BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
------------/------------
BỘ NỘI VỤ
----/----
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THƢƠNG
THỰC THI CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƢỜI
CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỐC OAI,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, NĂM 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
------------/------------
BỘ NỘI VỤ
----/----
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THƢƠNG
THỰC THI CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƢỜI
CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỐC OAI,
học tại Học viện.
Tôi xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND xã
Đông Yên đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập
và hoàn thành khóa học này.
Tôi xin cảm ơn các anh, chị ở Phòng Nội vụ huyện Quốc Oai, thành
phố Hà Nội đã tạo điều kiện giúp tôi về tư liệu và góp ý cho tôi trong thời
gian viết Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thƣơng
BQĐN
CN - TTCN
LĐTB&XH
NCC
TNXP
UBND
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm dân số và lao động huyện Quốc Oai năm 2017:............36
Bảng 2.2. Tổng số người có công và số lượng người có công đang hưởng trợ
cấp hằng tháng.............................................................................. 43
Bảng 2.3. Tổng số thân nhân người có công đang hưởng trợ cấp hàng tháng 44
Bảng 2.4. Kết quả xác nhận người có công từ năm 2014 đến năm 2018........54
Bảng 2.5. Tổng hợp kinh phí thực hiện chế độ ưu đãi đối với người có công từ
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI NGƢỜI
CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI.................................................................................................................29
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách ưu đãi người có
công trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội................................29
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quốc Oai, thành phố
Hà Nội......................................................................................................29
2.1.2. Đặc điểm về kinh tế - xã hội...........................................................34
2.2. Tổng quan về người có công và chính sách ưu đãi người có công trên
địa bàn Huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội...............................................43
2.2.1. Tổng quan về người có công trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành
phố Hà Nội...............................................................................................43
2.2.2. Các chính sách của Đảng và Nhà nước ưu đãi đối với người có
công được triển khai , thực hiện tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 45
2.3. Thực trạng về công tác thực thi chính sách ưu đãi cho người có công
trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành Phố Hà Nội....................................... 46
2.3.1. Thực trạng về đối tượng thụ hưởng chính sách ưu đãi người có
công trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội........................... 46
2.3.2.Thực trạng về các chính sách ưu đãi đối với người có công
được
thực thi tại huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội....................................... 48
2.4. Đánh giá trong việc thực thi chính sách ưu đãi người có công trên địa
bàn huyện Quốc Oai, Thành Phố Hà Nội....................................................53
2.4.1. Kết quả và nguyên nhân.................................................................53
thi chính sách ưu đãi người có công........................................................ 89
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3..............................................................................92
KẾT LUẬN....................................................................................................93
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................94
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Uống nước, nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” vẫn luôn là đạo lý và
truyền thống của dân tộc Việt Nam. Lịch sử dân tộc Việt Nam luôn gắn liền
với những cuộc đấu tranh giành độc lập, giữ vững chủ quyền quốc gia. Đó là
những cuộc chiến tranh trường kỳ, gian khổ.
Trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, hàng triệu người con
ưu tú đã anh dũng hy sinh, hiến dâng một phần xương máu cho Tổ quốc. Là
mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, quê hương Quốc Oai đã có nhiều
đóng góp về sức người, sức của, góp phần cùng nhân dân cả nước viết lên
trang sử hào hùng của dân tộc.
Truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đạo lý tôn thờ, hậu đãi người có công
với đất nước luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm từ những ngày đầu thành lập
nước, trong điều kiện đất nước gặp muôn vàn khó khăn. Ngày 16/02/1947, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 20/SL, đặt ra "Hưu bổng thương tật"
và "Tiền tuất cho thân nhân tử sỉ" là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy
định về chế độ ưu đãi đối với thương binh, thân nhân tử sĩ. Sau ngày giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 08/7/1975 của
Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hằng năm chính
thức trở thành "Ngày Thương binh - Liệt sĩ" của cả nước.
