THỰC TRẠNG CUNG CẤP CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC II HAI BÀ TRƯNG - Pdf 68

THỰC TRẠNG CUNG CẤP CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC II HAI BÀ
TRƯNG
2.1 - KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG KHU VỰC II - HAI BÀ TRƯNG.
2.1.1 - Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh
Ngân hàng Công thương Việt Nam là một trong bốn Ngân hàng Thương mại
quốc doanh lớn ở Việt Nam, có một mạng lưới tổ chức rộng lớn, bao gồm trụ sở chính
tại Hà nội cùng với 68 chi nhánh phụ thuộc và 30 chi nhánh trực thuộc. Trong đó chi
nhánh Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai Bà Trưng là một trong những chi
nhánh hoạt động hiệu quả, có được vị trí quan trọng trong toàn hệ thống Ngân hàng
Công thương Việt nam.
Sự ra đời và phát triển của chi nhánh Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai
Bà Trưng gắn liền với tiến trình đổi mới của Ngân hàng Công thương Khi hai pháp
lệnh Ngân hàng được ban hành năm 1990. Ngân hàng Công thương quận Hai Bà
Trưng đã chuyển từ chi nhánh Ngân hàng Nhà nước sang trực thuộc thành phố Hà
Nội. Năm 1993, Ngân hàng Công thương có sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức : bỏ qua
Ngân hàng Công thương cấp thành phố chỉ còn Ngân hàng Công thương cấp quận. Sự
thay đổi này nhằm giảm bớt các khâu không cần thiết, mọi văn bản, báo cáo của chi
nhánh gửi trực tiếp đến hội sở chính, bỏ qua các cấp trung gian v..v... Do vậy, ngày 01
tháng 04 năm 1993, Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam có quyết định
thành lập chi nhánh Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai Bà Trưng trực thuộc
Ngân hàng Công thương Việt Nam tại số 306-Bà Triệu nay chuyển về số 285 - Trần
Khát Chân.
Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai Bà Trưng
luôn bám sát và thực hiện định hướng vừa kinh doanh tiền tệ - tín dụng- dịch vụ Ngân
hàng trong cơ chế thị trường có hiệu quả và an toàn, vừa góp phần tăng trưởng kinh tế
và thực thi chính sách tiền tệ của nhà nước.
Trong mười năm hoạt động gần đây kể từ khi là chi nhánh của Ngân hàng Công
thương Việt Nam, cùng với sự trưởng thành và phát triển của Ngân hàng Công thương
Việt Nam Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai Bà Trưng đã trải qua nhiều khó

- Phòng kinh doanh
- Phòng Nguồn vốn
- Phòng kinh doanh đối ngoại
- Phòng thông tin điện toán
- Phòng kế toán - tài chính
- Phòng kho quỹ
- Phòng kiểm soát
- Phòng tiếp dân.
Các phòng ban này được chuyên môn hoá hoạt động theo chức năng nhiệm vụ
công tác riêng của mình, nhưng đều có trách nhiệm là tham mưu cho Giám đốc trong
việc tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng - Nhà nước và chế độ,
thể lệ của Ngân hàng.
Ngân hàng có đội ngũ 334 cán bộ công nhân viên, trong đó 60% có trình độ
Đại học và trên Đại học. Với đội ngũ cán bộ này được bố trí hơp lý vào các phòng ban
theo trình độ nghiệp vụ chuyên môn của từng người. Ngân hàng Công thương Khu
vực II - Hai Bà Trưng là một chi nhánh lớn, kinh doanh liên tục có hiệu quả của Ngân
hàng Công thương Việt Nam. Có được vị thế và kết quả hoạt động như trên là do
những kinh nghiệm quý báu của lớp lớp cán bộ Ngân hàng kế tiếp nhau, với những
khách hàng truyền thống qua gần 45 năm hoạt động trên địa bàn khu vực.
Có thể hiểu rõ hơn về bộ máy tổ chức của chi nhánh Ngân hàng Công
thương Khu vực II - Hai Bà Trưng qua sơ đồ sau :
Việc xây dựng một hệ thống quản lý thống nhất với những quy định rõ ràng
khiến hoạt động của chi nhánh được tiến hành nhịp nhàng, hiệu quả cao. Tuy
nhiên, để có được một chi nhánh Ngân hàng Công thương phát triển như hiện nay
không thể bỏ qua một thế mạnh của nó - đó là địa bàn hoạt động khu vực Hai Bà
Trưng. Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến
kết quả hoạt động của Ngân hàng.
Trước tiên, phải khẳng định rằng quận Hai Bà Trưng là một trong những quận
lớn của thành phố Hà Nội, nơi được đánh giá là có nhiều điều kiện thuận lợi để Ngân
hàng mở rộng địa bàn hoạt động kinh doanh : Khách hàng giao dịch đông, nguồn vốn

