ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
TRẦN VĂN HƯỚNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỦA HIỆU TRƯỞNG
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN ĐỨC TRÍ
HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Phạm vi nghiên cứu
7. Phương pháp nghiên cứu
8. Cấu trúc luận văn
3
3
3
3
4
4
4
5
5
6
6
7
8
10
12
12
13
14
14
14
14
15
17
17
19
22
23
23
24
2.3. Thực trạng việc quản lý và các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên
của Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông huyện Vĩnh Bảo trong 4
năm vừa qua
2.3.1. Thực trạng công tác lập kế hoạch, quy hoạch đội ngũ giáo viên
2.3.2. Thực trạng công tác tuyển chọn đội ngũ giáo viên
2.3.3. Thực trạng việc bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên
2.3.4. Thực trạng việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
2.3.5. Thực trạng việc đánh giá, sàng lọc đội ngũ giáo viên
2.3.6. Thực trạng việc tạo môi trường, điều kiện phát triển đội ngũ giáo viên
2.3.7. Đánh giá chung về công tác quản lý và các biện pháp quản lý đội
28
28
28
29
29
29
30
30
31
32
33
35
36
37
37
37
38
40
thông huyện Vĩnh Bảo giai đoạn 2008 - 2015
3.2.2. Đổi mới công tác tuyển chọn và sử dụng hiệu quả đội ngũ giáo viên
hiện có
3.2.3. Thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho đội
ngũ giáo viên theo yêu cầu chuẩn hoá
3.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá, sàng lọc đội ngũ giáo viên
theo chuẩn giáo viên Trung học phổ thông
3.2.5. Tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để đội ngũ giáo viên phát triển
đáp ứng yêu cầu đổi mới
3.3. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Khuyến nghị
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
67
67
67
68
69
69
75
80
87
89
91
95
95
Giáo dục công dân
GDPT
Giáo dục phổ thông
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GD - ĐT
Giáo dục - Đào tạo
GDQP - AN
Giáo dục quốc phòng - An ninh
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
KH - CN
Khoa học - Công nghệ
KTCN
Kĩ thuật công nghiệp
KT - XH
Kinh tế - Xã hội
KT - ĐG
Kiểm tra - Đánh giá
NCKH
Nghiên cứu khoa học
NLSP
Năng lực sư phạm
Nxb
Nhà xuất bản
PPDH
Phương pháp dạy học
QL
thức, sự bùng nổ của công nghệ thông tin thì sự phát triển toàn diện của một đất
nước không chỉ dựa vào tài nguyên, vốn kỹ thuật mà yếu tố ngày càng trở nên
quyết định chính là nguồn lực con người, tiềm năng và năng lực sáng tạo con
người. Chính vì vậy, Đảng và nhà nước ta đã chọn GD - ĐT, KH – CN là khâu đột
phá, phát huy yếu tố con người, coi con người là “vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự phát triển”. Chưa bao giờ, Đảng ta lại coi trọng GD – ĐT như hiện nay.
Điều này đã được thể hiện rất rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ II của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá VIII:“Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát
triển mạnh mẽ giáo dục đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của
sự phát triển nhanh chóng và bền vững” [14, tr.5]. Đại hội lần thứ IX của Đảng
tiếp tục khẳng định: “Phát triển GD – ĐT là một trong những động lực quan trọng
thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [16, tr.19].
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, những yêu
cầu của khoa học giáo dục, xu thế đổi mới chương trình giáo dục trên thế giới và
hội nhập quốc tế, đặt giáo dục nước ta đứng trước yêu cầu ngày càng cao về chất
lượng nguồn nhân lực cho công cuộc CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết số
40/2000/QH10, ngày 9/12/2000 về đổi mới giáo dục phổ thông đã đánh dấu một
bước tiến rất quan trọng của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới, đề ra mục tiêu
đổi mới chương trình GDPT là xây dựng nội dung, chương trình, phương pháp GD,
SGK phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng
yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước, phù hợp với thực
tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ GD phổ thông ở các nước phát
triển trong khu vực và trên thế giới.
