ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ NGUYỆT MINH
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƢỚNG
TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM HOÁ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Hoá học)
Mã số: 60.14.10
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Trần Trung Ninh
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ
SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƢỚNG TIẾP CẬN PISA TRONG
DẠY HỌC PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới
2.2. Thiết kế hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa
học vô cơ lớp 9
2.2.1. Cơ sở và nguyên tắc
2.3. Hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hướng tiếp cận PISA
CHƢƠNG I: CÁC LOẠI HỢP CHẤT VÔ CƠ
CHƢƠNG II: : KIM LOẠI
CHƢƠNG III: PHI KIM
2.4. Sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học vô
cơ lớp 9
2.4.1. Sử dụng khi dạy bài mới
2.4.2. Sử dụng khi luyện tập, ôn tập
2.4.3. Sử dụng khi tự học ở nhà
2.4.4. Sử dụng khi kiểm tra, đánh giá
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1.
Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm
3.2.
Thời gian, đối tƣợng thực nghiệm
3.3.
Quá trình tến hành thực nghiệm
3.4.
Phƣơng pháp dạy học
KT
Kiểm tra
LĐC
Lớp đối chứng
LTN
Lớp thực nghiệm
PISA
Programme for International Student Assessment
SGK
Sách giáo khoa
THCS
Trung học cơ sở
TN
Thực nghiệm
Bảng 3.11. Tổng hợp kết quả thăm dò ý kiến GV sau thực nghiệm
Bảng 3.12. Tổng hợp kết quả thăm dò ý kiến HS sau thực nghiệm
,
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Lần 1 - trƣờng THCS An Lƣ Hình
3.2. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Lần 2 - trƣờng THCS An Lƣ Hình 3.3.
Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Lần 1 - trƣờng THCS Hoa Động Hình 3.4.
Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Lần 2 - trƣờng THCS Hoa Động
Hình 3.5. Đồ thị cột biểu diễn kết quả 2 bài kiểm tra của HS trƣờng THCS An Lƣ
và THCS Hoa Động
,
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đổi mới giáo dục là một trong những vấn đề mang tính thời sự, đƣợc mọi
tầng lớp xã hội hiện nay rất quan tâm. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, giáo
dục Việt Nam đang tập trung đổi mới, hƣớng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại,
hòa nhập với xu hƣớng của các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Ở trƣờng THCS, môn Hóa học dù đƣợc đƣa vào giảng dạy muộn nhất trong
hệ thống các môn khoa học nhƣng có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của
chúng ta. Các kiến thức hoá học không chỉ cung cấp những tri thức hóa học phổ
thông, cơ bản mà còn cho ngƣời học thấy đƣợc mối liên hệ qua lại giữa công nghệ
hoá học, môi trƣờng và con ngƣời.... Chính vì vậy, để góp phần thực hiện mục tiêu
“Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục
kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường
khả năng của HS ứng dụng các kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực chuyên môn cơ
bản, khả năng phân tích, lý giải và truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét,
diễn giải và giải quyết các vấn đề. Theo nhận định của nhiều chuyên gia, PISA
đƣợc đánh giá là cuộc khảo sát tin cậy về năng lực của HS.
Là ngƣời trực tiếp giảng dạy bộ môn Hóa học ở trƣờng THCS, tôi nhận thấy,
việc sử dụng hệ thống bài tập theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học môn Hóa học
ở trƣờng THCS là rất quan trọng, mang tính thiết thực cao. Tuy nhiên, thực tế hiện
nay, các bài tập hóa học ở trƣờng THCS đƣợc xây dựng theo hƣớng này gần nhƣ
rất ít. Với những lý do trên, tôi nghiên cứu đề tài: “Thiết kế và sử dụng hệ thống
bài tập theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, sách, giáo trình, tài liệu, bài viết…
liên quan đến việc việc sử dụng bài tập trong dạy học nói chung và môn Hóa học
nói riêng và các tài liệu nghiên cứu liên quan đến PISA nhƣ:
- TS. Cao Cự Giác (209), Thiết kế và sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy và học
hóa học. Nxb Giáo dục Việt Nam.