Tổng nguồn vốn huy động đạt 1579 tỷ đồng tăng so với cuối năm 2000 là 216
tỷ, tốc độ tăng là 15,8% và đạt 107,9% so với kế hoạch.
Ta có thể thấy rõ hơn về sự tăng trưởng nay qua bảng sau :
BẢNG 1 : CƠ CẤU NGUỒN VỐN
(Đơn vị : tỷ đồng)
Chỉ tiêu Số dư đến
31/12/2001
% trong tổng
NB huy động
(+;-) so với
31/12/2000
1. Tiền gửi các tổ chức kinh tế 527 33,4 + 130
2. Tiền gửi dân cư 1.052 66,4 + 86
3. Tiền gửi VND 1.154 73,1 + 49
4. Tiền gửi ngoại tệ 425 26,9 + 165
B1 [ 1,2]
Qua bảng số liệu sau cho thấy:
- Các chỉ tiêu huy động vốn của Ngân hàng đều tăng so với năm 2000 cụ thể là:
Tiền gửi các tổ chức kinh tế tăng với số tuyệt đối là 130 tỷ, với tốc độ tăng là 32,7%.
Tiền gửi dân cư tăng 86 tỷ, với tốc độ tăng là 8,9%, Tiền gửi VND tăng 49 tỷ, với tốc
độ tăng là 4,4% và tiền gửi ngoại tệ tăng là 165 tỷ, với tốc độ tăng là 63,9%. Điều này
chứng tỏ chi nhánh đã làm tốt công tác huy động vốn, nguồn vốn tăng liên tục và ổn
định, đáp ứng thoả mãn nhu cầu hoạt động đầu tư tín dụng của chi nhánh.
- Cơ cấu huy động vốn của Ngân hàng đã có nhiều chuyển biến tích cực theo
hướng vừa tăng trưởng vững chắc vừa có lợi cho kinh doanh.
+ Nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng nhiều so với cuối năm 2000, với
tỷ lệ tăng 32,7%-tỷ lệ này là khá lý tưởng đối với một Ngân hàng Thương mại, vì
nguồn này thường ổn định và lãi suất phải trả thấp.
+ Nguồn tiền gửi bằng ngoại tệ cũng tăng mạnh, tăng với tỷ lệ là 63.9% so với
cùng kỳ năm 2000. Nguồn này giúp cho Ngân hàng đáp ứng cho hoạt động kinh

Kinh tế quốc doanh 553 91,7 148,5
Kinh tế ngoài quốc doanh 49,6 9,3 121,3
2. Phân theo kỳ hạn cho vay
Cho vay ngắn hạn 415,9 69 126,5
Cho vay trung, dài hạn 186,7 31 121,2
3. Theo nội và ngoại tệ
Cho vay bằng VND 279,1 46,3 95,7
Cho vay bằng ngoại tệ ( quy đổi) 323,5 53,7 266,3
B2 [1,3 ]
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, công tác đầu tư vốn trên điạ bàn
quận Hai Bà Trưng có nhiều biến đổi. Ngay khi mới thành lập, Ngân hàng mang trọng
trách phục vụ kinh tế quận là chính. Lịch sử hình thành và địa bàn hoạt động đã đặt ra
mục tiêu của Ngân hàng là phục vụ kinh tế quốc doanh. Vì vậy qua bảng phân tích cơ
cấu dư nợ, dư nợ của thành phần cơ cấu quốc doanh chiếm tới 91,7% tổng dư nợ,
trong khi dư nợ của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chỉ là 9,3% khoảng cách
trênh lệch quá lớn giữa hai con số đã khẳng định Ngân hàng vẫn chưa thu hút được
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Đây chính là sự mất cân đối cần khắc phục.
Bằng việc nghiên cứu kỹ hồ sơ và đối tượng vay vốn trên cơ sở thẩm định dự
án đảm bảo tính pháp lý có tính khả thi, Ngân hàng Công Thương Hai Bà Trưng Ngân
đã từng bước đẩy mạnh cho vay các thành phần kinh tế nhất là các doanh nghiệp làm
ăn có hiệu quả. Đặc biệt, khối kinh tế quốc doanh và doanh số cho vay liên tục tăng
góp phần giúp cho nhiều doanh nghiệp thuộc ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố
để đổi mới trang thiết bị công nghệ, nhập nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Năm qua tổng số có 22 dự án được thẩm định và 17 dự án được phát tiền vay, do đó
đưa tốc độ dư nợ trung và dài hạn tăng lên 121,2% so với năm 2000. Đây là hướng
đầu tư phù hợp góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Qua phân tích ở trên ta thấy công tác sử dụng vốn của chi nhánh lấy mục tiêu
"phát triển, an toàn, và hiệu quả" đã bước đầu đi vào ổn định. Ngân hàng đã tập trung
mở rộng đầu tư đối với khu vực kinh tế quốc doanh, những dự án lớn, khả thi và có
hiệu quả, chủ động tạo mọi thuận lợi hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp được vay

93.350,9
35.452,7
57.898,2
2. Chi phi
- Chi phí về hoạt động kinh doanh
- Chi nộp thuế
- Chi dịch vụ thanh toán
- Chi nhân viên
- Chi khác
87.033,3
79.452,6
480,4
150,4
4.097,6
2.852,5
96.435,1
87.998,5
90,4
154,9
4.964,7
3.227,4
76.426,9
63.422,3
175,4
158,4
7.349,8
532,1
3. Kết quả kinh doanh 14.004,1 15.030,5 16.924,0
B3 [1,5 ]
Số liệu ở bảng trên cho thấy đây là một ngân hàng làm ăn có lãi, với kết quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status