Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ - qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 - Pdf 68

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
1

MỞ ĐẦU

Chương 1:

PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG

6

LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ

1.1.

Vai trò của công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực

6

giao thông đường bộ
1.1.1. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường

6

bộ đảm bảo phát triển bền vững kinh tế - xã hội


14


thông đường bộ
1.2.4. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp
khắc phục hậu quả trong lĩnh vực giao thông đường bộ

16

1.2.5. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ

23

1.2.6. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ

28

1.2.7. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ

29

Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG

31

LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI THÀNH PHỐ

39

2.2.2. Nguyên nhân gây ra vi phạm an toàn giao thông đường bộ

43

2.2.3. Thực trạng xử lý vi phạm an toàn giao thông đường bộ tại
thành phố Đà Nẵng

46

2.3.

53

Thực trạng vi phạm hành lang an toàn đường bộ trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng và công tác xử lý vi phạm

2.3.1. Tình hình vi phạm hành lang an toàn đường bộ

53

2.3.2. Công tác xử lý vi phạm hành lang an toàn đường bộ

56

5


2.4.

72

3.2.

Phương hướng nâng cao hiệu quả việc xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại thành phố Đà Nẵng

74

3.2.1. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật giao thông đường bộ và
pháp luật trong các lĩnh vực khác có liên quan

74

3.2.2. Tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm minh, triệt để,
kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ

77

3.2.3. Tăng cường công tác kiểm định chất lượng an toàn kỹ thuật
và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới, quản lý phương tiện
xe cơ giới và công tác đào tạo, sát hạch thi cấp giấy phép lái xe

80

3.2.4. Xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, tăng cường
công tác bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và hành
lang an toàn đường bộ

82


TNGTĐB

: Tai nạn giao thông đường bộ

TTATGT

: Trật tự an toàn giao thông

UBND

: Ủy ban nhân dân

7


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng

Tên bảng

Trang

1.1

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch
UBND các cấp (3 cấp)




MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tai nạn giao thông (TNGT) đã và đang là vấn đề được xã hội quan
tâm sâu sắc, mang tính toàn cầu mà tất cả các quốc gia trên thế giới không phân
biệt các nước phát triển, nước đang phát triển hay nước kém phát triển đều
phải đương đầu và nó đã là thách thức lớn của cả thế giới. Về kinh tế, TNGT
và ùn tắc giao thông hàng năm làm thiệt hại từ 1% đến 3% GDP chi phí hàng
năm của các nước đang phát triển, ước tính vào khoảng trên 100 tỷ USD.
Tai nạn giao thông ở Việt Nam cũng nằm trong tình trạng chung của
các nước đang phát triển, TNGT ở Việt Nam tăng liên tục trong nhiều năm và
tính nghiêm trọng ngày càng gia tăng (bình quân trên 13 nghìn người chết do
TNGT và khoảng 29.000 ca chấn thương sọ não/năm). TNGT luôn là nỗi ám
ảnh trong đời sống xã hội và là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát
triển kinh tế của đất nước.
Những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được mối
hiểm họa của TNGT. Để kiềm chế và giảm thiểu TNGT, Ban Bí thư Trung
ương, Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo để ban hành và sửa đổi luật, các
nghị định quy định và thực hiện các biện pháp cấp bách phù hợp với tình hình
mới. Tuy nhiên, hiệu quả chưa cao do ý thức chấp hành luật của người tham
gia giao thông thấp, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông chưa đồng bộ và yếu
kém, hiệu lực quản lý nhà nước chưa cao.
Ở khu vực miền trung tây nguyên nói chung và thành phố Đà Nẵng
nói riêng, có các tuyến quốc lộ 1A, quốc lộ 14B nối liền các địa phương trong
vùng đã tạo nên một hệ thống giao thông đường bộ thuận tiện, hiệu quả. Trong
những năm qua, thành phố Đà Nẵng đã huy đ ộng toàn bộ sức mạnh hệ thống
chính trị của thành phố vào cuộc để triển khai và thực hiện tốt các luật của
Quốc hội, nghị định của Chính phủ về đảm bảo an toàn giao thông (ATGT), đặc


tài nghiên cứu của luận văn, tiêu biểu là:

