ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỒ HOÀI LINH
QUAN HỆ VIỆT NAM – CUBA TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH: QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỒ HOÀI LINH
QUAN HỆ VIỆT NAM – CUBA TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành: QUỐC TẾ HỌC
Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ
Mã số: 60 31 02 06
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Hoàng Khắc Nam
Hà Nội – 2017
nhiệm về nội dung của Luận văn.
Học viên
Hồ Hoài Linh
2
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ....................................................................5
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................................6
1.Mục đích, ý nghĩa của đề tài ...........................................................................6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: ............................................................................7
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: .................................................................8
4.Nhiệm vụ nghiên cứu: .....................................................................................9
5.Phương pháp nghiên cứu: ...............................................................................9
6.Cấu trúc của luận văn. .................................................................................. 10
Chƣơng1
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT NAM - CUBA
(TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY) ............................................................................. 11
1.1. Các nhân tố ngoại sinh ............................................................................. 11
1.1.1. Bối cảnh thế giới ................................................................................ 11
1.1.2. Bối cảnh khu vực (Tại Đông Nam Á và Mỹ La-tinh) ....................... 12
1.2. Các nhân tố nội sinh ............................................................................... 177
1.2.1. Tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của Việt Nam ........... 188
1.2.2. Tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của Cuba .................... 19
1.3. Quan hệ của Việt Nam – Cuba trước năm 1991. ..................................... 25
1.4. Tiểu kết chương 1 .................................................................................... 34
CNXH
Chủ nghĩa Xã hội
CNTB
Chủ nghĩa Tư bản
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
UBLCP
Ủy Ban liên Chính phủ
XHCN
Xã hội Chủ nghĩa
2. Các từ viết tắt Tiếng Anh
ASEAN
Association of Southeast Asia Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
United States Dollar
USD
Đồng đô la Mỹ
PETROCARIBE
Acuerdo de Cooperacion energética con los paies del Caribe
(Thỏa thuận hợp tác dầu khí với các nước Ca-ri-bê)
PETROAMERICA Acuerdo de Cooperacion energética con America Latina
(Thỏa thuận hợp tác dầu khí ở Mỹ La-tinh)
5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Việt Nam và Cuba - hai quốc gia ở hai châu lục, với ngôn ngữ, phong tục
tập quán, truyền thống khác nhau nhưng lại có mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị,
bắt nguồn từ lý tưởng cách mạng của hai vị lãnh tụ vĩ đại của hai dân tộc: Chủ
tịch Hồ Chí Minh và nhà tư tưởng kiệt xuất José Marti, được các thế hệ lãnh đạo
và nhân dân hai nước gìn giữ, vun đắp và không ngừng phát triển; với câu nói
bất hủ của Chủ tịch Fidel Castro: "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả
máu của mình" đã làm rung động bao trái tim của nhân dân Cuba và nhân dân
Việt Nam.
Nói đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba, nhiều nhà nghiên cứu đã
từng viết bài phân tích về mối quan hệ đặc biệt này, song chủ yếu ở giai đoạn
trong thời kì chiến tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.Sau khi Việt Nam
giành được độc lập, chưa có một công trình hay một bài viết nào nghiên cứu sâu
và đề cập tới mối quan hệ của hai nước từ sau thời kì Chiến tranh Lạnh.
Ở thời điểm hiện tại, Chiến tranh Lạnh đã kết thúc, nhưng Việt Nam và
Cuba là hai nước đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.Quan hệ giữa
hai nước vừa mang tính truyền thống hữu nghị, vừa có chung lý tưởng, cùng
hữu nghị” của Nhà xuất bản Thế giới…viết về mối quan hệ Việt Nam Cuba.Các công trình này chủ yếu đề cập đến quan hệ của hai nước trong giai
đoạn chiến tranh, còn giai đoạn từ sau Chiến tranh Lạnh thì chưa được làm rõ và
phân tích sâu. Nhìn chung, những tài liệu trên chỉ mang tính tham khảo, chưa có
một bài viết hay công trình nào đánh giá toàn diện và sâu sắc về quan hệ Việt
Nam - Cuba từ năm 1991 đến nay.
