BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC văn PHÒNG THỐNG kê cấp xã TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG TRỊ - Pdf 69

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN SUNG

BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC
VĂN PHÒNG - THỐNG KÊ CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN SUNG

BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC
VĂN PHÒNG - THỐNG KÊ CẤP XÃ

Để hoàn thành luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn đến:

Quý Thầy Cô phụ trách giảng dạy đã tận tình truyền đạt kiến thức trong

suốt khóa học, đối với em những kiến thức được lĩnh hội trong khóa học này
không chỉ quan trọng đối với công việc mà còn bổ sung vào nhận thức thực
tiễn cuộc sống.

Quý Thầy Cô phụ trách quản lý lớp đã hỗ trợ cho em rất nhiều về tất cả

các thông tin liên quan đến khóa học, chương trình học để em có thể hoàn
thành chương trình học đúng hạn.

Tất cả các anh chị em học viên cùng lớp, đồng nghiệp tại cơ quan, gia

đình và bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên em trong thời gian qua.

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Hữu

Hải đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình em thực hiện luận văn.

Do vốn kiến thức còn hạn chế nên luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu

sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý Thầy Cô.

Kính chúc Quý Thầy, Cô cùng tất cả mọi người dồi dào sức khỏe, thành

công trong cuộc sống.

Trân trọng

2.2. Thực trạng công tác bồi dưỡng công chức văn phòng- thống kê ở tỉnh
Quảng Trị trong những năm qua................................................................... 61

Tiểu kết chương 2 ........................................................................................ 72

Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG - THỐNG KÊ CẤP
XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ ................................................ 73

3.1. Phương hướng chung về đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung và công
chức văn phòng- thống kê cấp xã nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị ....... 73


3.2. Giải pháp bồi dưỡng công chức văn phòng- thống kê cấp xã trên địa bàn
tỉnh quảng trị ................................................................................................ 77
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 91

KẾT LUẬN ................................................................................................. 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Danh sách các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị ... 51

Bảng 2.2. Dân số và diện tích của các đơn vị hành chính ở Quảng Trị ............... 54
Bảng 2.3.Số liệu công chức văn phòng- thống kê cấp xã của tỉnh Quang Trị. 63

Bảng 2.4. Các loại hình lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý nhà nước cho công
chức ............................................................................................................. 65


độ, năng lực của đội ngũ đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở nói chung và
công chức văn phòng- thống kê nói riêng vẫn chưa ngang tầm với nhiệm vụ

mới, còn nhiều hạn chế và yếu kém. Hoạt động của công chức văn phòngthống kê của chính quyền cấp cơ sở chưa thực hiện tốt vai trò điều phối, giúp
lãnh đạo kiểm tra, đôn đốc thực hiện các chương trình công tác của địa

phương. Yếu kém lớn nhất tập trung là hoạt động của công chức văn phòng-

thống kê chưa mạng tính hành chính chuyên nghiệp theo hướng hiện đại nên
chưa đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành
chính nói riêng đang đặt ra hiện nay. Nhiều địa phương chưa thực sự quan

tâm đến chất lượng hoạt động của công tác văn phòng- thống kê. Chất lượng

của đội ngũ công chức văn phòng- thống kê chưa cao, phần lớn chưa được
1


đào tạo bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ. Mặt khác, đội ngũ công chức này
chưa được bồi dưỡng thường xuyên nhằm nâng cao năng lực hoạt động thực
hiện nhiệm vụ công vụ... Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa IX, về

“Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã,
phường, thị trấn” đã đề ra nhiệm vụ phải:

Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức với chương trình, nội

dung sát hợp; chú trọng đội ngũ cán bộ xã, phường. Xây dựng đội ngũ cán bộ




một số năng lực cần thiết đối với cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta.

- Tăng cường các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã

cho người dân tộc địa bàn Tây Nguyên (nghiên cứu trường hợp tỉnh Lâm
Đồng)- Đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Vĩnh Các- năm 2004.

- Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyên Đức Phổ, tỉnh

Quảng Ngãi- Đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Võ Minh Châu- năm 2017.