10


Luận văn thạc sĩ luật học : "Hoàn thiện các quy định pháp luật về các
biện pháp xử phạt vi phạm hành chí nh ", của Nguyễn Trọng Bình, Trường Đại
học Luật Hà Nội, 2000. Luận văn đã phân tí ch các hì nh thức xử phạt vi phạm
hành chính được đề cập trong văn bản pháp luật , những ưu điểm và hạn chế
khi áp dụng trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện phá p luật về lĩ nh vực này.
Luận văn thạc sĩ luật học : "Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính đối với người chưa thành niên ", của Nguyễn Ngọc Bích , Trường
Đại học Luật Hà Nội , 2003. Luận văn đề cập đến những ngu yên tắc , thực
trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên và
đề ra giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật trong lĩnh vực này.
Luận văn thạc sĩ luật học : "Pháp luật về xử lý vi p hạm hành chính
trong lĩ nh vực giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay

- Một số vấn đề lý

luận, thực tiễn và phương hướng hoàn thiện ", của Vũ Thanh Nhàn , Trường
Đại học Luật Hà Nội , 2009. Luận văn nghiên cứu thực trạng phá p luật xử lý
vi phạm hành chí nh trong lĩ nh vực giao thông đường bộ ở Việt Nam từ đó
đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩ nh vực này.
Luận văn thạc sĩ luật học: "Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm
bảo trật tự an toàn giao thông qua thực tế tỉnh Thái Nguyên", của Nguyễn
Quang Huy, Đại học quốc gia Hà Nội, 2007. Luận văn đã làm sáng tỏ một số
vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật GTĐB, thực hiện pháp luật và thực hiện
pháp luật trong lĩnh vực GTĐB; phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực
hiện pháp luật trong việc đảm bảo ATGT đường bộ, đánh giá thực trạng thực

Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực GTĐB.
- Nghiên cứu thực trạng thực thi các quy định pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB tại Đà Nẵng.
- Đề ra các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB tại Đà Nẵng.

12


4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính như: Phương pháp
phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp
thống kê xã hội học, các phương pháp xã hội học pháp luật.
5. Những đóng góp chủ yếu về mặt khoa học của đề tài
Đề tài là chương trình chuyên khảo về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực GTĐB tại Đà Nẵng, đề tài đã đặt vấn đề tương đối hệ thống về
pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB tại Đà Nẵng;
Phân tích tương đối cụ thể thực trạng thực thi các quy định pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB tại Đà Nẵng; đề ra các giải pháp
hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực GTĐB tại Đà Nẵng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ.
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

nước đó, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của giao thông trong và
ngoài nước đó [53].
Có thể nhận định rằng phát triển GTĐB và phát triển kinh tế - xã hội
là hai quá trình có liên quan chặt chẽ với nhau, là điều kiện và tiền đề cho
nhau. Xây dựng một mạng lưới GTĐB hoàn thiện chính là tiền đề, điều kiện

14


cho sự phân bố hợp lý lực lượng sản xuất trên từng địa phương, vùng, miền
hay các làng nghề, là sự kết nối giao thương giữa nhân dân các địa phương, và
là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của các vùng kinh tế, đặc biệt là đối
với một số địa phương ở các huyện miền núi.
Hiện nay, với nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì vận tải, giao
thương giữa các vùng, miền, các dân tộc càng gia tăng. Do đó, giao thông vận
tải luôn phát triển là một quy luật tất yếu. Tốc độ phát triển kinh tế và phát
triển GTĐB phải tỷ lệ thuận với nhau.
Để GTĐB là động lực, là mũi nhọn cho sự phát triển kinh tế - xã hội
thì phải không ngừng tăng cường sự quản lý của nhà nước trong lĩnh vực
GTĐB, và pháp luật GTĐB phải là một công cụ trong quản lý nhà nước, trong
đó quy định các chế tài xử phạt vi phạm sẽ là cần thiết cho sự phát triển về
GTĐB. Đồng thời pháp luật GTĐB cần được các cơ quan, đơn vị, ngành triển
khai kịp thời, nhanh chóng đến các chủ thể khác trong xã hội.
1.1.2. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đƣờng
bộ có tác dụng bảo đảm trật tự an toàn xã hội
Sử dụng pháp luật GTĐB làm công cụ để thực hiện tác động quản lý
lên các khách thể, các chủ thể có thẩm quyền trong lĩnh vực GTĐB hướng tới
mục tiêu là đảm bảo cho hoạt động GTĐB được trật tự, an toàn, nhanh chóng,
tiện lợi, thông suốt và bảo vệ môi trường. Do vậy, hoạt động tuần tra kiểm
soát, thanh tra, kiểm tra phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật

không có những quy định cho việc thực hiện các chế tài nghiêm khắc, phù
hợp với tính chất và mức độ của hành vi vi phạm, thì sẽ dẫn đến pháp luật khó
có thể đi vào cuộc sống và được người dân nghiêm túc thực hiện. Pháp luật và
Nhà nước là những hiện tượng đặc biệt luôn có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Nhà nước và pháp luật có những nguyên nhân, tiền đề xã hội ngay từ
bình minh và trong suốt quá trình vận động, phát triển.
Theo dòng lịch sử, từ xưa đến nay, việc quản lý nhà nước dù là dưới
quan điểm đức trị hay pháp trị thì dùng pháp luật quản lý đất nước và sử dụng
pháp luật là công cụ để xử lý người không tuân thủ pháp luật luôn là một lựa
chọn có hiệu quả để quản lý đất nước, phát triển và ổn định xã hội.