Ngoài nước:Mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba là một chủ đề nghiên
cứu mà chưa nhận được sự quan tâm của nhiều học giả, các nhà nghiên cứu trên
thế giới. Trên các tạp chí nghiên cứu về quan hệ quốc tế cũng xuất hiện một vài
7
bài viết đề cập tới mối quan hệ này nhưng không nhiều. Ví dụ như bài viết của
nữ nhà văn, nhà báo nổi tiếng Marta Rojas (Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba Việt Nam), trong đó ca ngợi tình hữu nghị gắn bó giữa hai nước, sự giúp đỡ, ủng
hộ lẫn nhau khi gặp khó khăn, thử thách, nhất là ở giai đoạn Việt Nam đang gồng
mình chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Ngoài ra, chúng ta có thể kể đến cuốn sách
với tựa đề “Globalization and Third World Socialism: Cuba and Vietnam” xuất
bản năm 2001 của tác giả Claes Brundenius and John Weeksvà bài viết
“Comparison of two remaining socialist countries – Cuba and Vietnam:
Possibility of economic reform in a socialist society and its possible impact”của
tác giả Kanako Yamaoka (2007) cũng đưa ra một số đánh giá và nhận xét về mối
quan hệ đặc biệt Việt Nam - Cuba, đồng thời nêu lên những đặc điểm của hai
nước xã hội chủ nghĩa đang đi trên con đường đổi mới, hòa nhập với thế giới.
Đặc biệt hơn, trước đó, vào thế kỷ XIX, lãnh tụ Jose Marti, người anh hùng dân
tộc vĩ đại của Cuba đã có hai tác phẩm dành cho Việt Nam đó là cuốn sách “Tuổi
vàng” dành cho thiếu nhi và truyện ngắn “Một cuộc du hành trên đất nước của
những người An Nam”. Tác phẩm là bức khắc hoạ đầu tiên trong văn chương Mỹ
La-tinh về lịch sử, văn hoá và con người đất Việt. Tác giả Jose Marti đã dành cho
những con người An Nam tất cả tình cảm mến mộ, yêu thương, mặc dù ông chưa
một lần được đặt chân lên đất nước này. Với tác phẩm độc đáo, Jose Marti là
người đặt nền móng cho mối quan hệ giữa Cuba và Việt Nam.
bài viết.
Phương pháp nghiên cứu khu vực: phân tích tình hình khu vực Đông
Nam Á và Mỹ La-tinh từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh và tác động của tình
hình khu vực đến Việt Nam và Cuba tại thời điểm này.
Phương pháp phân tích hợp tác quốc tế: xem xét tình hình hợp tác của
Việt Nam và Cuba.
Phương pháp phân tích văn bản: phân tích nội dung của các văn bản thỏa
thuận, biên bản kỳ họp của Ủy ban liên Chính phủ (UBLCP) giữa Việt Nam và
Cuba, và một số các văn bản khác liên quan.
9
Phương pháp phân tích chính sách: phân tích nội dung chính sách đối
ngoại cũng như các chính sách khác của hai quốc gia.
Phương pháp dự báo: phân tích cơ hội cũng như triển vọng hợp tác của
Việt Nam và Cuba trong thời gian tới.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương chính.
Chương 1: Luận văn nghiên cứu các nhân tố tác động đến quan hệ của
Việt Nam – Cuba từ năm 1991 đến nay. Các nhân tố ngoại sinh và nội sinh đã
ảnh hưởng như thế nào đến mối quan hệ của hai nước? Và lịch sử của mối quan
hệ này từ trước những năm 1991;tình cảm của hai nước giành cho nhau, sự ủng
hộ và giúp đỡ nhau để cùng vượt qua giai đoạn khó khăn trong thời kỳ Chiến
tranh lạnh ra sao?
Chương 2: Trong Chương này, luận văn nghiên cứu sâu về mối quan hệ
của hai nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.
Chương 3: Luận văn đưa ra những đánh giá về mối quan hệ giữa hai
nước, những mặt thuận lợi và khó khăn của mối quan hệ này như thế nào?
