BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
..………/………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
…………/…………
N
G
U
Y
Ễ
N
C
A
O
T
R
Í
GIẢI
QUYẾT
KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO,
TRANH
CHẤP VỀ
ĐẤT ĐAI TẠI
THÀNH PHỐ TAM
KỲ, TỈNH QUẢNG
NAM
Ế
T
K
H
I
Ế
U
N
Ạ
I
, TỐ CÁO,
TRANH
CHẤP VỀ
ĐẤT ĐAI TẠI
THÀNH PHỐ
TAM KỲ,
TỈNH QUẢNG
NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành : Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ
TRỌNG HÁCH
iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................................7
1.
Tính cấp thiết của đề tài luận văn.....................................................................7
2.
Tình hình nghiên cứu :.................................................................................................. 9
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn................................................... 11
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.................................................... 11
5.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.............................................12
6.
Ý nghĩa lý luận và thực tiển của luận văn......................................................12
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ TN&MT
Bộ Tài nguyên và Môi Trường
KN
Khiếu nại
TC
Tố cáo
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
UBND
Uỷ ban nhân dân
QSDĐ
Quyền sử dụng đất
vi
7
Trước tình hình đó trong những năm qua Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng
đến việc nâng cao hiệu quả giải quyết Khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai. Sửa
đổi, bổ sung các văn bản Luật, văn bản dưới Luật có liên quan đến công tác Khiếu
nại, tố cáo và đất đai cho phù hợp với thực tiển, khắc phục những hạn chế bất cập,
xây dựng cơ sở pháp lý ngày càng hoàn thiện hơn, cụ thể: Từ Luật Khiếu nại tố cáo
năm 1998 điều chỉnh chung cho hai nội dung Khiếu nại và Tố cáo thì năm 2011 Quốc
hội đã sửa đổi bổ sung tách thành Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật tố cáo năm 2011,
tháng 6 năm 2018 Quốc hội đã thông qua Luật tố cáo năm 2018 và có hiệu lực vào
đầu năm 2019, ban hành Luật đất đai 2013 sửa đổi, bổ sung cho Luật đất đai 2003,
ban hành Luật tố tụng hành chính năm 2015... và các văn bản khác có liên quan. Vì
vậy công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của chúng ta trong thời gian qua đã có nhiều
chuyển biến đáng khích lệ. Tuy nhiên, tình hình về việc khiếu nại và tố cáo vẫn diễn
ra một cách hết sức phức tạp đặc biệt là việc khiếu nại, tố cáo về đất đai; nhiều vụ trở
thành điểm nóng; nhiều vụ liên quan đến khiếu nại và tố cáo đông người, vượt cấp; cá
biệt có vụ đã trở thành công cụ để các thế lực phản động lợi dụng chống phá Nhà
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặt biệt, các vụ việc khiếu nại, tố cáo thường bùng
phát vào các thời điểm diễn ra các cuộc họp của Hội đồng nhân dân các cấp, các cuộc
đại hội Đảng, Quốc hội, hay là các giai đoạn bầu cử Hội đồng nhân dân, bầu cử Quốc
hội. Nhiều vụ người dân còn kéo nhau đến nhà của các đồng chí lãnh đạo Đảng và
Nhà nước đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình an ninh và tình hình trật tự an
toàn xã hội.
Đa số các vụ việc khiếu nại là về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; khiếu nại
về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; khiếu nại quyết định xử lý
vi phạm hành chính đối với vi phạm trong việc sử dụng đất; khiếu nại đòi lại nhà, đất
mà Nhà nước đã quản lý qua các thời kỳ thực hiện chính sách đất đai.