- PGS.TS Nguyễn Xuân Trƣờng (2009), Sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở
trường phổ thông. Nxb ĐH Sƣ Phạm Hà nội.
- Luận văn thạc sĩ: “Tiếp cận đánh giá PISA bằng phương pháp giải quyết vấn đề
qua dạy học các bài toán thực tiễn phần khối đa diện và khối tròn xoay (hình học
không gian lớp 12 – Ban cơ bản” của Tăng Hồng Dƣơng – lớp Cao học lý luận và
phƣơng pháp dạy học môn Toán K5 – Trƣờng đại học Giáo dục, đại học Quốc gia
Hà Nội.
- Luận văn thạc sĩ: “Dạy học phát triển năng lực cho HS trung học phổ thông với
2
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đổi mới phƣơng pháp dạy học
- Nghiên cứu lý luận về bài tập hóa học trong dạy học hóa học
3.2.2. Tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA)
3.2.3. Tiến hành điều tra - quan sát, khảo sát, lấy ý kiến … của GV, HS về hệ thống
các bài tập hóa học đã và đang sử dụng
Tại trƣờng:
THCS Hoa Động – huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
Trƣờng THCS An Lƣ – huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
3
,
3.2.5. Thiết kế hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hướng tiếp cận PISA.
3.2.6. Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hướng tiếp
cận PISA trong dạy học hóa học ở trường THCS.
3.2.7. Tiến hành thực nghiệm sư phạm
Để bƣớc đầu kiểm nghiệm tính khoa học của hệ thống bài tập và tính khả thi, hiệu
quả của những cách sử dụng đề xuất trong luận văn.
- Nghiên cứu và đánh giá việc sử dụng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo
hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học ở trƣờng THCS.
- Hoàn thiện hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hƣớng tiếp cận PISA trong
dạy học hóa học ở trƣờng THCS.
3.2.8. Đề xuất một số hướng sử dụng hệ thống bài tập tiếp cận PISA trong dạy học
phần hóa học vô cơ lớp 9
Nhằm làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng
thú, say mê học tập môn Hóa học.., từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở
quả dạy học môn Hóa học ở trƣờng THCS.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
8.1.1. Nghiên cứu về cơ sở lí luận về đổi mới PPDH Hóa học.
8.1.2. Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc sử dụng bài tập
trong dạy học Hóa học ở trường THCS
8.1.3. Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc thiết kế bài tập mới
trong dạy học Hóa học ở trường THCS
8.1.4. Nghiên cứu các tài liệu về chương trình đánh giá HS quốc tế PISA
8.1.5. Nghiên cứu nội dung, cấu trúc, chương trình hóa học lớp 9
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
8.2.1. Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát các hoạt động dạy và học có sử
dụng bài bập hóa học tại trường THCS nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu
8.2.2. Phương pháp đàm thoại: trao đổi với GV và HS để tìm hiểu ý kiến, quan
niệm, thái độ ... của họ về việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy và học ở trường
THCS, cũng như những thuận lợi và khó khăn mà GV và HS đã gặp phải.
8.2.3. Phương pháp điều tra: điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập của GV và
HS trong quá trình dạy và học môn Hoá học lớp 9
8.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia,
các giảng viên và GV có nhiều kinh nghiệm về việc sử dụng bài tập trong giảng dạy
hóa học trước kia và hiện nay.
8.2.5. Phương pháp thực nghiệm: Dựa vào giả thuyết khoa học đã đặt ra, tiến hành
thực nghiệm ở một số trường THCS để xem xét hiệu quả và tính khả thi của hệ
thống bài tập theo cách tiếp cận của PISA trong dạy học hóa học lớp 9 đã được xây
dựng.
8.3. Phương pháp xử lý thống kê toán học: Dùng để phân tích và xử lí các số liệu
thu được qua điều tra và thực nghiệm.