Đồng thời, đề ra triển vọng hợp tác của Việt Nam - Cuba trong thời gian tới và
cách mạng khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, cùng với quá trình đó, CNTB
vẫn tiếp tục có những khó khăn do không thể khắc phục được những mâu thuẫn
nội tại sẵn có trước đây.
11
Từ bối cảnh trên việc duy trì và giữ vững CNXH là một yêu cầu cấp thiết.
Đặc biệt với những quốc gia đi theo con đường CNXH như Việt Nam và Cuba
càng cần phải hợp tác chặt chẽ và đoàn kết với nhau.
1.1.2. Bối cảnh khu vực
Ở châu Á,sau khi tiến hành cải cách toàn diện nền kinh tế quốc dân,
Trung Quốc đã ngày một phát triển và dần trở thành một trong những nền kinh
tế lớn trên thế giới. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế, Trung Quốc
muốn khẳng định vị thế ngày một lớn mạnh của mình trên thế giới trong đó có
khu vực châu Á. Với mục đính muốn làm bá chủ thế giới, thâu tóm, tạo sự phụ
thuộc cũng như gây ảnh hưởng về mặt kinh tế - chính trị với các nước trên thế
giới, trong đó có các nước láng giềng, Trung Quốc ngày một đẩy mạnh các hoạt
động yêu sách phi lý về chủ quyền biển đảo với các quốc gia láng giếng. Với dã
tâm này, Trung Quốc ngày càng hung hăng thực hiện âm mưu bá quyền, mở
rộng lãnh thổ, càng ngày càng tăng cường các hoạt động gây hấn ở Biển Đông
và Hoa Đông. Ngoài việc đưa dàn khoan dầu khí ra hoạt động ở vùng biển,
Trung Quốc còn xâm chiếm các đảo, các bãi đá, rồi bồi đắp, xây dựng các căn
cứ, sân bay quân sự, chuẩn bị lập vùng nhận diện phòng không trên toàn bộ khu
vực “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc tuyên bố là lãnh thổ của mình, nhưng thực
chất là thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Ở Triều Tiên, từ khi chính quyền Kim Jong-un lên nắm quyền, đã xây
dựng một xã hội hà khắc hơn áp dụng cho người dân trong nước cũng như các
thân tín của chính quyền cũ, là cha đẻ của chủ tịch Kim Jong-un. Với đỉnh điểm
là việc chính quyền Kim Jong-un buộc tội Jang Song-thaek âm mưu lật đổ chính
Trung Quốc lại đang tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” về kinh tế, dần
dần thao túng sự phát triển của các nước trên.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ từng coi Cuba là mối đe dọa cho an
ninh quốc gia và thúc giục Mexico ủng hộ bằng cách cũng áp đặt một chính sách
thù địch với Cuba. Ngoài ra Mỹ còn tiếp tục tăng cường cấm vận với những làn
sóng cấm vận kinh tế nặng nề hơn với đạo luật Torricelli vào năm 1992 và
Helms-Burton vào năm 1996, dưới hình thức sắc lệnh tổng thống từ thời chính
quyền cựu tổng thống Kennedy. Đạo luật Helms-Burton cũng thắt chặt cấm vận
14
với việc phạt nhà đầu tư nước ngoài làm ăn với Cuba và quy định rõ lệnh cấm
vận chỉ có thể được dỡ bỏ trong những trường hợp cực kỳ đặc biệt.
Từ năm 1992, chính sách cấm vận kinh tế của Mỹ đối với Cuba đã bị cộng
đồng quốc tế lên án. Trước bối cảnh này, tháng 8/1997, Mỹ nhất trí nới lỏng tạm
thời lệnh hạn chế du lịch với Cuba nhân chuyến thăm của Giáo hoàng Paul II. Và
tới tháng 3 năm sau đó, Tổng thống Mỹ Bill Clinton cho phép nới lỏng kiểm soát
vận chuyển lương thực, dược phẩm cứu trợ nhân đạo và tạo cơ hội để người Mỹ
gốc Cuba được chuyển 1.200 USD/ năm về quê nhà.