16


Trong xã hội hiện đại ngày nay, việc dùng pháp luật để quản lý nhà
nước lại càng quan trọng. Để quản lý xã hội nói chung và hoạt động quản lý
nói riêng trong từng lĩnh vực thì việc sử dụng các "hình phạt" luôn được lựa
chọn để làm cho pháp luật thể hiện được tính nghiêm minh, mọi người phải
tôn trọng và thực hiện. Lĩnh vực GTĐB cũng không phải là ngoại lệ.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khẳng định:
"Quản lý xã hội bằng pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng" [43, tr. 120]. Đến
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng tiếp tục khẳng định: "Quản
lý xã hội bằng pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng" [44, tr. 94]. Để quản lý
nhà nước bằng pháp luật có hiệu quả, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
của Đảng đưa ra yêu cầu: "Quản lý xã hội bằng pháp luật đồng thời coi trọng
việc giáo dục đạo đức" [45, tr. 129].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng lại tiếp tục đề cao vai
trò của pháp luật trong hệ thống các công cụ quản lý xã hội: "Nhà nước quản
lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công

vi phạm các quy định của pháp luật GTĐB về quy tắc GTĐB; các hành vi vi
phạm quy định về kết cấu hạ tầng GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về
phương tiện tham gia GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện tham gia GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về vận tải đường
bộ; các hành vi vi phạm khác về GTĐB mà không phải là tội phạm và theo
quy định phải bị xử phạt hành chính.
1.2.2. Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đƣờng bộ
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là một dạng của vi phạm
pháp luật. Do đó, những vi phạm này cũng có các yếu tố cấu thành pháp lý
gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. Các yếu tố cấu
thành vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực
GTĐB nói riêng nằm trong một thể thống nhất.

19


Thứ nhất: Mặt khách quan
Mặt khách quan của vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành
chính trong lĩnh vực GTĐB nói riêng là tổng hợp các dấu hiệu bên ngoài của
vi phạm hành chính bao gồm: hành vi trái pháp luật, tính nguy hiểm cho xã
hội, hậu quả và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, các dấu hiệu khác như
công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm vi phạm.
Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính
trong lĩnh vực GTĐB là hành vi vi phạm hành chính. Nói cách khác, hành vi
mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâm phạm các quy tắc quản lý nhà
nước về GTĐB đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm hay không thực hiện
những việc mà pháp luật bắt buộc chủ thể phải làm.
Thứ hai: Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của vi phạm là dấu hiệu bên trong của vi phạm hành

Đối với chủ thể của vi phạm hành chính là tổ chức bao gồm: các cơ
quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực
lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân.
Bên cạnh đó, Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập
trung huấn luyện và những người thuộc lực lượng Công an nhân dân vi phạm
hành chính thi bị xử lý như đối với các công dân khác; trong trường hợp cần áp
dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng một số giấy phép hoạt động vì mục
đích quốc phòng, an ninh thì người xử phạt không trực tiếp xử lý mà đề nghị
cơ quan, đơn vị Quân đội, Công an có thẩm quyền xử lý theo Điều lệnh kỷ luật.
Đối với các nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm
vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp
luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Việt Nam có ký kết
hoặc gia nhập có quy định khác.
Ngoài ra, một số trường hợp cá nhân, tổ chức không vi xử lý vi phạm
hành chính đó là:

21


Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ
đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, quyền và lợi ích
chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là
phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình
hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành
vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Người thực hiện hành vi do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp
không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó.

chỉ đạo hướng dẫn, tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính và hình thức,
mức xử phạt.
Thứ hai: Nguyên tắc kịp thời, nhanh chóng, triệt để.
Mọi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB phải được phát
hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực GTĐB phải được tiến hành nhanh chóng, triệt để, mọi hậu quả do
hành vi vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định
của pháp luật.
Thứ ba: Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính
một lần.
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi
người vi phạm đều bị xử phạt. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm
hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.
Một hành vi vi phạm đã được người có thầm quyền xử phạt ra quyết
định xử phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì không được lập biên bản, ra
quyết định xử phạt lần thứ hai đối với hành vi đó nữa. Trong trường hợp hành
vi vi phạm vẫn tiếp tục được thực hiện mặc dù đã bị người có thẩm quyền xử
phạt ra lệnh đình chỉ thì bị áp dụng tình tiết tăng nặng.