Thời gian qua đã có rất nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả nghiên cứu về
khiếu nại, tố cáo; giải quyết khiếu nại, tố cáo; tranh chấp đất đai, giải quyết tranh
chấp đất đai. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong những năm gần đây như
sau:
- Thanh tra Chính phủ, tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố
cáo trong tình hình mới, Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội năm 2006;
9
- ThS. Nguyễn Thế Thịnh (chủ biên), Công tác dân vận trong giải quyết khiếu
nại, tố cáo của công dân, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2007;
- TS. Trần Văn Sơn, Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động
giải quyết khiếu nại, tố cáo, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2007;
- Viện Khoa học Thanh tra (Thanh tra Chính phủ), Khiếu nại, tố cáo hành chính
và giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính
trị - Hành chính, Hà Nội năm 2012;
- Vũ Duy Duẩn (2014), Giải quyết khiếu nại và tố cáo - phương thức bảo đảm
pháp chế và kỷ luật hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ quản
lý hành chính công;
- Nguyễn Thế Thuấn (2001), Tăng cường hiệu quả pháp luật về giải quyết
khiếu nại, tố cáo của công dân ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sỹ Luật học;
- Nguyễn Thị Thu Hằng (2011), Giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu
trường Tuyên Quang giai đoạn 2008-2013, Luận văn Thạc sỹ;
Những công trình nêu trên đều có nghiên cứu tuy đề cập đến nhiều góc độ
khác nhau nhưng chưa nghiên cứu về vấn đề giải quyết khiếu nại và tố cáo tranh chấp
trong lĩnh vực đất đai tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu luận văn này làm rõ về mặt lý luận và thực trạng giải quyết khiếu
nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, trên cơ sở đó, đưa ra
quan điểm, giải pháp để tăng cường hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp
về đất đai ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam hiện nay. -Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo tranh chấp về đất đai tại
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam;
+ Đề xuất hệ thống giải pháp tăng cường hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh
chấp về đất đai tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai.
-Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: nghiên cứu về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai tại
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
+ Thời gian: Từ năm 2013 đến nay.
11
2017);
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác
giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiển của luận văn
-Về mặt lý luận:
+ Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh
chấp về đất đai;
12
+ Phân tích, đánh giá được thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất
đai tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
- Về mặt thực tiễn:
+ Đề xuất được hệ thống giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố
cáo, tranh chấp về đất đai tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam;
+ Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào
tạo, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn có liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo,
tranh chấp về đất đai.
7.
Kết cấu của luận văn
của xã hội loài người.
Đất đai là tài sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình
lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện lao động. Đất đai đóng vai trò
quyết định cho sự tồn tại và sự phát triển của xã hội loài người. Nếu không có đất đai
thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, cũng như không thể có sự tồn tại
của loài người. Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con người,
điều kiện sống cho động vật, thực vật và con người trên trái đất.
Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Đất đai
là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc các công trình công nghiệp,
14
giao thông, thuỷ lợi vá các công trình thuỷ lợi khác. Đất đai cung cấp nguyên liệu cho
ngành công nghiệp, xây dựng như gạch ngói, xi măng, gốm sứ.
Đất đai là nguồn của cải, là một tài sản cố định hoặc đầu tư cố định, là thước
đo sự giàu có của mộ quốc gia. Đất đai còn là sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm
về tài chính, như là sự chuyển nhượng của cải qua các thế hệ và như là một nguồn lực
cho các mục đích tiêu dùng.
Trong Luật đất đai của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban
hành vào năm 2013 có định nghĩa đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với
quốc gia, là tư liệu sản xuất vô cùng đặc biệt, là thành phần quan trọng bậc nhất của
môi trường sống, và là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế,
văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều năm, nhân dân ta đã bỏ ra nhiều
công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày hôm nay.
Trong thực tế, trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và ý
nghĩa vô cùng quan trọng. Nó là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá
trình sản xuất, là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao động và nơi sinh tồn
của xã hội loài người.
1.1.2. Khái niệm khiếu nại, khiếu nại về đất đai, giải quyết khiếu nại, giải quyết
xu hướng quyền khiếu nại ngày càng mở rộng, đầy đủ, rõ ràng hơn, phản ánh quá
trình phát triển kinh tế và xã hội, trình độ văn hóa dân chủ, đồng thời thể hiện tính
tích cực của công dân trong việc tham gia đấu tranh phòng chống, ngăn chặn vi phạm
pháp luật, góp phần tăng cường pháp chế XHCN. Luật Khiếu nại ban hành năm 2011
là văn bản pháp luật chuyên biệt hoàn thiện nhất từ trước đến nay về quyền khiếu nại
của công dân: “Khiếu nại là việc tiến hành theo thủ tục do Luật này quy định khi có
căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi
ích hợp pháp của mình, thì các công dân, các cơ quan, các tổ chức hoặc các cán bộ,
công nhân viên chức đề nghị các cơ quan, các tổ chức ,các cá nhân có thẩm quyền
để xem xét lại các quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật của người có thẩm
quyền trong cơ quan nhà nước và các cán bộ, công chức”[29]. Từ khái niệm trên
chúng ta thấy rằng:
Khiếu nại chính là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị quyết định hành
chính hay hành vi hành hành chính hoặc đề nghị của cán bộ, công chức tác động trực
16
tiếp và quyết định kỷ luật tác động trực tiếp của đối với cơ quan, tổ chức hoặc người
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Xuất phát từ nhận thức chủ quan của những
người khiếu nại, khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm.