- Bộ Nội vụ - Viện Nghiên cứu & Phát triển tổ chức, Hội thảo khoa học

với chủ đề “Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong điều kiện

hội nhập quốc tế”, Đà Nẵng ngày 12/6/2017. Những tham luận đã nhấn mạnh
ý nghĩa, tầm quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng là một trong những nhiệm vụ

quan trọng quyết định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và đội
ngũ cán bộ, công chức nói riêng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công

chức thời gian qua đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và xác
định là yếu tố cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch,

vững mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính Nhà nước và hội nhập quốc tế. Hội thảo

tập trung cũng làm rõ các vấn đề như: Hội nhập quốc tế và yêu cầu đối với


Tuy nhiên, cho đến nay có thể nói chưa có công trình nào nghiên cứu một

cách tập trung, toàn diện và hệ thống về công tác bồi dưỡng đội ngũ công chức
văn phòng- thống kê cấp xã trên địa bàn của tỉnh Quảng Trị. Những đề tài

nghiên cứu khoa học có nội dung gần thì chỉ tập trung nghiên cứu về đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ, công chức cấp xã nói chung hoặc đào tạo, bồi dưỡng công chức
cấp xã. Có thể nói nội dung nghiên cứu về việc bồi dưỡng công chức văn phòngthống kê cấp xã là một nội dung khá mới mẻ và khó khăn. Nhưng nếu thực hiện
tốt nội dung của đề tài này, luận văn sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực
tiễn của công tác bồi dưỡng công chức chuyên môn văn phòng- thống kê cấp
xã. Từ cơ sở thực tiễn và khoa học đó để nâng cao chất lượng, hiệu quả công

tác bồi dưỡng đội ngũ công chức chuyên môn văn phòng- thống kê cấp xã
trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong những năm tới theo định hướng của Đảng
và những quy định của Nhà nước.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công chức văn

phòng- thống kê cấp xã và thực trạng năng lực của đội ngũ này ở tỉnh Quảng Trị,
4


luận văn đề xuất các giải pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng để nâng cao chất
lượng, hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ công chức văn phòng- thống kê cấp
xã ở tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay và những năm về sau.


- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: các yếu tố hợp thành và quá trình hoạt

động liên quan đến bồi dưỡng công chức văn phòng- thống kê cấp xã.
5


- Giới hạn về không gian: là công tác bồi dưỡng công chức văn phòng-

thống kê thuộc 141 xã, phường, thị trấn của tỉnh Quảng Trị.

- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: nghiên cứu công tác bồi dưỡng công

chức văn phòng- thống kê cấp xã tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2010- 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận

- Phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử.

- Quan điểm, thái độ chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng cán bộ, công chức.

5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp phân tích, tổng hợp thống kê,
- Phương pháp so sánh

- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp chuyên gia.....


- Chương 2. Thực trạng công tác bồi dưỡng đội ngũ công chức văn

phòng- thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.

- Chương 3. Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng

công chức văn phòng- thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.

7


Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC
VĂN PHÒNG - THỐNG KÊ CẤP XÃ

1.1 Khái quát chung về chính quyền cấp xã và công chức văn phòngthống kê

1.1.1. Khái niệm và vai trò của chính quyền cấp xã
1.1.1.1 Khái niệm về chính quyền cấp xã

Xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cấp xã) là cấp cuối cùng trong hệ thống

hành chính bốn cấp của Nhà nước ta. Đây là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện
đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng

thời cũng là nơi kiểm tra, đánh giá đường lối, chủ trương của Đảng; chính
sách, pháp luật của Nhà nước; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Trong thực tế cuộc sống, khi cần có sự can thiệp của chính quyền, thì nơi


tế- xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư” [20,Văn kiện Hội nghị
lần thứ 5 khóa IX].