23


Một hành vi vi phạm hành chính đã được người có thẩm quyền xử
phạt ra quyết định xử phạt thì không đồng thời áp dụng biện pháp xử phạt
hành chính khác như giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo
dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa và cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính
đối với hành vi đó.
Trong trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm bị chuyển hồ sơ
đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự mà trước đó đã có quyết định xử phạt hành
chính thì người đã quyết định xử phạt phải hủy bỏ quyết định xử phạt; nếu chưa

tinh thần.
Ngoài mục đích ngăn chặn hành vi vi phạm, các quy định này còn
mang tính giáo dục đối với các cá nhân, tổ chức bị xử phạt, góp phần nâng
cao ý thức của công dân trong việc chấp hành pháp luật và các quy tắc quản
lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB.
Theo Nghị định 34/2010/NĐ-CP hình thức xử phạt vi phạm hành
chính bao gồm: hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung.
* Về hình thức xử phạt chính
Với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB, cá nhân, tổ
chức phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền.
Về nguyên tắc cá nhân, tổ chức vi phạm chỉ bị xử phạt bằng một hình
thức xử phạt chính duy nhất. Pháp luật quy định và áp dụng hình thức xử phạt
cảnh cáo hay phạt tiền đối với hành vi vi phạm trên sự đánh giá của Nhà nước
về tính chất và mức độ xâm hại của hành vi đó đối với các quy tắc quản lý
nhà nước về GTĐB.
Hình thức phạt tiền
Đây là hình thức xử phạt phổ biến có tính chất kinh tế được áp dụng
với đa số hành vi vi phạm trong GTĐB. Phạt tiền là việc tước bỏ của cá nhân,
tổ chức vi phạm một khoản tiền nhất định để sung quỹ nhà nước. Phạt tiền tác
động trực tiếp đến vật chất, lợi ích kinh tế của cá nhân, tổ chức vi phạm, gây

25


cho họ những bất lợi về tài sản. Vì lý do đó, hình thức xử phạt này có hiệu
quả rất lớn trong việc phòng chống vi phạm hành chính trong GTĐB, đồng
thời thông qua đó giáo dục, phổ biến pháp luật cho người tham gia vào lĩnh
GTĐB. Mức xử phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính trong GTĐB theo
Nghị định 34/2010 được quy định mức tối thiểu là 40.000 đồng và mức tối đa
là 40.000.000 đồng. Khi áp dụng hình thức phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối

điều khiển xe lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ
mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành
công vụ hoặc chống người thi hành công vụ, sẽ bị phạt từ 15 đến 25 triệu đồng.
Điều khiển xe môtô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương
tự môtô và các loại xe tương tự xe gắn máy chạy quá tốc độ quy định từ 5km/giờ
đến dưới 10km/giờ, bị phạt từ 100 đến 200 nghìn đồng; chạy quá tốc độ quy định
từ 10km/giờ đến 20km/giờ, bị phạt từ 500 nghìn đến 1 triệu đồng; điều khiển
xe chạy quá tốc độ quy định trên 20km/giờ, bị phạt từ 2 đến 3 triệu đồng.
Lái xe có mùi rượu bia
Điều khiển xe ôtô và các loại xe tương tự ôtô trên đường mà trong
máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100
mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, bị phạt
từ 8 đến 10 triệu đồng; trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80
miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở, bị phạt từ 10
đến 15 triệu đồng.
Ngoài hai mức phạt trên, chỉ có "hơi men" (không cần đến số miligam
như nêu trên) khi điều khiển xe ôtô và các loại xe tương tự ôtô trên đường, là bị
phạt từ 2 đến 3 triệu đồng. Nói tóm lại, đã "lỡ uống" thì đừng ôm vô lăng lái xe.
Đua xe
Mức phạt nhẹ nhất (từ 1 đến 2 triệu đồng) đối với những người: tụ tập
để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng
lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép; đua xe đạp, đua
xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua trái
phép trên đường giao thông.

27


Mức kế tiếp (từ 4 đến 6 triệu đồng) dành cho những người cổ vũ, kích
động đua xe trái phép mà cản trở hoặc chống người thi hành công vụ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status