BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
----***----
TRẦN THỊ TRÀ GIANG
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP
TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG NĂM 2019
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2015 – 2019
Hà Nội – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
----***----
TRẦN THỊ TRÀ GIANG
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP
TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG NĂM 2019
em tình yêu thương, là chỗ dựa tinh thần tạo điều kiện tốt nhất cho em, đã động
viên, khích lệ; là nguồn động lực mạnh mẽ để em yên tâm học tập nghiên cứu và
hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, Ngày …. Tháng …. Năm 2019
Tên sinh viên
Trần Thị Trà Giang
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
-
Phòng đào tạo Đại học Trường Đại học Y Hà Nội.
-
Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng.
-
Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm.
-
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp.
Em xin cam đoan công trình nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố
liên quan ở bệnh nhân trước phẫu thuật tuyến giáp tại bệnh viện Nội Tiết
Trung Ương năm 2019” là công trình nghiên cứu của riêng em. Các số liệu, kết
quả được nêu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ
LDL – C
: Cholesterol có tỷ trọng thấp (Low Density Lipoprotein - cholesterol)
SDD
: Suy dinh dưỡng
SGA
: Đánh giá tổng thể chủ quan - Subjective Global Assessment
TTDD
: Tình trạng dinh dưỡng
TRH
: Hormon giải phóng Thyrotrophin Releasing Hormone
TSH
: Hormon giải phóng Thyroid stimulating hormone
T3
: Hormon tuyến giáp triiodothyronine
T4
8
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng có vai trò thiết yếu trong quá trình tăng trưởng và duy trì sức
khỏe trong suốt cuộc đời của con người ngoài ra đây còn là một yếu tố để đánh giá
sự phát triển về kinh tế-xã hội của một đất nước. Đặc biệt đối với người bệnh, dinh
dưỡng hợp lý là một phần không thể thiếu trong các biện pháp điều trị tổng hợp và
chăm sóc toàn diện. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng chiếm 20 –
60% bệnh nhân nằm viện và có đến 30 – 90% bị mất cân trong thời gian điều trị,
trong đó tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở bệnh nhân phẫu thuật là 40 – 50% [1], [2], [3], [4],
[5], [6]
. SDD trước phẫu thuật làm gia tăng các biến chứng sau mổ [7]: nhiễm trùng vết
mổ, chậm lành vết thương… Bên cạnh đó SDD còn liên quan tới các biến chứng
khác như: viêm phổi, nhiễm trùng huyết [8], [9]…. Do vậy, SDD sẽ kéo dài thời gian
nằm viện, tăng chi phí điều trị.
Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề dinh dưỡng. Tuy nhiên đa
phần nghiên cứu tập trung về mảng dinh dưỡng cộng đồng. Trước năm 2000, dinh
dưỡng cho bệnh nằm viện hầu như không được đề cập. Cho đến năm 2006, đã có
các nghiên cứu đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân nằm viện tại các khoa
Tiêu hóa, Nội tổng hợp, Ung bướu, Tim mạch,…nhưng các nghiên cứu này lại nằm
trong lĩnh vực nội khoa[10], [11], [12]. Về tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân ngoại
khoa dường như chưa được thực hiện. Mãi cho đến năm 2008, bài nghiên cứu của
Phạm Văn Năng chỉ ra có đến 57,7% bệnh nhân phẫu thuật ngoại tổng quát có tình
trạng SDD trước mổ[13] thì dinh dưỡng cho của bệnh nhân ngoại khoa mới được
quan tâm hơn, các bài nghiên cứu về vấn đề dinh dưỡng trong ngoại khoa được thực
hiện nhiều hơn.