Tất cả các Công dân, các cơ quan, các tổ chức hoặc các cán bộ, công nhân viên
chức nhà nước đều có thể được coi là chủ thể khiếu nại. Bên cạnh đó, quyền được
khiếu nại còn có thể cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên, công dân Việt
Nam là chủ thể sử dụng quyền khiếu nại là thường xuyên và tích cực nhất. Như vậy,
mọi công dânViệt Nam đều có quyền khiếu nại kể cả người phạm tội hình sự, hạn chế
quyền tự do đi lại, quyền bầu cử, ứng cử và vẫn có quyền khiếu nại trong một số
trường hợp nhất định vì là công dân Việt Nam.
Khi công dân được coi là chủ thể khiếu nại, thì các văn bản pháp luật có giá trị
cao nhất là Hiến pháp đã ghi nhận đây được coi quyền khiếu nại là một trong những
Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó không đúng với pháp luật hoặc xâm
phạm đến quyền hoặc lợi ích hợp pháp của mình, thì các Cán bộ, công chức cũng có
quyền được khiếu nại về quyết định kỷ luật cán bộ, công chức đó. Các quyết định kỷ
luật phải là quyết định bằng văn bản do người đứng đầu một cơ quan, tổ chức ký cho
việc áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc quyền
quản lý của người đứng đầu theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
Quyết định hành chính và hành vi hành chính bị khiếu nại phải ảnh hưởng trực
tiếp đến quyền và lợi ích của người khiếu nại. Theo quy định của pháp luật hiện nay,
tùy theo mức độ và tính chất của hành vi vi phạm và các hình thức kỷ luật đối với cán
bộ sẽ bao gồm theo thứ tự như sau: môt là sẽ khiển trách, tiếp theo sẽ cảnh cáo, hơn
nữa sẽ cách chức, và cuối cùng bãi nhiệm. Tuy nhiên, và trình tự với hình thức kỷ
luật như sau đối với các công chức không phải là lãnh đạo, quản lý, thì bao gồm mức
độ khiển trách, mức độ cảnh cáo, mức độ hạ bậc lương, và cuối cùng là buộc thôi
việc. Còn đối với các công chức là lãnh đạo, là quản lý, thì các hình thức kỷ luật sẽ
bao gồm: mức độ khiển trách, mức độ cảnh cáo, mức độ hạ bậc lương, mức độ giáng
chức, cách chức, và cuối cùng là buộc thôi việc.
Từ những khái niệm trên, cho thấy từ nhiều nguồn khác nhau, khái niệm về
khiếu nại được thể hiện bằng những cách khác nhau. Tuy nhiên về cốt lõi thì khiếu
nại là việc công dân, cơ quan theo thủ tục Luật Khiếu nại quy định đề nghị cơ quan
18
tổ chức có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính khi
có căn cứ cho rằng quyết định hành vi đó trái pháp luật và xâm phạm đến quyền, lợi
ích hợp pháp của mình. Đồng thời, cũng cần nắm rõ đâu là hành vi trái pháp luật, và
giới hạn nào là xâm phạm đến lợi ích hợp pháp để có thể xem xét khiếu nại một cách
công bằng minh bạch nhất.
