Levine (2008), chức năng tổng thể của hệ thống tài chính là giảm thiểu những
chi phí giao dịch và chi phí thông tin làm cản trở các hoạt động kinh tế. Và 05 chức
năng nòng cốt cụ thể là: (i) xử lý thông tin về khả năng đầu tư và phân bổ nguồn
vốn; (ii) giám sát các khoản đầu tư và cung cấp cách thức quản trị doanh nghiệp sau
khi cung cấp tài chính; (iii) tạo thuận tiện cho việc giao dịch, đa dạng hóa và quản
trị rủi ro; (iv) huy động và tập hợp các khoản tiết kiệm; và (v) nới lỏng sự trao đổi
hàng hóa và dịch vụ. Tính hiệu quả của hệ thống tài chính phụ thuộc vào việc hệ
thống tài chính vận hành 05 chức năng nòng cốt này như thế nào và phát triển tài
chính hàm ý một sự cải thiện trong hiệu quả của hệ thống tài chính. Các chức năng
tài chính này sẽ tác động đến quyết định tiết kiệm, đầu tư và cải tiến công nghệ, do
đó tác động đến tăng trưởng kinh tế.
2.2.2. Thƣớc đo phát triển tài chính:
Có thể sử dụng các thước đo sau để phản ánh quy mô và mức độ phát triển của tài
chính.

2

http://voer.edu.vn/m/ly-thuyet-chung-ve-he-thong-tai-chinh/3f2bacee


13

Quy mô

hướng nguồn vốn về những nhà sản xuất có năng suất cao hơn và tránh đầu
tư vào những nhà sản xuất có năng suất thấp. Bên cạnh đó, các trung gian tài
chính cũng có thể khuyến khích sự đổi mới bằng việc nhận biết những công
nghệ mới và những sản phẩm mới triển vọng.
 Thứ hai, hệ thống tài chính giám sát hành vi của công ty và đưa vào áp dụng
quản trị doanh nghiệp. Các cổ đông và chủ nợ có thể giám sát hiệu quả và tác
động đến việc những nhà quản lý trong công ty sử dụng các nguồn tài chính
mà họ cung cấp như thế nào, tức là, thực hiện quản trị doanh nghiệp, họ sẽ có
sự động viên tốt hơn để cung cấp các nguồn tài chính. Việc quản trị ở cấp độ
công ty có hiệu quả sẽ giúp cho việc phân bổ các nguồn lực cho tổng thể nền
kinh tế trở nên hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, khi chi phí thông tin và chi phí
giao dịch lớn sẽ khiến các cổ đông và những nhà cấp tín dụng nhỏ không có
động lực để tham gia giám sát hành vi người quản lý. Tuy nhiên, những nhà
đầu tư lớn hơn như các trung gian tài chính lại có nhiều động cơ để giám sát
và tác động mạnh mẽ hơn lên các nhà quản lý. Do đó, bằng việc cải thiện
quản trị doanh nghiệp, các trung gian tài chính sẽ có tác động tích cực lên
tăng trưởng.
 Thứ ba, các công cụ tài chính, trung gian tài chính và thị trường tài chính có
thể tạo thuận lợi cho việc giao dịch, phòng ngừa và quản trị rủi ro. Bằng việc
cho phép đa dạng hóa rủi ro qua các công ty và các ngành công nghiệp, hệ
thống tài chính có thể ảnh hưởng đến sự phân bổ các nguồn lực và vì thế tác
động đến tăng trưởng kinh tế. Trong khi các nhà tiết kiệm cá nhân thường
không thích rủi ro thì những cơ hội đầu tư sinh lợi cao lại có khuynh hướng
mang rủi ro cao. Do đó, với việc cho phép các cá nhân này đa dạng hóa rủi ro
của họ, các trung gian tài chính và thị trường tài chính sẽ chuyển hướng
nhiều vốn hơn đến những dự án đầu tư sinh lợi cao, rủi ro cao và vì thế đẩy
mạnh năng suất tổng thể của nguồn vốn. Bên cạnh đó, đa dạng hóa rủi ro


15



16

mới và những sản phẩm mới. Kết quả cuối cùng của sự gia tăng chuyên môn
hóa và đổi mới là tăng trưởng kinh tế diễn ra nhanh hơn. Sự giảm trong các
chi phí giao dịch không dừng lại với sự xuất hiện của tiền mà sẽ tiếp tục
miễn là có sự đổi mới tài chính. Các thẻ tín dụng và các máy rút tiền tự động
(ATM) là hai ví dụ điển hình cho sự đổi mới tài chính mà thông qua chúng
các chi phí giao dịch được cắt giảm. Do đó, khi các đổi mới tài chính làm
giảm đi chi phí của các giao dịch và hoạt động trong nền kinh tế thì sẽ
khuyến khích sự chuyên môn hóa và sự đổi mới hơn nữa, vì thế đóng góp
cho tăng trưởng.
2.4. Sơ lƣợc về một số nghiên cứu liên quan
Một loạt các nghiên cứu thực nghiệm đã tiến hành điều tra mối quan hệ giữa phát
triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. Mặc dù ghi nhận được nhiều kết quả khác
nhau về tác động và hướng của quan hệ nhân quả, nhưng nói chung, hầu hết các
nghiên cứu đều khẳng định một thực tế là phát triển tài chính có tác động cùng
chiều đối với tăng trưởng kinh tế.
Các nghiên cứu nƣớc ngoài
Levine và cộng sự (2000), đã thực hiện nghiên cứu trên cả hai loại dữ liệu chéo và
dữ liệu bảng cho 71 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1960 – 1995. Bằng việc sử
dụng phương pháp kiểm định moment mở rộng, kiểm định dữ liệu chéo và lựa chọn
các chỉ số đại diện cho phát triển tài chính bao gồm: tỷ số giữa nợ thanh khoản và
GDP, tỷ số giữa tài sản của các ngân hàng gửi tiền và tài sản của các ngân hàng tiền
gửi cộng với tài sản nội địa của NHTW và tỷ số giữa tín dụng cấp cho doanh nghiệp
tư nhân và GDP danh nghĩa, bài nghiên cứu đã ghi nhận được một mối quan hệ tích
cực giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia được điều tra.
Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế của 06 quốc gia tại
Trung Đông và Bắc Phi (Algeria, Ai Cập, Israel, Maroc, Syria, và Tunisia) đã được

(như: kiểm định tính dừng, kiểm định đồng liên kết Johansen, kiểm định nhân quả
Granger,…) được thực hiện để đưa ra kết luận rằng: bài nghiên cứu không ủng hộ
quan điểm về việc nhận định phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status