Cụ thể, ở bệnh nhân trước phẫu thuật Gan Mật Tụy, tỷ lệ SDD vào năm 2010
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
Đại cương phẫu thuật các bệnh tuyến giáp
1.1.1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý tuyến giáp
Tuyến giáp là một tuyến nội tiết lớn nhất trong cơ thể, trọng lượng khoảng 12
-20 gam. Tuyến giáp có 2 thùy: thùy phải và thùy trái, nối với nhau bởi eo giáp. Đôi
khi có thêm thùy tháp nằm lệch sang trái so với đường giữa và nối với xương móng
bằng một dải xơ, là dấu vết của ống giáp lưỡi. Cấu trúc vi thể tuyến giáp: được tạo
10
bởi các nang tuyến, cấu tạo bởi các tế bào biểu mô tuyến, xếp thành nang và ngoài
cùng là lớp vỏ xơ bao bọc, đó là bao tuyến. Nang tuyến là đơn vị hoạt động chức
năng của tuyến giáp. Tuyến giáp có hệ thống mạng lưới lympho phong phú, khi tổ
chức tuyến giáp bị ung thư, tế bào ung thư dễ dàng di căn vào hệ hạch cổ [24]. Tuyến
giáp được cố định bởi: bao tạng dính chặt tuyến giáp vào khung thanh quản. Dây
chằng treo trước từ mặt giữa trên của mỗi thùy tới sụn giáp và sụn nhẫn. Mặt sau
giữa dính vào cạnh của sụn nhẫn, vòng khí quản thứ nhất và thứ hai bởi dây chằng
Berry. Thần kinh quặt ngược, mạch máu, tổ chức liên kết cũng tham gia vào cố định
tuyến giáp[24].
Hoạt động của tuyến giáp được duy trì bình thường nhờ cân bằng hoạt động
của trục dưới đồi (hypothalamus), thùy trước tuyến yên và tuyến giáp. TRH
(thyrotropin releasing hormone) tiết ra từ dưới đồi sẽ tác dụng kích thích tuyến yên
và bị kìm hãm bởi cơ chế ngược của nội tiết tố tuyến giáp. Hệ thống nội tiết – thần
kinh cũng tác động tới chức năng tuyến giáp. Các liên bào (epithelium) của nang
giáp được các tận cùng thần kinh giao cảm phân bố đến, catecholamin kích thích sự
tổng hợp nội tiết tố tuyến giáp và thúc đẩy sự giải phóng các nội tiết tố đó, có thể là
như ở Việt Nam. Trên thế giới, theo WHO có 200 - 300 triệu người bị bướu tuyến
giáp, chiếm 7% dân số thế giới. Ở Việt Nam, thì tỉ lệ bị bướu giáp thay đổi từ 4% 20% tuỳ theo vùng miền. Về điều trị, có 2 phương pháp là: Phẫu thuật và không
phẫu thuật. Trong đó phẫu thuật giữ vai trò then chốt góp phần quan trọng giải
quyết triệt để bướu, đặc biệt là trong bướu giáp đơn nhân lành tính, là tình trạng
tuyến giáp phình to nhưng không có rối loạn hoạt động của tuyến giáp. Trong bướu
giáp đơn thuần có bướu giáp lan toả, phình tuyến giáp và bướu giáp nhân, nhưng
phần lớn bướu giáp đơn thuần là lành tính, chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ chứ không
gây nguy hại đến sức khỏe. Nguyên nhân thường được nghĩ đến nhất là do thiếu
iod, tuy nhiên có nhiều vùng trên thế giới không thiếu iod, ngay cả vùng thừa iod
vẫn có thể bị bướu giáp dịch tễ, ngoài ra không phải tất cả người sống ở vùng thiếu
iod đều bị bướu giáp đơn thuần. Điều này cho thấy ngoài yếu tố môi trường còn có
yếu tố di truyền trong bệnh sinh bướu giáp, các yếu tố này có thể tác dụng tương
hỗ[45],[46],[47].