5
khuyến nghị của UNESCO về phát triển giáo dục vào các năm 1971; 1980; 1990
đều nhất trí rằng phải thƣờng xuyên “phát triển các phƣơng pháp giáo dục mới,
thích hợp hơn có thể đánh giá đúng mức khả năng học tập tích cực của HS và cũng
để thay thế các hệ thống đánh giá cũ, đặt căn bản trên trí nhớ về các kiến thức, kỹ
năng… ”. Từ đó cho thấy, đổi mới PPDH là một nhu cầu cấp bách của thời đại ngày
nay. Cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ, nhân loại đang bƣớc vào thế
kỉ của văn minh tri thức với những thành tựu rực rỡ của khoa học kĩ thuật trong đó
có khoa học Hóa học. Nền văn minh đó đòi hỏi con ngƣời cần phải có tri thức, sự
nhạy bén và năng lực sáng tạo để nắm bắt và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh.
Trƣớc yêu cầu của xã hội, giáo dục đƣợc xem là chiếc đòn bẩy, là “công cụ
chủ yếu tạo ra sự phát triển”, thúc đẩy khoa học kĩ thuật và sản xuất tiến lên, góp
phần cải thiện đời sống. Giáo dục chính là chiếc chìa khóa mở vào cánh cửa tƣơng
lai”, một xã hội đƣợc xây dựng trên nền tảng tri thức, giáo dục đƣợc coi là quốc
sách hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới. Khẩu hiệu “hãy cứu lấy nền kinh tế
bằng giáo dục” đã đƣợc nhiều quốc gia nêu cao, bối cảnh đó đòi hỏi ngành giáo dục
phải đổi mới cả về nội dung và phƣơng pháp giảng dạy.
Trên thế giới hiện nay, việc đổi mới PPDH đang đƣợc tiến hành theo một số
phƣơng hƣớng nhƣ tích cực hoá quá trình dạy học; cá thể hoá việc dạy học; dạy học
lấy HS làm trung tâm; dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực ngƣời học; …
Việc tích hợp kiến thức chuyên ngành vào phƣơng pháp tƣ duy có thể đƣợc
thấy rõ trong năm mục tiêu học tập then chốt đƣợc nêu ra bởi UNESCO, giúp làm
rõ các mục tiêu dạy học của phát triển bền vững (ESD). Năm mục tiêu đó là: (1)
7
,
học để biết, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của những kiến thức hàm chứa nội
dung ý nghĩa và chính xác; (2) học để làm, tập trung vào tầm quan trọng của việc
,
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thì vấn đề đổi mới PPDH đã trở
thành một yêu cầu cấp thiết.
Định hƣớng chung về đổi mới PPDH đã đƣợc thể chế hóa trong Luật giáo dục
2005, điều 28.2: “Phƣơng pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học;
bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
học tập cho HS.”
Có thể nói, cốt lõi của đổi mới PPDH ở trƣờng THCS là hướng tới giúp HS học tập
tích cực, chủ động, sáng tạo, từ bỏ thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy móc.
Cụ thể là:
1.2.1. Đổi mới mục tiêu
Từ yêu cầu của xã hội hiện đại, mục tiêu giáo dục cũng cần đƣợc thay đổi để
đào tạo những con ngƣời thích ứng với xã hội phát triển, với bản thân ngƣời học.
Trong mục tiêu giáo dục của các cấp bậc học đã có điểm mới là tập trung hơn nữa
vào việc hình thành năng lực cho HS đó là: năng lực nhận thức, năng lực hành động
(năng lực giải quyết vấn đề), năng lực thích ứng với điều kiện xã hội.
1.2.2. Đổi mới hoạt động của GV
Với yêu cầu đổi mới PPDH theo hƣớng tích cực hoá hoạt động học tập của HS
thì hoạt động giảng dạy của GV cũng có sự đổi mới. Không chỉ cải tiến các PPDH
truyền thống, GV cần có sự kết hợp đa dạng các phƣơng pháp dạy học và kĩ thuật dạy
học để phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS, nhƣ: vận dụng dạy học giải quyết vấn
đề, dạy học theo tình huống, dạy học định hướng hành động, phương pháp dạy học đặc
thù bộ môn, kĩ thuật bể cá, kĩ thuật XYZ, kĩ thuật khăn trải bàn.... Đồng thời, GV cũng
cần tăng cƣờng sử dụng phƣơng tiện dạy học và công nghệ thông tin trong dạy học
1.2.3. Đổi mới hoạt động học tập của HS
trọng đến việc đánh giá theo cả quá trình học tập của HS.