Chính quyền cấp xã là cầu nối trực tiếp đưa Nghị quyết của Đảng, pháp

luật của Nhà nước vào cuộc sống đồng thời là nơi cung cấp cơ sở thực tiễn sát

hợp nhất để đưa cuộc sống vào nghị quyết và vào pháp luật. Như vậy, chính
quyền cấp xã là nơi kiểm định tính đúng đắn của mọi chủ trương, chính sách,

pháp luật. Chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật dù có đúng, có hay
đến đâu nhưng nếu không được thực hiện tốt ở cấp xã thì cũng chỉ nằm trên
giấy, cũng chỉ là “mớ lý luận xám xịt” mà thôi. Có thể nói rằng, chính quyền
xã là nơi mà người đân thường đến nhiều nhất- so với 3 cấp hành chính còn

lại. Người dân đến để đề xuất những nguyện vọng, ý kiến của mình; chính

quyền cấp xã phải là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm
chủ của nhân dân. Công chức cấp xã hàng ngày sinh hoạt với dân trong mối

quan hệ không chỉ là chính quyền với dân mà còn là quan hệ gia tộc và xóm

làng lâu đời. Khi giải quyết những yêu cầu của dân, đòi hỏi công chức cấp xã
một mặt phải theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà
nước; mặt khác phải sát hợp với tình hình thực tế của địa phương, phải thấu

tình, đạt lý trong quan hệ xóm làng. Mọi cử chỉ, hành vi, lời ăn tiếng nói,

phong cách, lề lối, năng lực thực thi nhiệm vụ... của đội ngũ công chức thể



lực nhà nước trên lãnh thổ theo quy định của pháp luật.

- Là cấp hành chính gần dân nhất trong hệ thống hành chính nhà nước 4

cấp ở nước ta, có chức năng chủ yếu là triển khai thực hiện chủ trương, biện
pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trên địa bàn. Chính quyền

xã không chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo luật định, mà còn
phải chăm lo phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh

thần của nhân dân trên địa bàn; cùng với chính quyền các cấp tổ chức thực

hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án của các chương trình này
nhằm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trên địa bàn. Trực tiếp
10


triển khai, tổ chức thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước ở xã.

- Điều tiết sự tự quản của các thôn/làng trên địa bàn xã về phát triển

nông thôn. Vì thế, hiện nay yêu cầu đặt ra đối với chính quyền xã là: Chính
quyền xã phải đủ mạnh, thể hiện đầy đủ quyền lực của mình trong thực hiện
chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó. Đồng thời, phải mềm dẻo, linh

hoạt trong tiếp xúc, làm việc với người dân (những người luôn luôn bị các

mối quan hệ cộng đồng truyền thống chi phối, nhằm đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi

định [28, Điều 110].

11


Như vậy, xã, phường, thị trấn (gọi tắt là xã) là cấp hành chính thứ tư

(cấp cơ sở) trong tổ chức hành chính 4 cấp ở nước ta.
1.1.2. Đặc điểm của chính quyền cấp xã

Trên cơ sở pháp lý và thực tiễn nêu trên, có thể rút ra những đặc điểm

của chính quyền cấp xã như sau:

Một là, chính quyền cấp xã là cấp cơ sở, là cấp chính quyền xa Trung

ương nhất nhưng lại là cấp gần dân nhất, cấp trực tiếp tiếp xúc với nhân dân,

ở ngay trong nhân dân. Đây là cấp chính quyền có số lượng lớn nhất và có
đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đa dạng nhất trong các loại hình đơn vị
hành chính với 9.085 xã, chiếm trên 80% tổng số đơn vị hành chính cấp cơ sở

hiện nay (11.112 xã, phường, thị trấn). Chính quyền cấp xã là cầu nối giữa

nhà nước với các tổ chức và cá nhân trong xã, đại diện cho nhà nước, để thực
thi quyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ trương, chính

sách của Đảng và pháp luật của nhà nước ở xã. Chính quyền xã giữ vai trò
quan trọng trong việc thực hiện công tác quản lý các vấn đề phát triển xã hội
ở nông thôn. Những vấn đề thuộc phạm vi, thẩm quyền, chức năng của chính

hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, văn hóa- xã hội trên địa bàn theo quy
định pháp luật.