Trong những năm qua ngành GD - ĐT đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý
thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội
ngũ này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ
xây dựng được một ĐNGV các cấp nói chung, cấp THPT nói riêng đông đảo về số
lượng, phần lớn đạt chuẩn về bằng cấp, chất lượng ngày càng được nâng cao, về cơ
bản bước đầu đảm bảo được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Song do các
trường THPT đóng trên địa bàn một huyện nông nghiệp, nằm ở xa trung tâm thành
phố, bình quân thu nhập đầu người thuộc loại thấp nhất thành phố, quy mô học sinh
phát triển mạnh, nhân dân hiếu học, tạo ra sức ép về việc học THPT của học sinh
ngày càng tăng. Thực tế này làm cho ĐNGV THPT huyện Vĩnh Bảo trở lên bất
2
cập, bộc lộ nhiều tồn tại hạn chế đó là: Số lượng GV còn thiếu nhiều so với quy
định; Cơ cấu GV còn mất cân đối giữa các bộ môn, lứa tuổi, giới tính; Một bộ phận
không nhỏ GV chưa đạt chuẩn đào tạo, NLSP còn nhiều hạn chế, tỉ lệ GV có trình
độ trên chuẩn rất thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc đổi mới giáo dục phổ
thông hiện nay. Từ thực tế này đặt ra yêu cầu nhất thiết phải xây dựng ĐNGV
THPT đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hoá về trình
độ góp phần phát triển sự nghiệp GD - ĐT của thành phố Hải Phòng nói chung và
của huyện Vĩnh Bảo nói riêng để thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước và thành phố.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên
của Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông huyện Vĩnh Bảo thành phố
Hải Phòng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý ĐNGV của Hiệu trưởng các trường THPT huyện
Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
ĐNGV ở các trường THPT huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia được sử dụng trong việc xem xét thực trạng và các
biện pháp được đề xuất.
- Phương pháp khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp được đưa ra
trong luận văn.
7.3. Phương pháp bổ trợ
Phương pháp xử lý số liệu thống kê.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông
Chƣơng 2: Thực trạng việc quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng các
trường Trung học phổ thông huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng.
Chƣơng 3: Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng các trường
Trung học phổ thông huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng nhằm đáp ứng yêu cầu
đổi mới giáo dục hiện nay.
4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Từ xưa tới nay, giáo dục luôn là một lĩnh vực mà ở bất kỳ thời đại nào, quốc
gia nào cũng dành được nhiều sự quan tâm của toàn xã hội. Ngày nay, các nước
đều nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục đối với sự phát triển của
quốc gia nên giáo dục được đặt ở vị trí trung tâm trong các chiến lược phát triển đất
nước. Các nước trên thế giới đều coi việc phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu,
là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Để phát
triển giáo dục cần nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng nhất là ĐNGV - nhân tố
quyết định chất lượng giáo dục.
khuôn khổ qui định của luật pháp, luật giáo dục và điều lệ nhà trường.
- Từ khái niệm ĐNGV nói chung ta còn có khái niệm đội ngũ riêng cho từng
cấp học, bậc học. Đội ngũ giáo viên THPT là những nhà giáo giảng dạy, giáo dục ở
cấp THPT.
7
1.2.3. Quản lý
1.2.3.1. Khái niệm về quản lý
Trong quá trình hình thành và phát triển của lý luận quản lý, khái niệm quản lý
đã được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo những cách
tiếp cận khác nhau:
- Các nhà lý luận quản lý quốc tế như Frederick Winslow Taylor (Mỹ - 1856 1915), Henri Fayol (Pháp - 1841- 1925), Max Weber (Đức- 1864 - 1920), Mary
Parker Follett (Mỹ - 1868 - 1933) đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học đồng
thời là nghệ thuật.
- Nói đến quản lí, không thể không nhắc đến tư tưởng sâu sắc của Marx, ông
nhìn nhận vấn đề quản lí dưới ý tưởng phân công và hợp tác trong lao động: “Bất
cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối
lớn đều cần một chừng mực nhất định của quản lý” [9, tr. 195].
Theo Marx, quản lý về bản chất nó là quá trình điều chỉnh mọi quá trình xã hội
khác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc
trưởng” [9, tr. 23].
- Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về quản lý: “Quản lý xã hội một
cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay
những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng
đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó, nhằm đảm bảo cho nó hoạt
động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [9, tr. 283].
- Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận quản lý ở Việt Nam cho rằng:
hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến
trạng thái có chất lượng mới. Quản lý về bản chất bao gồm hai quá trình “quản” và
ứng nhu cầu con người, đáp ứng mục đích chủ thể quản lý.