Bướu giáp nhiễm độc: là một căn bệnh nội tiết thường gặp, căn bệnh này do
các yếu tố phản ứng tự miễn của cơ thể từ đó gây nên sự tăng tiết của tế bào tuyến
giáp mà sinh ra bệnh. Tuyến giáp phình to là do tiết ra quá nhiều nội tiết tố tuyến
12
giáp, làm tăng biểu hiện chuyển hoá gây bệnh. Khi đó mạch nhanh, gầy sút và khi
đo nội tiết tố tuyến giáp thấy tăng cao, nếu không điều trị sẽ rất nguy hiểm. Đây là
bướu độc nhưng không phải ung thư. Bướu cường giáp bắt buộc phải điều trị thuốc
trước nếu có kèm bướu giáp nhân sẽ mổ cắt bướu giáp nhân. Còn với bướu giáp lan
toả, điều trị nội khoa kéo dài. Với những bệnh nhân có bướu to sau điều trị tạm ổn
sẽ phẫu thuật. Trong trường hợp già yếu kèm bệnh suy tim thì cần xạ trị bằng
phương pháp i-ốt phóng xạ. Có trường hợp mổ rồi tái phát. Phương án điều trị tốt
nhất là: thuốc – phẫu thuật – xạ trị bằng i-ốt phóng xạ. Loại điển hình của bướu
cường giáp thường gặp là mắt lồi, tay run. Trong đó basedow thuộc loại nặng nhất
của bướu cường giáp. Cần điều trị nội khoa trước, sau mới mổ. Sau mổ, chế độ dinh
trị liệu và hormon liệu pháp. Lựa chọn phương pháp nào là tuỳ thuộc vào thể mô
bệnh học, giai đoạn bệnh, thể trạng bệnh nhân. Trong thực tế lâm sàng, thường phối
hợp đa phương thức điều trị [44]. Theo khuyến cáo của Hiệp hội chống ung thư Quốc
tế, hầu hết các giai đoạn UTTG và các thể bệnh theo chẩn đoán mô bệnh học đều
phải phẫu thuật cắt tuyến giáp toàn bộ để loại bỏ ổ ung thư vi thể ở thùy giáp đối
bên, giảm tái phát tại chỗ, hạn chế di căn xa, giảm tỷ lệ tử vong và để sự hấp thu
131I của tế bào UTTG còn lại được dễ dàng hơn, làm tăng hiệu quả khi sử dụng
131I, thuận lợi cho sự theo dõi tái phát qua định lượng thyroglobulin [44], đồng thời
làm tăng hiệu quả của xạ trị ngoài trong trường hợp UTTG không bắt 131I hoặc thể
không biệt hóa.
1.1.4. Phẫu thuật tuyến giáp là gì?
Phẫu thuật cắt tuyến giáp để điều trị bệnh bướu cổ là phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ
hoặc một phần tuyến giáp trong quy trình điều trị bướu cổ.
Tuyến giáp là một cơ quan nằm ở cổ, có nhiệm vụ sản xuất ra một hormone
gọi là thyroxine (hormone giáp trạng). Hormone này có vai trò điều hòa quá trình
trao đổi chất trong cơ thể. Tuyến này có thể phì đại quá to gây ra bệnh bướu cổ [27].
1.1.5. Khi nào thì nên phẫu thuật tuyến giáp
Phẫu thuật cắt tuyến giáp để điều trị bệnh bướu cổ là một lựa chọn khi bướu
cổ lớn khiến người bệnh cảm thấy khó chịu hoặc khó thở hay khó nuốt, và trong
một số trường hợp, khi bướu giáp gây cường giáp (là tình trạng tuyến giáp hoạt
động quá mức dẫn đến dư thừa lượng hormone giáp trạng – thyroxine – trong máu
-
dẫn đến những rối loạn về trao đổi chất trong cơ thể)[28].