Đánh giá thành tích học tập đang dần hƣớng đến quan điểm đánh giá sự phát
triển năng lực, không chỉ giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà cần chú trọng
vào năng lực vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp, năng
lực phát hiện và giải quyết vấn đề của thực tiễn...Đánh giá năng lực đƣợc thể hiện
rõ qua các kỳ thi PISA.
1.3. Cơ sở lý luận của việc sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trƣờng
THCS
1.3.1.Ý nghĩa của việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học Hóa học ở trường
THCS
10
,
Việc sử dụng bài tập trong dạy học là một trong những biện pháp kiểm tra đánh giá quan trọng, thiết thực, rất có giá trị, đã và đang đƣợc sử dụng không chỉ
đối với môn Hóa học mà còn đối với cả các môn học khác ở trƣờng phổ thông.
Bài tập hóa học có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào
tạo chung và mục tiêu riêng của môn Hóa học. Bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa
là nội dung, lại vừa là phƣơng pháp dạy học hiệu nghiệm.
Bài tập hóa học có những ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt.
1.3.1.1. Ý nghĩa trí dục
+ Làm chính xác hóa các khái niệm hóa học. Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến
thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng đƣợc kiến thức vào
việc giải bài tập HS mới nắm đƣợc kiến thức một cách sâu sắc.
+ Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng đƣợc các kiến thức đã học, hiến những kiến
thực tiếp thu đƣợc qua các bài giảng của thầy thành kiến thức của chính mình. Khi
vận dụng đƣợc kiến thức nào đó, kiến thức đó sẽ đƣợc nhớ lâu.
1.3.2. Phân loại các dạng bài tập dùng trong dạy học môn Hóa học ở trường
THCS:
Bài tập hóa học dùng trong dạy học môn Hóa học ở trƣờng THCS có thể
phân chia thành nhiều loại phụ thuộc vào nội dung, hình thức, kiến thức, mục đích,
yêu cầu kiểm tra - đánh giá ....
1.3.2.1. Bài tập trắc nghiệm khách quan (câu hỏi trắc nghiệm)
TNKQ là phƣơng pháp KT-ĐG kết quả học tập của HS bằng hệ thống câu
hỏi TNKQ gọi là "khách quan" vì hệ thống cho điểm hoàn toàn khách quan không
phụ thuộc vào ngƣời chấm. Khi làm bài HS chỉ lựa chọn đáp án đúng trong số các
phƣơng án đã cho. Thời gian dành cho mỗi câu chỉ từ 1- 2 phút.
* Các dạng câu hỏi TNKQ:
Câu hỏi TNKQ có 4 dạng chính đƣợc trình bày trong sơ đồ sau:
Câu TNKQ
Câu điền khuyết
Câu ghép đôi
Câu đúng sai Câu nhiều lựa chọn
Dạng 1 : Câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn.
Phần câu dẫn : Là những câu hay phƣơng trình hoá học còn bỏ trống.
Phần trả lời : Là những từ, những cụm từ, công thức hoá học… phải lựa chọn điền
vào chỗ trống cho thích hợp
* Ƣu điểm: HS không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra, tự tìm ra câu trả
lời. Loại này dễ soạn hơn câu hỏi nhiều lựa chọn.
* Nhƣợc điểm: Khi soạn loại câu này thƣờng dễ mắc sai lầm là ngƣời soạn thƣờng
trích nguyên văn các câu từ SGK. Ngoài ra loại câu hỏi này thƣờng chỉ giới hạn
Dạng 4 : Câu trắc nghiệm có nhiều câu để lựa chọn
Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn (hay câu hỏi nhiều lựa chọn) là
loại câu đƣợc dùng nhiều nhất và có hiệu quả nhất. Một câu hỏi nhiều câu trả lời
(câu dẫn) đòi hỏi HS tìm ra câu trả lời đúng nhất trong nhiều khả năng trả lời có sẵn,
các khả năng, các phƣơng án trả lời khác nhau nhƣng đều có vẻ hợp lý (hay còn gọi
là các câu nhiễu). Gồm hai phần
Phần câu dẫn : Là một câu hỏi hoặc một câu chƣa hoàn thành. Câu dẫn phải đặt
đƣợc câu hỏi, đƣa ra yêu cầu với HS hoặc đặt ra vấn đề cho HS giải quyết.
