Lý thuyết về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp - Pdf 69

Lý thuyết về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
1.1. Giá trị doanh nghiệp
1.1.1 Doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp
Xét theo lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, doanh nghiệp là chủ thể kinh tế
độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm
tăng giá trị của chủ sở hữu.
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp là chủ thể quan trọng thực hiện các hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận. Con người sở hữu
doanh nghiệp, chính là sở hữu cách thức và phương tiện tạo ra lợi nhuận.
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp được coi là một loại tài sản. Cũng
giống như các loại tài sản khác, doanh nghiệp cũng được đem ra mua bán, hợp
nhất, chia nhỏ… Do đó, doanh nghiệp cũng không nằm ngoài sự chi phối của
các quy luật thị trường, trong đó có quy luật giá trị. Giá cả của doanh nghiệp
cũng phải tuân theo quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Tuy nhiên khác với
tài sản thông thường, doanh nghiệp không phải là một kho hàng, doanh nghiệp
còn là một tổ chức kinh tế, một thực thể đang hoạt động. Do vậy, không chỉ gồm
các tài sản hữu hình, doanh nghiệp thực sự sở hữu các tài sản vô hình khác như
giá trị thương hiệu, bí quyết kinh doanh, quyền khai thác, tiềm năng phát triển
của doanh nghiệp trong tương lai… Vì thế khái niệm giá trị doanh nghiệp phải
dựa trên tài sản là doanh nghiệp đang hoạt động, mà mỗi bộ phận tài sản cấu
thành nên doanh nghiệp đó không thể tách rời, các yếu tố cấu thành hữu hình và
vô hình là một thể thống nhất.
1.1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của giá trị doanh nghiệp
Giá trị doanh nghiệp được định nghĩa là sự biểu hiện bằng tiền tại một
thời điểm nhất định về các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể mang lại
cho các nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh.
Giá trị thực sự của doanh nghiệp phụ thuộc vào những quan niệm về giá
trị doanh nghiệp khác nhau của từng đối tượng khác nhau.
Một cách chung nhất, giá trị doanh nghiệp được đo bằng độ lớn của các
khoản thu nhập mà DN đem lại cho nhà đầu tư. Do đó giá trị doanh nghiệp khác

Môi trường xã hội thể hiện ở số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi,
mật độ , sự gia tăng dân số, thu nhập bình quân đầu người và hàng loạt các vấn
đề nảy sinh như ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt…
Trên phương diện xã hội, doanh nghiệp ra đời là để đáp ứng những đòi hỏi
ngày càng cao trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng nơi doanh
nghiệp đang hoạt động. Chính vì thế, đánh giá về doanh nghiệp không thể bỏ
qua những yếu tố, những đòi hỏi bức xúc của môi trường văn hoá xã hội trong
hiện tại mà còn phải thực hiện dự báo được sự ảnh hưởng của yếu tố này đến
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai.
- Môi trường khoa học công nghệ:
Sự tác động của kỹ thuật công nghệ đang làm thay đổi một cách căn bản
các điều kiện về quy trình công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất kinh
doanh trong các doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, sự biến đổi về khoa học
và công nghệ không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức đối với sự tồn tại của
mỗi doanh nghiệp. Sự thiếu nhạy bén trong việc chiếm lĩnh những thành tựu
khoa học mới nhất có thể là nguyên nhân đưa doanh nghiệp mau chóng đến chỗ
phá sản. Chính vì thế, khi đánh giá về doanh nghiệp, đòi hỏi phải chỉ ra mức độ
tác động của môi trường này đến sản xuất kinh doanh và khả năng thích ứng của
doanh nghiệp trước những bước phát triển mới của khoa học công nghệ.
 Các yếu tố thuộc môi trường ngành:
- Quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng:
Thị trường là yếu tố quyết định đầu ra đối với sản phẩm của doanh nghiệp,
hay chính là quyết định khả năng phát triển, mở rộng sản xuất của doanh
nghiệp. Thị trường của doanh nghiệp được duy trì và phát triển khi mà mức độ
bền vững và uy tín của doanh nghiệp với khách hàng được đảm bảo. Do vậy
muốn đánh giá khả năng phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cần phải xác định tính chất mức độ bền vững và uy tín của doanh nghiệp
trong quan hệ với khách hàng, được đánh giá qua các yếu tố như sự trung thành
và thái độ của khách hàng, số lượng và chất lượng khách hàng…Căn cứ có sức
thuyết phục cao nhất là thị phần hiện tại, thị phần tương lai, doanh số bán ra và