1.1.2.2. Khiếu nại về đất đai
Loại khiếu nại phát sinh trong các lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai được
trông coi trước năm 1975 nhưng hiện nay không được phép sử dụng vì đã có người sở
hữu, đất cho mượn để sản xuất, hoặc đất cho thuê. Hơn nữa, Việc đòi lại đất chính
quyền của chế độ cũ lấy để sử dụng, và sau khi giải phóng đã bị Nhà nước lấy lại tiếp
tục quản lý, và giao cho người khác sử dụng; Việc khiếu nại Đòi lại đất có nhà ở trong
khu vực đô thị do nhà nước quản lý không làm đầy đủ giấy tờ thủ tục; Khiếu nại đòi
lại đất cho các tổ chức tôn giáo mà đã hiến, hoặc cho, hoặc cho mượn và chính quyền
đã sử dụng để làm nhà trẻ, xây dựng nhà văn hóa, xây dựng trường học mẫu giáo;
Ngoài ra, các khiếu nại đòi lại đất cũ khi trước kia khi xảy ra chiến tranh, người dân
tiến hành sơ tán đi khu vực khác, nhưng khi chiến tranh kết thúc học trở lại thì đất đã
có người khác sử dụng. Mặt khác, các khiếu nại về việc cấp sai giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất như sai các thông tin như sau, sai vị trí, sai diện tích, sai tên...; Các
khiếu nại về quyết định giao đất: như quyết định giao đất bị sai thẩm quyền như giao
sai đối tượng, giao sai diện tích và sai loại đất), đã xảy ra sai phạm khi thực hiện giao
đất ( như sai diện tích, sai lô, sai tên, hoặc trùng quyền sở hữu quyền sử dụng đất).
Ngoài ra còn có các khiếu nại về xử lý
vi phạm hành chính liên quan đến khiếu nại về đất đai;về việc thực hiện thu thuế, về
việc thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; về việc thu lệ phí về quản lý, hoặc
sử dụng đất đai...
Từ đó cho thấy, đất đai hiện nay trở thành một tài sản lớn đối với người dân và
vô cùng giá trị. Do đó, có thể thấy rằng việc khiếu nại về đất đai sẽ ngày càng tăng
khi nhu cầu về mặt pháp luật của người dân ngày càng đòi hỏi công minh, và chính
xác để họ có được tài sản giá trị đó. Những hồ sơ khiếu nại về đất đai liên quan tới
việc đòi đất cũ của tình hình đất đai trước đây (năm 1945)... giờ đây cũng trở thành đề
tài lớn và cần khai thác để giải quyết ổn thỏa giữa các bên khiếu nại.
20
1.1.2.3. Giải quyết khiếu nại
hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
Các cá nhân, các cơ quan, các tổ chức cần phải nghiêm chỉnh chấp hành các
quyết định để có thể giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. Trong đó cần phải xử
lý nghiêm minh những người nào không thi hành có trách nhiệm thi hành quyết định
giải quyết khiếu nại mà lại không thi hành và phải khôi phục quyền và lợi ích hợp
pháp đã bị xâm hai của người bị thiệt hại và bồi thường thiệt hại cho họ vì đã xử lý
không đúng theo quy định của Pháp luật.
1.1.2.4. Giải quyết khiếu nại về đất đai
Pháp luật hiện nay chưa có khái niệm cụ thể về “giải quyết khiếu nại trong
lĩnh vực đất đai”, tuy nhiên, trên cơ sở các khái niệm về khiếu nại và khiếu nại trong
lĩnh vực đất đai, chúng ta có thể hiểu “giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai”
theo nghĩa đơn giản nhất, đó là việc xem xét lại tính hợp pháp, hợp lý đối với các
quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước về
đất đai, để từ đó kết luận nội dung khiếu nại của người khiếu nại hoặc là đúng hoặc là
sai hoặc đúng một phần.
Như vậy, có thể khái hiểu một cách khái quát giải quyết khiếu nại về đất đai là
việc thụ lý, xác minh nội dung khiếu nại về đất đai, kết luận và ban hành quyết định
giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai và tổ chức thi
hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật..
Yêu cầu đối với việc giải quyết khiếu nại về đất đai
Trên cơ sở những đặc điểm của khiếu nại về đất đai được trình bày ở trên và
để việc giải quyết khiếu nại về đất đai được “thấu tình đạt lý”, cần thiết phải đáp ứng
các yêu cầu cơ bản sau đây:
Yêu cầu tuân thủ pháp luật, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Việc tuân thủ pháp luật trong giải quyết khiếu nại hành chính nói chung, trong
lĩnh vực đất đai nói riêng là biện pháp để thực hành quyền dân chủ, củng cố niềm tin
của quần chúng với Đảng và Nhà nước, xây dựng thành công nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa theo tinh thần của Điều 2, Hiến pháp năm 2013. Do
việc giải quyết khiếu nại về đất đai đòi hỏi áp dụng tất cả các văn bản pháp luật liên
quan, không kể còn hiệu lực hay hết hiệu lực. Do vậy, việc
23