Ba là, tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã theo quy định của pháp luật,

chỉ có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân không có các cơ quan tổ chức
chuyên môn như phòng, ban. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã

là cơ quan trực tiếp thực hiện công việc quản lý địa phương. Là nơi giải quyết
hàng ngày các vấn đề liên quan đến đời sống, sinh hoạt của nhân dân như: dân

quyền, dân sinh, dân trí. Một mặt chính quyền cấp xã phải đảm bảo thực hiện

đúng chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ở địa phương, mặt khác

chính quyền phải đi sát với nhân dân, nắm được tình hình thực tế xã hội ở địa
phương và giải quyết thấu tình, đạt lý trong các mối quan hệ giữa chính quyền

với người dân; quan hệ hàng xóm láng giềng. Chính quyền cấp xã là cầu nối
trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, là người thực hiện

hoạt động quản lý nhà nước về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh trật
tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền quy định, đảm bảo cho các
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống.

Bốn là, trong phạm vi xã thường có các đơn vị dân cư nhỏ hơn là

thôn/làng (xóm, bản, buôn, ấp,...). Hầu hết đơn vị thôn/làng (xóm, bản, buôn,

ấp,...) là những cộng đồng dân cư tồn tại đã lâu đời, có sự gắn bó chặt chẽ với

nhà nước hay hẹp hơn nữa là trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước.
Chẳng hạn như: các nước Anh, Singapore quan niệm công chức chỉ là những

người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của các
bộ thuộc Chính phủ. Trong khi đó, các nước Nga, Trung Quốc, Ba Lan thì
quan niệm công chức bao gồm những người thực hiện các hoạt động chuyên
môn nghiệp vụ quản lý hành chính của các bộ và của bộ máy hành chính

thuộc các chính quyền địa phương. Nước Pháp lại quan niệm “công chức bao
gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã,

tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sở hay công
sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền
hành chính công”.

14


Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, phát triển và hoàn

thiện gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước. Khái niệm công
chức lần đầu tiên được đề cập đến trong văn bản của Nhà nước là Sắc lệnh

76/SL về Quy chế Công chức Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Trước

đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 188/SL Quy định về các

hạng công chức, đó cũng được coi như văn bản pháp lý khởi đầu cho việc xây
dựng đội ngũ công chức sau này của Nhà nước ta.


15


tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao” [ 4, Điều 1]

Hiện nay, theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-

CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ “Về chức danh, số lượng, một số chế độ,
chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người
hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” công chức cấp xã có các chức danh
sau đây:

“Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính

- xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính -

nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư
pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội”.[6, Khoản 2, Điều 3]

Tiêu chuẩn chung của công chức cấp xã: Theo quy định tại Nghị định

112/2011/NĐ-CP, ngày 05/12/2011 của Chính phủ, Công chức cấp xã có các
tiêu chuẩn chung như sau:

Đối với với các công chức Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng

- đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông
nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp hộ tịch, Văn hóa - xã hội:

toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân
dân, tài sản của Nhà nước.

Tiêu chuẩn cụ thể của công chức xã: Theo quy định tại Thông tư

Số: 06/2012/TT-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ngày 30/10/2012 quy định
tiêu chuẩn cụ thể của công chức xã như sau:

Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên; Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung

học phổ thông; Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp
trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công

chức được đảm nhiệm; Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng
trình độ A trở lên; Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác phải sử dụng
tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng

dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà
chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp

học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công; Sau

khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành
chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình
đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm.[4, Điều 2]
17


Từ những quy định trên của pháp luật, chúng ta thấy rõ vị trí, vai trò của



trong việc chăm lo phát triển kinh tế- xã hội ở cơ sở và thực hiện quản lý nhà
nước trên tất cả các mặt, lĩnh vực được giao một cách có hiệu quả.

Trên những cơ sở đó, chúng ta có thể thấy công chức cấp xã có những

điểm mang tính đặc thù như sau:

Thứ nhất, công chức cấp xã là người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với

người dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status