nào để nhận về một khoản thu nhập từ những tài sản đó.
 Vị trí kinh doanh
Vị trí kinh doanh được đặc trưng bởi các yếu tố: địa điểm, diện tích, các chi
nhánh, yếu tố địa hình, thời tiết… Với vị trí thuận lợi doanh nghiệp có thể giảm
được nhiều khoản mục chi phí, đồng thời tiếp cận và nắm bắt nhanh chóng nhu
cầu thị hiếu của thị trường, thực hiện tốt các dịch vụ hậu mãi… Trong thực tế,
do sự khác nhau về vị trí kinh doanh mà có sự chênh lệch rất lớn khi đánh giá
về giá trị doanh nghiệp.
 Uy tín kinh doanh- thương hiệu
Uy tín kinh doanh là sự đánh giá của khách hàng về sản phẩm của doanh
nghiệp, được hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau trong doanh nghiệp: chất
lượng sản phẩm, trình độ và năng lực quản trị kinh doanh, thái độ phục vụ tận
tình của nhân viên… Cùng sản xuất một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp do
có uy tín lớn có thể định giá cao cho sản phẩm của mình so với sản phẩm của
các doanh nghiệp khác không có được lợi thế này.
Có thể nói, khi đã xây dựng được uy tín-thương hiệu thì đó được coi như
một tài sản của doanh nghiệp vì nó góp phần tạo nên lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Tài sản uy tín-thương hiệu có một giá trị nhất định. Vì vậy, uy tín-
thương hiệu của doanh nghiệp được thừa nhận như một yếu tố quan trọng cấu
thành nên giá trị của doanh nghiệp.
 Chất lượng lao động
Trình độ và chất lượng của lao động là nhân tố quan trọng tác động trực
tiếp đến chất lượng sản phẩm. Đồng thời, nhờ chất lượng lao động cao, doanh
nghiệp còn có thể giảm được chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí đào tạo, bồi
dưỡng… góp phần nâng cao thu nhập.
Vì vậy, khi đánh giá khả năng tồn tại, phát triển và tạo ra lợi nhuận của
doanh nghiệp cần thiết phải xem xét đến yếu tố chất lượng lao động, coi đó như
là yếu tố nội tại quyết định đến giá trị doanh nghiệp.
 Năng lực quản trị kinh doanh
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài phải có một bộ máy

tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể liên kết với nhau, sát nhập hoặc chia
tách để tận dụng lợi thế của nhau về thị trường, nhân lực, vốn… để vững chắc
và lớn mạnh trên thị trường. Giá trị của doanh nghiệp được đánh giá trên một
phạm vi lớn có tính đến tất cả các yếu tố tác động tới doanh nghiệp. Vụ mua bán
sát nhập chia tách diễn ra dựa trên cơ sở giá trị doanh nghiệp đã thương thuyết
giữa các bên.
Đặc biệt trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, xác định giá trị
doanh nghiệp còn là một bước đi quan trọng để các quốc gia tiến hành chuyển
đổi loại hình sở hữu như cổ phần hoá, sát nhập, hợp nhất, giao bán, khoán và
cho thuê.
Xét sự cần thiết của định giá từ các đối tượng trong nền kinh tế có liên quan
đến nhu cầu định giá doanh nghiệp, đó là những nhà đầu tư, người cung cấp,
bản thân nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô.
- Đối với nhà đầu tư, người cung cấp:
Thông tin về giá trị doanh nghiệp cho sự đánh giá tổng quát về khả năng
tài chính, uy tín kinh doanh, rủi ro và vị thế tín dụng. Từ đó nhà đầu tư có quyết
định có tiếp tục đầu tư, nhà cung cấp có tiếp tục cung cấp các yếu tố đầu vào,
cấp tín dụng cho doanh nghiệp nữa hay không. Giá trị doanh nghiệp quyết định
giá cả cổ phiếu trên thị trường. Nếu nhà đầu tư định giá được đúng giá trị của
doanh nghiệp thì sẽ thu được lợi suất đầu tư mong muốn.
- Đối với nhà quản trị doanh nghiệp:
Thông tin về giá trị doanh nghiệp giúp các nhà quản trị phân tích đánh giá
trước khi đưa ra các quyết định về kinh doanh và tài chính có liên quan đến
doanh nghiệp. Từ giá trị doanh nghiệp của mình họ sẽ có cơ sở để so sánh giá trị
đó với doanh nghiệp khác, từ đó thấy được vị trí và khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường. Quyết định kinh doanh đúng đắn của các nhà quản
trị phải dựa trên nhận thức sâu sắc về vị trí và những điểm mạnh, điểm yếu của
doanh nghiệp mình.
- Đối với các nhà quản lý, hoạch định kinh tế vĩ mô:
Trên phương diện quản lí vĩ mô, thông tin về giá trị doanh nghiệp là một