1.2.3.2. Các chức năng cơ bản của quản lý
Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể
quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Có bốn chức năng cơ bản của quản lý
đó là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra - đánh giá.
- Chức năng kế hoạch hoá: Là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và căn
cứ vào nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng
giai đoạn, từ đó tìm ra con đường, biện pháp, cách thức đưa tổ chức đạt mục tiêu đó.
- Chức năng tổ chức: Là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố,
những con người, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho
chúng tương tác với nhau một cách tối ưu.
- Chức năng chỉ đạo: Là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều
hành tổ chức, nhân lực đã có của tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch đã đề ra và
đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong trật tự, kỷ cương nhằm đạt được
9
mục tiêu của tổ chức.
- Chức năng kiểm tra: Là những hoạt động của chủ thể QL tác động đến
khách thể quản lý nhằm đánh giá và xử lý các kết quả vận hành của tổ chức.
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý. Trong đó, từng chức
năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có quan hệ biện chứng với nhau. Trong
quá trình quản lý thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai
trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực
hiện các chức năng quản lý và đưa ra được các quyết định quản lý. Mối quan hệ
giữa các chức năng của quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:
Kế hoạch
hoạt động GD nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đề ra. Trong đó:
+ Chủ thể QL: Bộ máy quản lý của các cấp.
+ Khách thể QL: Hệ thống GD quốc dân, các trường học.
+ Quan hệ QL: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy, quan
hệ giữa người quản lý và người dạy, người học; quan hệ giữa giáo giới, cộng đồng,
nhà trường, của toàn bộ hệ thống GD.
+ Các thành tố đó là: Mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo
dục; lực lượng giáo dục (người dạy); đối tượng giáo dục (người học), phương tiện
giáo dục (điều kiện).
* Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Việt Nam, chịu sự quản lý của nhà nước và sự tham gia của nhân dân.
Quản lý nhà nước trong giáo dục là một hoạt động phức tạp, theo Luật giáo dục
2005 nó bao gồm 12 việc then chốt dưới đây:
+ Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách
phát triển giáo dục;
+ Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban
hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo
dục khác;
+ Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo;
tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát
hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;
+ Tổ chức, QL việc bảo đảm chất lượng GD và kiểm định chất lượng GD;
+ Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;
+ Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;
+ Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, QL nhà giáo và cán bộ QLGD;
+ Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp GD;
+ Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong
lĩnh vực giáo dục;
+ Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
+ Quy định việc tặng các danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối
Quản lý nhà trường bao gồm nhiều nội dung, nhiều mặt: quản lý ĐNGV, công
nhân viên; quản lý học sinh; quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học;
quản lý tài chính; quản lý quá trình dạy học - giáo dục,...Trong đó quản lý ĐNGV
là việc làm quan trọng nhất vì ĐNGV là nhân tố chủ yếu quyết định đến chất lượng
và hiệu quả giáo dục của nhà trường.
1.2.6. Quản lí nguồn nhân lực
* Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người của
một quốc gia, một vùng lãnh thổ. Theo nghĩa hẹp được hiểu là toàn bộ lực lượng
lao động có khả năng lao động, đang có việc làm hoặc chưa có việc làm. Xét trong
phạm vi một đơn vị, cơ quan hay địa phương nguồn nhân lực chính là toàn bộ lao
động của đơn vị, cơ quan hay địa phương đó.
12
* Quản lý nguồn nhân lực:
- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc:
Quản lý nguồn nhân lực: “là chức năng quản lý giúp người quản lý tuyển mộ,
lựa chọn, huấn luyện và phát triển của tổ chức” [10, tr.119].
- Quá trình quản lý nguồn nhân lực bao gồm bảy hoạt động sau đây:
+ Kế hoạch hoá nguồn nhân lực;
+ Tuyển mộ;
+ Chọn lựa;
+ Xã hội hoá hay định hướng;
+ Huấn luyện và phát triển;
+ Thẩm định kết quả hoạt động;
+ Đề bạt, thuyên chuyển, giáng cấp và sa thải.[10, tr. 119-120].
* Quản lý đội ngũ giáo viên:
- Trong lĩnh vực QLGD nói chung và QL nhà trường nói riêng, quản lí nguồn nhân
lực chính là quản lí ĐNGV, công nhân viên và học sinh. Trong đó, quản lý ĐNGV là
một nội dung chủ yếu nhất của quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức trường học.
ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước, phù hợp với
thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ GDPT ở các nước phát triển
trong khu vực và trên thế giới.
- Chiến lược phát triển KT – XH 2001 – 2010 của nước ta đã đề ra nhiệm vụ:
Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ chương trình
và SGK phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới.
- Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg về việc đổi mới
chương trình GDPT thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khoá X.
1.3.2. Mục tiêu giáo dục Trung học phổ thông
Mục tiêu giáo dục THPT được xác định rất rõ trong Luật Giáo dục 2005 là:
“Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo
dục trung học cơ sở hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông
thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa
chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp học nghề hoặc đi
vào cuộc sống lao động” [27, tr. 21-22].
1.3.3. Những yêu cầu đổi mới giáo dục Trung học phổ thông
- Do yêu cầu của sự phát triển KT – XH đối với việc đào tạo nguồn nhân lực
trong giai đoạn mới.
- Do sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học
công nghệ thể hiện qua các lý thuyết, các thành tựu mới và khả năng ứng dụng cao,
rộng và nhanh vào thực tế.
- Do có những thay đổi trong đối tượng giáo dục. Trong học tập HS không thỏa
mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, không chỉ chấp nhận các giải pháp đã có
sẵn được đưa ra, họ yêu cầu sự lĩnh hội độc lập các tri thức và phát triển kỹ năng.
- Do nhu cầu phải hòa chung với xu thế đổi mới tiến bộ trên thế giới, đây cũng
là một trong những yêu cầu bức thiết, đặc biệt là các bối cảnh thế giới hiện nay với
xu thế hòa nhập.
14
năng của môn học, hoạt động GD mà HS cần phải và có thể đạt được sau từng giai
đoạn học tập. Mỗi cấp học có chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ mà
HS cần phải đạt được.
+ Chuẩn kiến thức, kỹ năng là căn cứ để biên soạn SGK, quản lý dạy học,
đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học, hoạt động giáo dục nhằm bảo đảm tính
15
thống nhất, tính khả thi của chương trình GDPT, bảo đảm chất lượng và hiệu quả
của quá trình GD.
- Đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục HS
+ Phương pháp GDPT phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm, đối tượng HS, điều kiện của
từng lớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS. SGK và phương tiện dạy học phải đáp
ứng yêu cầu của phương pháp GDPT.
+ Hình thức tổ chức GDPT bao gồm các hình thức tổ chức dạy học và hoạt
động GD trên lớp, trong và ngoài nhà trường. Các hình thức tổ chức GD phải bảo
đảm cân đối, hài hòa giữa dạy học các môn học và hoạt động GD; giữa dạy học
theo lớp, nhóm và cá nhân; bảo đảm chất lượng GD chung cho mọi đối tượng và
tạo điều kiện phát triển năng lực cá nhân của HS; Đối với HS có năng khiếu, có thể
và cần phải vận dụng hình thức tổ chức dạy học và hoạt động GD thích hợp nhằm
phát triển năng khiếu, góp phần bồi dưỡng tài năng ngay từ bậc học phổ thông.
+ GV chủ động lựa chọn, vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức GD
cho phù hợp với nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể.
- Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục phổ thông
+ Đánh giá kết quả GD của HS ở các môn học và hoạt động GD trong mỗi lớp,
mỗi cấp học nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu GD, làm căn cứ để điều
chỉnh quá trình GD, góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện.
đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất và năng lực của người GV, ngoài trực
tiếp giảng dạy kiến thức môn học người GV còn là nhà giáo dục, bằng chính nhân
cách của mình tác động đến sự hình thành nhân cách học sinh. Đối mặt với những
vấn đề toàn cầu đặt ra cho giáo dục nhiệm vụ không chỉ trang bị kiến thức mà phải
lo hình thành ở thế hệ trẻ những tình cảm, thái độ, hành vi, thói quen ứng xử hợp
lý. Chính vì vậy, trò của người giáo viên THPT có sự thay đổi to lớn:
+ GV không còn chỉ đóng vai trò là người truyền đạt tri thức mà phải là người
tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động học tập
tìm tòi khám phá, giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức mới. GV phải có năng
lực đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ kiểu dạy tập trung vào vai trò giáo
viên và hoạt động dạy sang kiểu dạy tập trung vào vai trò của học sinh và hoạt
động học, từ cách dạy thông báo - giải thích - minh hoạ sang cách dạy hoạt động
tìm tòi khám phá.