Bác sĩ sẽ cân nhắc phẫu thuật trong những trường hợp:
Có bằng chứng lâm sàng hoặc X-quang về sự chèn ép của bướu cổ lên các cấu trúc
-
Phẫu thuật cắt tuyến giáp qua nội soi cũng như mổ mở truyền thống đều nhằm
mục đích là lấy đi phần tuyến giáp bệnh lý. Trong phẫu thuật tuyến giáp nội soi điều
trị bệnh phình giáp hạt, hiệu quả phẫu thuật thường được đánh giá qua việc còn sót
nhân giáp sau mổ hay không. Vấn đề trên chủ yếu được khảo sát qua thăm khám
lâm sàng và siêu âm tuyến giáp sau mổ. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ khái niệm sót
nhân giáp sau mổ với nhân giáp tái phát. Người ta định nghĩa rằng: sót nhân giáp
sau mổ là tình trạng phình giáp hạt (đơn hạt hoặc đa hạt) đã có từ trước mổ và khi
mổ không lấy hết được các hạt giáp dẫn đến hậu quả còn lại 1 hoặc nhiều hạt giáp
sau mổ. Nhân giáp tái phát là tình trạng bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt sạch các
nhân giáp đã có nhưng sau 1 thời gian, phần tuyến giáp còn lại xuất hiện các hạt
giáp tân sinh[42].
1.1.7. Biến chứng sau phẫu thuật tuyến giáp
15
Cũng như mổ mở, phẫu thuật tuyến giáp nội soi có thể gặp một số tai biến,
biến chứng trong và sau khi mổ. Vì thế, sau phẫu thuật, bệnh nhân được thăm khám
kỹ càng để tầm soát các tai biến, biến chứng phẫu thuật. Các biến chứng được chia
làm 2 nhóm: sớm và muộn. Các biến chứng sớm thường xảy ra ngay hoặc trong
vòng một và ngày sau mổ trong khi các biến chứng muộn có thể xuất hiện sau vài
-
tháng[29].
Các biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật tuyến giáp có thể gặp bao gồm:
Tụ dịch ở xung quanh vùng phẫu thuật (nếu vùng tụ dịch nhỏ thì nó
thường tự hết, nhưng nếu vùng này quá lớn thì cần phải được chọc hút lấy dịch ra
-
Cơn bão giáp: là một biến chứng của phẫu thuật biểu hiện bởi sự tăng lên đột ngột
-
của nồng độ hormone giáp trạng trong máu và có thể dẫn đến tử vong.
Chấn thương thần kinh thanh quản trên.
Chấn thương dây thân kinh dẫn đến hậu quả không có khả năng kéo dãn dây thanh
-
âm khiến người bệnh không thể nói giọng cao được.
Các nhánh bên ngoài có lẽ là các dây thần kinh thường bị ảnh hưởng nặng nhất
trong phẫu thuật tuyến giáp.
16
Hầu hết các bệnh nhân không nhận thấy bất kỳ sự thay đổi nào khi có chấn
thương thần kinh thanh quản trên, nhưng đối với một ca sĩ chuyên nghiệp, những
tổn thương này có thể kết thúc sự nghiệp của họ.
- Nhiễm trùng: xảy ra ở 1-2% của tất cả các trường hợp.
- Suy giáp (sự suy yếu hoạt động của tuyến giáp).
- Tổn thương thân thần kinh giao cảm có thể xảy ra nhưng rất hiếm gặp.
1.2.
Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
1.2.1. Khái niệm
Dinh dưỡng: là việc cung cấp các chất cần thiết (theo dạng thức ăn) cho các tế
Suy dinh dưỡng ( SDD): Tình trạng cân bằng dinh dưỡng bị phá vỡ, sự thiếu
hụt hay dư thừa năng lượng và các chất dinh dưỡng khác gây ra những bất lợi đến
cấu trúc, hình dáng, chức phận của cơ thể và bệnh tật. Hội Dinh dưỡng lâm sàng và
chuyển hóa châu Âu đã đề xuất định nghĩa suy dinh dưỡng cho người bệnh như sau:
“Suy dinh dưỡng là một tình trạng cung cấp thiếu, không đầy đủ hay rối loạn hấp
thu dinh dưỡng dẫn đến làm thay đổi thành phần cơ thể (giảm khối mỡ tự do và
khối tế bào cơ thể), làm giảm chức năng về thể chất, tinh thần và suy giảm kết quả
điều trị bệnh”[30].