Phần các khả năng, lựa chọn : Gồm 4 đến 5 phƣơng án trả lời , phải chọn phƣơng
án đúng (hay đúng nhất, đầy đủ nhất). Khi soạn nên sắp xếp các lựa chọn theo một
cách có nghĩa (theo kích thƣớc, thời gian, số thứ tự ,chữ cái...vv..) * Ƣu điểm:
13
,
-GV có thể dùng loại câu hỏi này để KT-ĐG những mục tiêu dạy học khác nhau.
Chẳng hạn nhƣ: Xác định mối tƣơng quan nhân quả, nhận biết các điều sai lầm,
ghép các kết quả hay các điều quan sát đƣợc với nhau...
-Dạng nhiều lựa chọn có độ tin cậy cao hơn, khả năng đoán mò hay may rủi ít hơn
so với các loại câu hỏi TNKQ khác khi số phƣơng án lựa chọn tăng lên, HS buộc
phải xét đoán, phân biệt kỹ trƣớc khi trả lời câu hỏi.
- Tính giá trị tốt hơn với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để chọn có thể đo
đƣợc các khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật… rất có hiệu quả.
- Thật sự khách quan khi chấm bài. Điểm số bài TNKQ không phụ thuộc vào chữ
viết, khả năng diễn đạt của HS hoặc chủ quan của ngƣời chấm.
* Nhƣợc điểm:
- Loại câu này khó soạn và phải tìm cho đƣợc câu trả lời đúng nhất, còn những câu
dung tƣơng đối hẹp. Mỗi câu trả lời là một đoạn ngắn
- Có 3 loại câu trả lời có giới hạn.
+ Loại câu điền thêm và trả lời đơn giản. Đó là một nhận định viết dƣới dạng mệnh
đề không đầy đủ hay một câu hỏi đƣợc đặt ra mà HS phải trả lời bằng một câu hay
một từ (trong TNKQ đƣợc gọi là câu điền khuyết).
+ Loại câu từ trả lời đoạn ngắn trong đó HS có thể trả lời bằng hai hoặc 3 câu trong
giới hạn của GV.
+ Giải bài toán có liên quan tới trị số có tính toán số học để ra một kết quả cụ thể
đúng theo yêu cầu của đề bài.
1.4. Cơ sở lý luận về việc xây dựng bài tập hóa học mới trong dạy học Hóa học
ở trƣờng THCS
1.4.1. Ý nghĩa của việc xây dựng các bài tập hóa học mới
Trong quá trình dạy học, bài tập hóa học đã và đang phát huy những vai trò
quan trọng của mình. Tuy nhiên, các bài tập hóa học sử dụng trong nhà trƣờng phổ
thông hiện nay còn nặng về kiến thức toán học, nghèo nàn về kiến thức hóa học. Hầu
hết các bài tập hóa học hiện nay mới chỉ chủ yếu đánh giá HS về kiến thức lý thuyết
hoá học, chƣa đánh giá nhiều về kĩ năng cơ bản môn hoá học nhƣ: kĩ năng học tập tích
cực bộ môn Hóa học, kĩ năng thực hành hóa học, kĩ năng vận dụng kiến thức hóa học
vào thực tế ....., Đồng thời, bài tập hóa học hiện nay chƣa chú trọng đến việc
phát huy khả năng tƣ duy sáng tạo, lập kế hoạch, giải quyết vấn đề trong học tập
hoá học và thực tiễn đời sống, chƣa chú trọng đến việc phát triển năng lực tƣ duy
hóa học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của HS.