Tháng 10/2003, Tổng thống Mỹ George W.Bush tuyên bố thắt chặt lệnh
trừng phạt Cuba, bao gồm tăng cường kiểm soát biên giới đối với khách lữ hành
và hàng hóa giữa 2 nước. Tháng 5/2009, chính quyền của Tổng thống Obama dỡ
lệnh hạn chế du lịch đối với người Mỹ gốc Cuba, cũng như chính sách gửi kiều
hối về Cuba, và cho phép các công ty viễn thông Mỹ tìm kiếm cơ hội làm ăn ở
Cuba. Việc dỡ bỏ hoàn toàn đòi hỏi một đạo luật từ Quốc hội Mỹ và điều này
không phải là dễ dàng. Do đó, lệnh cấm vận vẫn còn hiệu lực mặc dù không hề
hiệu quả.
Mục tiêu duy nhất của Mỹ trong việc áp dụng chính sách cấm vận đối với
Cuba là trừng phạt những nước thuộcThế giới thứ ba, đi theo con đường XHCN,
(CIC) năm 2000. Theo đó, Cuba là quốc gia nhận được nhận viện trợ với hạn
ngạch cao nhất về dầu thôso với các thành viên khác.Kể từ khi Tổng thống Hugo
Chavez lên nắm chính quyền, cách mạng Venezuela đã giành được sự ủng hộ và
giúp đỡ to lớn của Cuba. Những thành tựu trên các lĩnh vực đời sống xã hội của
Venezuela trong những năm qua không tách khỏi sự ủng hộ, giúp đỡ của Cuba.
Đồng thời, để giúp Cuba giải quyết khó khăn về năng lượng,Venezuela cam kết
bán cho Cuba trên 90.000 thùng dầu thô mỗi ngày với giá thấp hơn nhiều giá thị
trường cũng nhưng được quy đổi theo các sản phẩm nông nghiệp và các dịch vụ
khác thay cho tiền mặt. Cùng đồng hành với việc đó, Cuba cam kết sẽ gửi các
bác sĩ và giáo viên tới Bolivia để tham gia vào chương trình chăm sóc sức khỏe
và phổ cập văn hóa cho người nghèo tại Bolivia dựa trên thoả thuận các bên ký
kết khi thành lập tổ chức “Sự lựa chọn Boliva cho châu Mỹ” (ALBA).2Do vậy,
2
Fernando Gerbasi(03/2013), El rol presente y future de Venezuela en el nuevo
Multilateralismo latinoamericano, ildis, Caracas, Venezuela; Fernando Gerbasi (03/2013),
Vai trò hiện tại và tương lại của Venezuela trong chủ nghĩa đa cực mới ở Mỹ La-tinh, viện
nghiên cứu xã hội Mỹ La-tinh - ildis, Caracas, Venezuela
16
có thể nói, Cuba là một trong những nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến
đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc ở Venezuela nói riêng và Mỹ La-tinh nói chung.
Cùng với Venezuela, Cuba là ngọn cờ đầu trong cuộc đấu tranh chống đế
quốc, thực dân, chống áp bức, bóc lột vì độc lập dân tộc, dân chủ, cùng tiến lên
xây dựng CNXH “kiểu mới”ở khu vực Nam Mỹ và đang có những tiến bộ đáng
kể. Nhìn vào tấm gương của Cuba và Venezuela và được sự giúp đỡ tận tình
củahainước đó, các nước MỹLa-tinh khác cũng đang có những bước chuyển
mình mạnh mẽ, cùng nhau đoàn kết một lòng, hỗ trợ nhau vượt qua gian nan,
của hai dân tộc, làm tấm gương cho các nước phát triển, tiến bộ.
1.2.1. Tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của Việt Nam
Việt Nam trải quahaicuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ, đất nước đã bị tàn phá nặng nề. Không những thế, sau
khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước lại bị ảnh hưởng kéo dài của cơ
chế bao cấp đã làm cho quốc gia càng lún sâu vào khủng hoảng kinh tế. Đồng
thời, sự tan rã của Liên Xô và phe XHCN đã cắt đi toàn bộ nguồn viện trợ quan
trọng dẫn đến nguy cơ sụp đổ chế độ.
Làn gió “đổi mới” cùng chính sách kinh tế thị trường định hướng XHCN
sau Đại hội VI năm 1986 của Đảng đã vực đất nước qua khỏi cơn hiểm nghèo.