Suy dinh dưỡng ở người bệnh còn có thể do tình trạng tăng dị hóa trong chấn
thương, viêm và các stress chuyển hóa. Nếu như suy dinh dưỡng do khẩu phần cung
cấp không đủ thì có thể dễ dàng can thiệp và hồi phục bằng hỗ trợ dinh dưỡng.
Nhưng đối với các bệnh lý gây tăng dị hóa, tạo ra cân bằng năng lượng và nitơ âm
tính thì không thể phục hồi bằng liệu pháp dinh dưỡng đơn thuần, kể cả khi được
nuôi ăn dư thừa. Thông thường, chỉ khi giai đoạn dị hóa bắt đầu giảm mới có thể
hồi phục lại các mô đã mất. Do đó, Ủy ban hướng dẫn đồng thuận Quốc tế đã thống
nhất chẩn đoán suy dinh dưỡng dựa trên nguyên nhân của tình trạng đói và bệnh lý.
“Suy dinh dưỡng do đói” là khi có tình trạng đói mạn tính và không có viêm; “suy
dinh dưỡng do bệnh mạn tính” khi có tình trạng viêm ở mức độ nhẹ đến vừa (như
suy giảm chức năng cơ thể, ung thư, viêm khớp hay béo phì); “suy dinh dưỡng do
tổn thương hay bệnh cấp tính” là khi có tình trạng viêm cấp tính nặng (như nhiễm
trùng nặng, bỏng, chấn thương, sau đại phẫu thuật)[30].
18
Ngoài ra, thuật ngữ “suy dinh dưỡng” được hiểu theo cả nghĩa thiếu và thừa
dinh dưỡng, suy dinh dưỡng được định nghĩa “là tình trạng rối loạn dinh dưỡng bán
cấp hay mạn tính, trong đó có sự kết hợp thừa dinh dưỡng, thiếu dinh dưỡng và tình
trạng viêm ở nhiều mức độ khác nhau dẫn đến sự thay đổi về thành phần và suy
giảm chức năng cơ thể”[30].
tình trạng dinh dưỡng của người bệnh bao gồm: dinh dưỡng tốt, suy dinh dưỡng vừa
và nặng dựa vào các kết quả thay đổi cân nặng, khẩu phần, các triệu chứng dạ dày ruột, các thay đổi chức năng và các dấu hiệu lâm sàng liên quan đến thiếu dinh
dưỡng. SGA lần đầu tiên được Baker, Trường đại học Toronto, Canada mô tả năm
1982. Tác giả đã nhận thấy SGA là công cụ sàng lọc dinh dưỡng có độ nhạy và độ
đặc hiệu cao khi tiên đoán biến chứng và tử vong ở người bệnh phẫu thuật. Từ đó
nó được phát triển và sử dụng rộng rãi trong các quần thể người bệnh khác nhau.
SGA là một công cụ sàng lọc lâm sàng có độ lặp lại, có tương quan tốt với những
phép đo khác về tình trạng dinh dưỡng, dự đoán những biến chứng, tử vong liên
quan. Nội dung đánh giá gồm 2 phần dựa trên tiền sử y học của người bệnh và qua
thăm khám thực thể với 7 chỉ tiêu như sau: (1) thay đổi cân nặng trong vòng 6 tháng
qua; (2) khẩu phần ăn; (3) biểu hiện của các triệu chứng: rối loạn tiêu hoá, sốt… (4)
tình trạng sức khoẻ, thể lực; (5) sự suy giảm lớp mỡ dưới da; (6) dấu hiệu teo cơ;
-
(7) hội chứng phù[33].
Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo SGA ra là 3 mức:
SGA-A: không có nguy cơ SDD
SGA-B: có nguy cơ SDD mức độ nhẹ và vừa
SGA-C: có nguy cơ SDD mức độ nặng
Đánh giá theo chỉ số hóa sinh: Xét các chỉ số sinh hóa theo Bộ Y tế lúc bắt đầu
nhập viện[41].
-
Glucose máu lúc đói: 4,4 – 7,2 mmol/l (80 – 130mg/dl)
Lipid máu: LDL – C < 100 mg/dl (2,6 mmol/l) nếu chưa có biến chứng tim mạch.
LDL – C < 70 mg/dl (1,8 mmol/l) nếu đã có biến chứng tim mạch, HDL – C >
-
21% - 52% [34], tại Australian SDD chiếm khoảng 40% [35]).
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc suy dinh dưỡng của người bệnh tại bệnh viện dao
động khác nhau tùy theo từng loại bệnh lý, phụ thuộc vào các ngưỡng giá trị của các
công cụ đánh giá. Theo các nghiên cứu từ 2010 đến 2015 tại các bệnh viện tuyến
tỉnh và một số bệnh viện tuyến Trung ương như Bạch Mai, Chợ Rẫy, bệnh viện Nhi
Trung ương, tỷ lệ suy dinh dưỡng của người bệnh nằm viện khoảng 40% - 50% theo
thang đánh giá SGA[36].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lâm, khoảng 50% người bệnh đã có biểu
hiện suy dinh dưỡng ngay khi nhập viện nhưng chỉ 12,5% người bệnh được phát
hiện[37].
Tác giả Lưu Ngân Tâm, Nguyễn Thùy An nghiên cứu về tình trạng dinh
dưỡng trước mổ và biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật gan, mật, tụy tại bệnh
viện Chợ Rẫy cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng của người bệnh trước phẫu thuật lần
lượt là 25,8% theo BMI; 56,7% SGA-B, SGA-C[14], [15].
Nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Năng tại khoa Y trường đại học Y Dược
Cần Thơ cho thấy 57,7% bệnh nhân phẫu thuật ngọai tổng quát có tình trạng suy
dinh dưỡng trước mổ và tỉ lệ xảy ra biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật bụng ở
21
nhóm bệnh nhân suy dinh dưỡng cao hơn nhóm bệnh nhân không có suy dinh
dưỡng[13].
Nghiên cứu của tác giả Đào Duy Tân, khoảng 55,1% bệnh nhân trước mổ tiêu
hóa có nguy cơ SDD theo SGA (trong đó 32,9% SGA-B; 22,3% SGA-C)[38].
Có thể thấy tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng của người bệnh nội trú trong bệnh
viện vẫn đang là một vấn đề nan giải và chưa được quan tâm đầy đủ không chỉ ở
Việt Nam, mà tình trạng này vẫn còn tồn tại ở nhiều quốc gia khác. Tại các nước
phát triển, nơi có hệ thống chăm sóc dinh dưỡng hoàn thiện thì tỷ lệ suy dinh dưỡng
của người bệnh cũng vẫn còn khá cao, chiếm tỷ lệ từ 30-70% tùy theo loại bệnh lý
Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
Bệnh nhân nhập viện Nội Tiết Trung Ương để phẫu thuật tuyến giáp.
Thời gian nằm viện trước phẫu thuật ≥ 1 ngày.
Tiêu chuẩn loại trừ:
Người bệnh từ chối tham gia nghiên cứu.
Người bệnh đang mắc các bệnh cấp tính nặng tại thời điểm nghiên cứu (hôn mê,
phẫu thuật cấp cứu, thủ thuật cấp cứu).
- Bệnh nhân không thể đo chiều cao, cân nặng.