Chính vì vậy, việc xây dựng nên những bài tập hóa học mới phù hợp với
định hƣớng đổi mới của môn Hóa học nói riêng và định hƣớng đổi mới giáo dục
ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tƣ duy hóa học và
hành động cho HS.
- Bài tập hóa học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng
của hóa học trong thực tiễn. Thông qua các dạng bài tập này làm cho HS thấy đƣợc
việc học hóa học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức hóa học rất gần gũi thiết thực
với cuộc sống. Đồng thời, các bài tập hóa học cần khai thác các nội dung về vai trò
của hóa học với các vấn đề kinh tế, xã hội môi trƣờng và các hiện tƣợng tự nhiên,
kích thích đƣợc sự đam mê, hứng thú học tập của HS đối với môn Hóa học. - Bài
tập hóa học định lƣợng đƣợc xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi các
thuật toán, mà cần chú trọng đến nội dung hóa học và các phép tính đƣợc sử
dụng
nhiều
trong
tính
toán
hóa
học.
- Đa dạng hóa các hình thức câu hỏi, bài tập, nhƣ: sử dụng bảng biểu, sơ đồ, văn
bản, hình ảnh, câu hỏi trắc nghệm khách quan, câu hỏi tự luận ngắn, câu hỏi mở .....
Nhƣ vậy, xu hƣớng phát triển của bài tập hóa học hiện nay hƣớng đến rèn
luyện khả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tƣ duy hóa học cho HS ở
bình diện quốc tế cũng nhƣ xu hƣớng của dữ liệu quốc gia về năng lực đọc hiểu,
năng lực Toán học và khoa học của HS độ tuổi 15, từ đó giúp chính phủ các nƣớc
tham gia PISA rút ra những bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông.
- PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:
+ Chính sách công: “Nhà trƣờng của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những ngƣời
trẻ tuổi trƣớc những thách thức của cuộc sống trƣởng thành chƣa ?”, “Phải chăng
một số loại hình học tập và giảng dạy của những nơi này hiệu quả hơn những nơi
khác ?”…
+ Hiểu biết phổ thông: Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chƣơng trình giáo
dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến thức và kĩ năng trong
các lĩnh vực chuyên môn và khả năng phân tích, lý giải, truyền đạt một cách có hiệu
quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề.
+ Học suốt đời: HS không thể học tất cả mọi thứ cần biết trong nhà trƣờng. Để trở
thành những ngƣời học suốt đời có hiệu quả, HS không những phải có kiến thức và
kỹ năng mà còn có cả ý thức về lý do và cách học. PISA không những khảo sát kỹ
năng của HS về học hiểu, toán và khoa học mà còn đòi hỏi HS cả về động cơ, niềm
tin về bản thân cũng nhƣ các chiến lƣợc học tập.
- Bài tập của PISA: Các câu hỏi của PISA đều là các câu hỏi dựa trên các tình huống
của đời sống thực và không chỉ giới hạn bởi cuộc sống thƣờng ngày của các em trong
nhà trƣờng, và nhiều tình huống đƣợc lựa chọn không phải chỉ để HS thực hiện các
thao tác về tƣ duy, mà còn để HS ý thức về các vấn đề xã hội (nhƣ là sự nóng lên của
trái đất, phân biệt giàu nghèo, v.v). Dạng thức của câu hỏi phong phú, không chỉ bao
gồm các câu hỏi lựa chọn đáp án mà còn yêu cầu HS tự xây dựng nên đáp án của mình.
Chất liệu đƣợc sử dụng để xây dựng các câu hỏi này cũng đa
hiểu về việc biết đọc. Biết đọc không chỉ còn là yêu cầu của suốt thời kì tuổi thơ
trong nhà trƣờng phổ thông, thay vào đó nó còn trở thành một nhân tố quan trọng
trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức cá nhân, kĩ năng và chiến lƣợc của
mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các tình huống khác nhau cũng
nhƣ trong mối quan hệ với ngƣời xung quanh.
* Các câu hỏi được đánh giá ở 3 nhóm/cấp độ:
+ Thu thập thông tin.
18