Việt Nam như thay da, đổi thịt với những tiến bộ vượt bậc cả về chính trị, kinh
tế và xã hội. Không thể không kể đến sự đóng góp đáng kể của làn sóng đầu tư
nước ngoài trực tiếp (FDI) và viện trợphát triển chính thức (ODA), đã đổ vào
Việt Nam mang đến sức sống mới cho nền kinh tế nước ta. Các công trình xây
dựng mọc lên khắp nơi. Nhiều dự án lớn có tính chất sống còn của nền kinh tế
được triển khai. Hệ thống các nhà máy điện được phát triển khắp đất nước đã
đảm bảo nguồn năng lượng cho sản xuất và đời sống xã hội. Hệ thống giao
thông vận tải, đường xá được mở mang, cải thiện,đã tạo nên bước đột phá cho
nền kinh tế quốc dân. Việc xây dựng và áp dụng hình thức xã hội hóa trong giáo
dục, đào tạo và y tế, đảm bảo sức khỏe cho người dân đã nở rộ khắp nơi, tạo
18
bước ngoặt cho việc xóa nạn mù chữ, đào tạo ra tầng lớp trí thức mới, cũng như
đội ngũ thợ có sức khỏe, có tay nghề và trình độ cao, góp phần vào việc phát
triển đất nước.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận mặt trái của kinh tế thị trường. Sự đầu tư
ồ ạt vào lĩnh vực bất động sản, thực hiện hàng loạt công trình, dự án kém hiệu
quả (như 12 đại dự án của ngành công thương), việc nhập siêu quá lớn từ Trung
Quốc, nạn tham nhũng …đã gây biết bao khó khăn cho đất nước. Hàng loạt các
của các doanh nghiệp. Đại hội cũng quyết định đẩy mạnh các biện pháp cải cách
kinh tế-xã hội, mở rộng mô hình kinh tế tự doanh, cung cấp tín dụng cho các lao
động tự doanh, cắt giảm lực lượng lao động dôi dư trong khu vực Nhà nước, cắt
giảm bao cấp (đã bỏ bao cấp đối với một số mặt hàng không thiết yếu), thực
hiện chính sách thuế mới và từng bước xóa bỏ chế độ hai đồng tiền…
Làn gió mới cho tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Cuba đã được
hình thành tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, nhưng đặc biệt được cụ thể
hóa hơn nữa tại Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Cuba diễn ra từ ngày
16-19/4/2016 tại La Habana đúng vào ngày kỷ niệm 55 năm Cuba tuyên bố tính
chất xã hội chủ nghĩa của cuộc Cách mạng 1959. Tại phiên khai mạc, Bí thư thứ
nhất Raul Castro đã đưa ra khái niệm phát triển CNXH và kế hoạch phát triển
tới năm 2030 của Cuba, đồng thời, ông cũng đề xuất sửa đổi Hiến pháp Cuba,
quy định độ tuổi tối đa để được bầu vào Trung ương Đảng là 60 và các vị trí
lãnh đạo của Đảng là 70. Đại hội lần này đã thảo luận các vấn đề về cải cách
kinh tế và cải cách chính trị với 4 phiên chuyên đề về định nghĩa mô hình kinh
tế - xã hội XHCN của Cuba; Kế hoạch phát triển tới năm 2030; đồng thời nêu rõ
Cuba sẽ không áp dụng “những liệu pháp sốc” của các nước tư bản để kích
thích nền kinh tế, cũng như không được bỏ mặc bất cứ người dân nào trong xã
hội, dù họ thuộc tầng lớp nào. Đại hội cũng xác định là những công thức theo
3
http://dangcongsan.vn/quoc-te/tin-tuc/dai-hoi-dang-vii-cuba-thong-qua-nhieu-van-kienquan-trong-384205.html
20
kiểu “tự do kinh tế mới” khuyến khích tư nhân hóa chỉ áp dụng cho một số lĩnh
vực nhất định, còn lại các tài sản và dịch vụ xã hội do Nhà nước nắm giữ như