2.1.2
Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Bệnh viện Nội Tiết Trung Ương : Bệnh viện Nội tiết Trung ương hiện là bệnh
viện chuyên khoa đầu ngành trong lĩnh vực nội tiết và chuyển hóa. Đến nay, bệnh
viện đã được công nhận là bệnh viện hạng nhất với cơ sở vật chất khang trang, hiện
đại. Bên cạnh đó, Bệnh viện Nội tiết Trung ương cũng là cơ sở y tế đầu tiên trong
nước áp dụng phương pháp mổ nội soi tuyến giáp, đem lại hiệu quả điều trị lớn và
rút ngắn thời gian nằm viện cho bệnh nhân. Hiện Bệnh viện Nội tiết Trung ương Hà
Nội có 39 khoa lâm sàng, cận lâm sàng và các phòng ban được trang bị máy móc,
trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác khám chữa bệnh. Bệnh viện tổ chức 15
phòng khám bệnh chuyên khoa, 2 bàn khám ngoài giờ và 3 phòng khám theo yêu
cầu.
Khoa Phẫu thuật Tuyến giáp (PTTG):được thành lập từ ngày 26/12/2001, sau
khi tách Khoa Ngoại thành 4 khoa: Phẫu thuật Tuyến giáp, Gây mê Hồi sức, Điều
trị Kỹ thuật cao, Ngoại chung. Chức năng, nhiệm vụ: Khám và điều trị cho bệnh
nhân có bệnh lý liên quan đến tuyến giáp bằng phẫu thuật: mổ mở, mổ nội soi. Đào
tạo cho các bác sĩ ở các tuyến khác đến học tập tại khoa: các bác sĩ ở trong nước và
nước ngoài. Thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học về bệnh lý tuyến giáp, tuyến
cận giáp.
Thời gian nghiên cứu: 11/2018 – 5/2019
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Chọn mẫu:
Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện. Bệnh nhân được chọn phù hơp với
tiêu chuẩn đưa ra. Các bệnh nhân được chọn lựa liên tục cho đến khi đủ số lượng là
300 bệnh nhân.
Biến số
Thông tin chung của bệnh nhân: Tuổi, giới, khu vực sống, trình độ văn hóa,
2.2.3
bệnh đồng mắc, chẩn đoán, thời gian mắc bệnh, cân nặng hiện tại, cân nặng 6 tháng
trước, chiều cao.
Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân: chỉ số BMI, SGA, xét nghiệm hóa sinh
( glucose máu, cholecterol máu, triglyceride máu, HDL – C, LDL – C).
Yếu tố liên quan: yếu tố nhân trắc học, yếu tố bệnh lý.
2.3. Kỹ thuật và công cụ
Cách tiến hành: Nghiên cứu được tiến hành theo hướng dẫn của WHO[55]:
Bước 1: Phỏng vấn và thu thập thông tin từ ĐTNC.
Bước 2: Đo các chỉ số nhân trắc bằng các dụng cụ đo.
24
Bước 3: Lấy các chỉ số xét nghiệm từ hồ sơ bệnh án.
Các kỹ thuật và phương pháp sử dụng
Phỏng vấn: Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu theo bộ câu hỏi được
thiết kế sẵn.
Đánh giá TTDD của người bệnh nằm viện: Sử dụng công cụ đánh giá toàn
diện đối tượng (Subjective Global Assessment - SGA) để đánh giá tình trạng dinh
-
B
C
Không
5 – 10%
> 10%
Cháo đặc/ dịch đủ
Dịch năng lượng
Không
năng lượng
thấp
Không
Chán ăn
Buồn nôn, nôn
Bình
Giảm cân
Nằm tại giường
thường
Không
Vừa
Nặng
Bình
Giảm lớp mỡ dưới
Phù, cổ chướng
thường
da, khối cơ
25
Sử dụng cân TANITA có độ chính xác 0,1kg để cân đối tượng. Cân được
SDD độ 3
Phân loại
< 16,5
SDD độ 2
16,5 – 16,99