Chính sách về ưu đãi người có công trong mấy chục năm qua thường
xuyên được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ, gắn liền với đời sống
cứu, thể hiện ở nhiều góc độ, nội dung khác nhau, cụ thể:
-
Các sách nghiên cứu liên quan đến đề tài
"Hồ Chí Minh - Về chính sách xã hội" của Trung tâm Khoa học xã hội
nhân văn Quốc gia, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 tổng hợp các
quan điểm của Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách xã hội đối với các tầng lớp
nhân dân, đặc biệt là đối tượng thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công.
Tác giả Mai Ngọc Cường, "Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội
ở Việt Nam hiện nay", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.
3
Tác giả đã khái quát những nội dung cơ bản, thành tựu, hạn chế, đưa ra một
số giải pháp xây dựng hệ thống chính sách nhằm thực hiện tốt hơn đối với
công tác an sinh xã hội nói chung, về ưu đãi người có công nói riêng.
Tác giả Nguyễn Đình Liêu, "Một số suy nghĩ về hoàn thiện pháp luật
ưu đãi người có công", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000. Tác
giả đã nêu khái quát các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế độ, chính sách đối
với người có công ở nước ta, mối quan hệ giữa chính sách người có công
trong hệ thống an sinh xã hội nói riêng, trong chính sách vĩ mô về phát triển
kinh tế - xã hội của Nhà nước nói chung. Tác giả cũng nêu khái quát những
nguyên tắc đổi mới hệ thống pháp luật ưu đãi người có công hiện nay.
-
Các bài viết, tạp chí
mạng ở nước ta qua các thời kỳ; kiến nghị một số giải pháp góp phần quản lý
nhà nước về ưu đãi người có công ở Việt Nam một cách hiệu quả.
Tác giả Ngô Công Viên (2015) trong luận văn thạc sĩ Quản lý công
"Chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh Nam
Định", Học viện Hành chính Quốc gia. Tác giả đã khái quát cơ sở lý luận và
pháp lý về chính sách đối với người có công với cách mạng, thực trạng và giải
pháp nâng cao năng lực thực thi chính sách ưu đãi đối với người có công ở
tỉnh Nam Định hiện nay.
Bên cạnh đó còn rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác.
Các đề tài nêu trên đều được nghiên cứu độc lập ở quy mô quốc gia
hoặc một địa phương cụ thể. Các tác giả đều đi sâu phân tích việc hoàn thiện
hệ thống pháp luật liên quan đến ưu đãi người có công hoặc triển khai đơn lẻ
một loại hình chính sách cụ thể đối với người có công. Ở huyện Quốc
Oai, thành phố Hà Nội chưa có công trình nghiên cứu việc thực thi chính sách
ưu đãi đối với người có công. Do đó, những nội dung trong luận văn "Thực
thi chính sách ưu đãi đối với người có công trên địa bàn huyện Quốc Oai,
thành phố Hà Nội " góp phần làm rõ những vấn đề lý luận đối với chính sách
5
người có công, hệ thống hóa các chính sách và đưa ra các giải pháp nhằm
thực thi tốt chính sách ưu đãi người có công tại địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
thực thi chính sách ưu đãi đối với người có công. Từ đó, đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đối với người có công trên
địa bàn huyện Quốc oai Thành phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Phương pháp lý luận
Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tuởng Hồ Chí Minh, và các quan điểm của
Ðảng, Nhà nuớc Việt Nam làm phương pháp luận cơ bản thực hiện nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp cụ thể là: logic - lịch sử, phân tích tổng hợp, so sánh, thống kê, nghiên cứu tài liệu, tổng kết thực tiễn.
6. Những đóng góp của luận văn và ý nghĩa khoa học
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đóng góp, bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về thực thi chính
sách ưu đãi đối với người có công ở Việt Nam hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn phản ánh được thực trạng và đề xuất được một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách ưu đãi đối với người có công trên
địa bàn huyện Quốc oai Thành Phố Hà Nội.