+ Trong bối cảnh khoa học kĩ thuật, công nghệ phát triển nhanh, tạo ra sự chuyển
dịch định hướng giá trị, GV trước hết phải là nhà giáo dục có năng lực phát triển ở HS
về cảm xúc, thái độ, hành vi, bảo đảm người học làm chủ được và biết ứng dụng hợp lí
tri thức học được vào cuộc sống bản thân, gia đình, cộng đồng. Bằng chính nhân cách
của mình, GV tác động tích cực đến sự hình thành nhân cách của HS, GV phải là một
công dân gương mẫu, có ý thức trách nhiệm xã hội, hăng hái tham gia sự phát triển
17
của cộng đồng, là nhân vật chủ yếu góp phần hình thành bầu không khí dân chủ trong
lớp học, trong nhà trường, có lòng yêu giới trẻ và có khả năng tương tác với giới trẻ.
+ Trong xã hội đang phát triển nhanh, người GV phải có ý thức, có nhu cầu,
có tiềm năng không ngừng tự hoàn thiện nhân cách, đạo đức, lối sống, nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phát huy tính chủ động độc lập, sáng tạo trong hoạt
động sư phạm, biết phối hợp nhịp nhàng với tập thể sư phạm nhà trường trong việc
thực hiện các mục tiêu giáo dục. Quá trình đào tạo ở trường sư phạm chỉ là sự đào
tạo ban đầu là cơ sở cho quá trình đào tạo tiếp theo trong đó sự tự học, tự đào tạo
+ Yêu cầu thắt chặt hơn mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống;
+ Yêu cầu GV tham gia rộng rãi hơn các hoạt động trong và ngoài nhà trường;
+ Giảm bớt và từng bước thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ với
học sinh, nhất là học sinh đã trưởng thành.
1.4.2. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường Trung học
phổ thông trong giai đoạn hiện nay
* Vị trí, vai trò của Hiệu trưởng
- Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường,
do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận.
- Hiệu trưởng là người hình thành và hoàn thành sứ mệnh của nhà trường;
thực hiện điều hành nhà trường trong một môi trường với sức ép lớn bởi những
mong đợi cao của xã hội đối với cả cán bộ, giáo viên và học sinh.
- Hiệu trưởng vừa là nhà sư phạm, vừa là nhà hoạt động xã hội, vừa là người
QL (nhận trách nhiệm trước cấp trên), vừa là người lãnh đạo (điều hành cấp dưới).
- Hiệu trưởng vừa có vai trò thủ trưởng (giám sát đôn đốc các công việc), vừa
có vai trò thủ lĩnh (liên kết được đa nhân cách).
- Để làm tốt nhiệm vụ lãnh đạo nhà trường, Hiệu trưởng phải đảm bảo quản
lý tổ chức, vận hành và huy động các nguồn lực để xây dựng một môi trường học
tập, an toàn, hiệu suất và hiệu quả.
* Chức năng và nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông
- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
- Thực hiện các Nghị quyết, Quyết nghị của Hội đồng trường ;
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
- Quản lý GV, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra,
đánh giá xếp loại GV, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với GV,
nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ sơ tuyển dụng GV, nhân viên;
- Quản lý HS và các hoạt động của HS do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết
quả đánh giá, xếp loại HS, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương
trình tiểu học vào học bạ HS tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp
+ Hiểu biết chương trình GD: Hiểu đúng và đầy đủ mục tiêu, nội dung,
chương trình, phương pháp theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
+ Trình độ chuyên môn: Có trình độ chuyên môn vững về bộ môn được đào
tạo và liên hệ với các bộ môn khác.
+ Nghiệp vụ sư phạm: Có năng lực sư phạm và khả năng tổ chức đổi mới
phương pháp dạy học và giáo dục nhằm tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ và
nhân cách học sinh
+ Tự học, tự phát triển: Có ý thức, tinh thần tự học và xây dựng tập thể sư
phạm thành tổ chức học tập.
+ Năng lực ngoại ngữ và công nghệ: Sử dụng được ngoại ngữ, tin học trong
công việc.
- Năng lực lãnh đạo nhà trường
20