phương pháp giá trị tài sản ròng (NAV) được sử dụng phổ biến và dựa trên cơ
sở là:
- Doanh nghiệp về cơ bản giống như một loại tài sản thông thường.
- Sự hoạt động của doanh nghiệp bao giờ cũng được tiến hành dựa trên cơ sở
một lượng tài sản có thực. Những tài sản đó là sự hiện diện rõ ràng và cụ thể
cho sự tồn tại của doanh nghiệp, cấu thành nên thực thể của doanh nghiệp.
- Tài sản của doanh nghiệp được hình thành bởi sự tài trợ vốn của các nhà
đầu tư khi thành lập và tiếp tục được bổ sung trong quá trình hoạt động. Cơ
cấu nguồn tài trợ để hình thành tài sản là sự khẳng định và thừa nhận về mặt
pháp lý các quyền sở hữu và lợi ích của các nhà đầu tư đối với tài sản đó.
Vì vậy giá trị doanh nghiệp được tính bằng tổng giá trị thị trường của số
tài sản mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng vào sản xuất kinh doanh.
 Phương pháp xác định:
 Phương pháp 1:
Giá trị doanh nghiệp = Giá trị tài sản ròng
Giá trị tài sản ròng (NAV) có thể được tính theo hai cách:
Cách 1: Căn cứ vào giá trị sổ sách
NAV = Tổng giá trị tài sản có - Tổng các khoản nợ phải trả
 Đánh giá
Ưu điểm:
- Việc định giá tài sản không đòi hỏi những kỹ thuật phức tạp, giá trị của các
yếu tố vô hình là không đáng kể.
- Có được giá bán doanh nghiệp tối thiểu, giá này có thể coi là mức giá sàn
trong đàm phán về giá trị doanh nghiệp.
Hạn chế:
- Nếu chỉ căn cứ vào số liệu trên bảng cân đối kế toán thì sẽ không thu được
kết quả chính xác tại thời điểm định giá. Bởi doanh nghiệp thực hiện tốt chế
độ kế toán thì những số liệu đó cũng chỉ là phản ánh trung thực chi phí phát
sinh tại thời điểm xảy ra các nghiệp vụ kinh tế trong quá khứ của kỳ kế toán
chứ không còn phù hợp ở thời điểm định giá doanh nghiệp, ngay cả khi không

- Các khoản phải thu: Do khả năng thu hồi của các khoản này là
không đồng nhất nên ta phải tìm cách loại bỏ những khoản nợ không có
khả năng thu hồi hay khả năng thu hồi là quá mong manh bằng việc: đối
chiếu công nợ, xác minh tính pháp lý, đánh giá độ tin cậy của từng khoản
phải thu.
- Đối với các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp: Nếu khoản
đầu tư không quá lớn, có thể dựa trên giá tri chứng khoán, hoặc dựa theo số
liệu của bên đối tác liên doanh. Nếu khoản đầu tư khá lớn, cần thực hiện
đánh giá một cách toàn diện về giá trị của khoản đầu tư đó trong việc tạo
nên giá trị doanh nghiệp.
- Đối với tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản: tính theo
phương pháp chiết khấu dòng thu nhập trong tương lai.
 Phương pháp 2:
GTDN =V2 =(Giá trị tài sản ròng + Giá trị khả năng sinh lời) /2
Giá trị khả năng sinh lời = LN ròng hàng năm dự tính thu được
Hệ số sinh lời
Lợi nhuận ròng bình quân hàng năm dự tính thu được =
n
LNi

o LNi: Lợi nhuận ròng dự tính thu được năm i
o n: số năm dự tính
o Hệ số sinh lời là tỷ lệ quy đổi giá trị các khoản lợi nhuận trong tương
lai về hiện tại hay chính là lãi suất chiết khấu.
Phương pháp này là phương pháp kết hợp giữa hai phương pháp định giá
dựa trên giá trị tài sản ròng và dựa trên thu nhập. Giá trị thu được là giá trị bình
quân của hai giá trị tương ứng theo hai phương pháp.
 Phương pháp 3:
Giá trị doanh nghiệp = ( V2 + Giá trị tương đối )/2
o V2: giá trị doanh nghiệp tính theo phương pháp 2

Ba phương pháp đã trình này trên đây sẽ đưa đến những kết quả giá trị
doanh nghiệp khác nhau. Ta nhận thấy phương pháp 3 là sự kết hợp của phương
pháp 1 và phương pháp 2 trong đó có tính đến các yếu tố đặc thù của ngành mà
doanh nghiệp hoạt động, tiềm năng lợi nhuận, mức độ rủi ro của từng công ty. Ở
một khía cạnh nào đó, giá trị doanh nghiệp tính được theo phương pháp 3 có
tính bao quát hơn hai phương pháp trước. Nhưng việc lựa chọn phương pháp
nào để kết quả thu được là chính xác và hợp lý nhất thì còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố.
 Đánh giá phương pháp giá trị tài sản ròng:
Hạn chế:
- Theo cách này, giá trị doanh nghiệp chỉ thuần tuý là một phép cộng tổng
các tài sản bên trong doanh nghiệp tại thời điểm tính giá trị. Phương pháp
này đã đánh giá doanh nghiệp ở một trạng thái tĩnh, doanh nghiệp không
được coi như một thực thể, một tổ chức đang tồn tại và có thể hoàn chỉnh
và phát triển trong tương lai. Vì vậy mà nó không phù hợp với một tầm
nhìn chiến lược về doanh nghiệp. Một trong những mục tiêu của định giá là

Trích đoạn Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status