giáo dục, y tế và an sinh xã hội sẽ không bao giờ được áp dụng việc tư nhân hóa
tại đất nước Cuba. “Cuba sẽ duy trì và củng cố hệ thống y tế và giáo dục hoàn
Kể từ sau Đại hội lần thứ VI, đất nước Cuba đã bắt đầu khởi động chương
trình đổi mới từng bước về kinh tế - xã hội theo hướng mở cửa cho phép một số
lĩnh vực, ngành nghề được kinh doanh tự do, như bất động sản, xe cộ, hợp tác
đầu tư khai thác dầu khí,… Bước ngoặt quan trọng nhất về đối ngoại chính là
việc đàm phán thành công dẫn đến việc nước Mỹ dỡ bỏ cấm vận kinh tế đối với
Cuba, và sau đó hai nước Cuba và Mỹ đã tái thiết lập quan hệ ngoại giao vào
tháng 7 năm 2015. Trong bối cảnh mới này, Đại hội VII được đánh giá là bước
tiếp theo nhằm triển khai thực hiện thành công chương trình cải cách mà Đại hội
VI đã vạch ra. Chương trình cải cách đó phải được thực hiện theo nguyên tắc,
đường lối đúng đắn của cách mạng Cuba, không được đi chệch hướng theo sự lôi
kéo của các thế lực thù địch bên ngoài. Cuba đã xác định tiếp tục con đường kinh
tế thị trường, tiến trình “cập nhật hóa mô hình kinh tế” tiếp tục được tiến hành.
Đại hội VII đã xác định những mục tiêu rất rõ ràng nhằm đưa Cuba bước
lên “con tầu” kinh tế thế giới và triển khai kế hoạch cải cách kinh tế được thực
hiện nhanh hơn theo định hướng thị trường… Điều này có phần giống như tình
hình Việt Nam sau Đại hội Đảng lần thứ VI khi bắt đầu đường lối đổi mới.
Việc bao vây cấm vận của Mỹ kéo dài suốt hơn năm thập kỷ đã khiến cho
nền kinh tế Cuba thiệt hại nặng nề đến mức chạm đáy (1990 - 1993), cho đến nay
kinh tế Cuba đã từng bước vượt qua và đang phát triển. Tốc độ tăng trưởng năm
1994 là 0,7 , năm 1995 là 2,5 và trong những năm cuối thế kỷ XX đạt mức
trung bình là 4,7 . Những năm đầu thế kỷ XXI, tỷ lệ tăng trưởng được duy trì ở
mức cao so với khu vực Mỹ La-tinh. Năm 2005, kinh tế Cuba đạt mức tăng
trưởng kỷ lục là 11,8 . Tỷ lệ thâm hụt ngân sách giảm từ 33,5
xuống còn 3
năm 2000, thất nghiệp giảm từ 10
GDP năm 1993
năm 1992 xuống 2,3
La-tinh. Có 95,3
dân số được dùng nước sạch, hơn 85
số hộ gia đình trong
toàn quốc có sở hữu nhà hợp pháp. Các vấn đề xã hội khác như tạo việc làm,
chăm sóc người tàn tật, người già, phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội
khác cũng được quan tâm chu đáo6.
Từ năm 1991 đến nay, Cuba thực hiện tích cực việc giáo dục những giá
trị tốt đẹp của dân tộc, của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cách mạng, chủ nghĩa
quốc tế và các giá trị của chủ nghĩa xã hội. Các “Ủy ban bảo vệ cách mạng”
hoạt động sôi nổi, các “Diễn đàn mở” được tổ chức hàng tuần đã thu hút đông
đảo nhân dân Cuba, nhất là các thanh thiếu niên, các hội viên của các đoàn thể
chính trị - xã hội tham gia.
Sức mạnh an ninh, quốc phòng của Cuba không ngừng được củng cố và
tăng cường dựa trên sức mạnh của thế trận lòng dân, của nền quốc phòng toàn
5
http://antg.cand.com.vn/hau-truong/dai-hoi-Vii-dang-Cong-san-Cuba-Tiep-tuc-kien-dinhcon-duong-da-chon-390327/
6
http://www.dkn.tv/kinh-te/6-dieu-thu-vi-it-biet-ve-kinh-te-cuba.html
23