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác quản lý, thực
hiện chính sách ưu đãi người có công cấp huyện.
7.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, kết cấu chính của Luận văn gồm
có 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận về thực thi chính sách ưu đãi người có công
Chương 2. Thực trạng thực thi chính sách ưu đãi đối với người có công
trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội hiện nay.
Chương 3. Mục tiêu,phương hướng,giải pháp bảo đảm thực thi chính sách
ưu đãi đối với người có công trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
nghiệp, hiệp hội hay đoàn thể đó. Các chính sách này nhằm giải quyết các vấn
đề của tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó, vì vậy chúng
mang tính chất riêng biệt và được coi là những “chính sách tư”.
8
Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ
máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề mang tính chất cộng
đồng, được gọi là chính sách công.
Nhà nước có một vị trí và vai trò vô cùng quan trọng, là chủ thể đại diện
cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách công để mưu cầu lợi ích cho
xã hội. Hoạt động của nhà nước tác động đến toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Tác
động của Nhà nước được lồng ghép vào cơ chế quản lý, điều hành, vì vậy, quan
niệm về chính sách công cũng được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau.
Chính sách là những hành động có tính toán của Nhà nước nhằm tác
động lên đối tượng quản lý theo hướng đồng tình hay phản đối, xuất phát từ ý
chí của Nhà nước trong hoạt động quản lý xã hội.
Những đặc trưng của chính sách công:
-
-
Tác động phải mang tính cộng đồng.
-
Là những tác động có mục tiêu (ngắn hạn hoặc dài hạn).
cho đến nay chưa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm. Tuy nhiên
căn cứ các tiêu chuẩn đối với từng đối tượng là người có công mà Nhà nước
ta đã quy định như trên, có thể hiểu theo hai cách sau:
Theo nghĩa rộng: Người có công là những người đã tự nguyện hiến
dâng cuộc đời mình cho việc đại nghĩa, cho sự nghiệp cách mạng của đất
nước. Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc phục vụ lợi ích của
đất nước, dân tộc trong các giai đoạn kháng chiến của Đất nước. Người có
công gồm những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam
nữ, tuổi tác, họ bình đẳng nhau và có những đóng góp to lớn cho công cuộc
đấu tranh và bảo vệ đất nước.
Theo nghĩa hẹp: Khái niệm người có công để chỉ những cá nhân không
phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ… có những đóng góp, những
cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.
Cách đây 69 năm - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng bào cả
nước: “... Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương
10
máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của
đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu ...”“... Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào
phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”...
Người có công ở nước ta hiện nay được điều chỉnh bởi Pháp lệnh ưu
đãi người có công.
1.1.1.3. Đặc điểm của người có công
Người có công là lực lượng lao động chính của gia đình và xã hội. Do
di chứng của chiến tranh, người có công mang trong mình nhiều thương tích,
bệnh tật, sức khỏe giảm sút. Vậy nên, cuộc sống của bản thân và gia đình
1.1.1.4 Phân loại người có công
Đối với thương binh, bệnh binh thời kì kháng chiến chống Pháp: số
lượng ít, tuổi đã cao, họ sống khiêm tốn, trong sạch, ít đòi hỏi quyền lợi cá
nhân, nhu cầu vật chất giản dị; thậm chí họ sẵn sàng hiến tặng tài sản ít ỏi còn
lại của mình cho công việc từ thiện, khuyến học, việc chung của cộng đồng
dân cư… Đời sống tinh thần đối tượng này khá cao, thích tìm hiểu và tham
gia bình luận tình hình thời sự trong nước và thế giới, thường xuyên gặp gỡ
bạn bè trao đổi thông tin và ôn lại kỷ niệm, quá khứ hào hùng của dân tộc.
Đối với thương binh, bệnh binh thời kì kháng chiến chống Mỹ trở về
sau: Đa số ở tuổi trung niên, hầu hết họ có ý thức tự chủ, kiềm chế, hăng hái,
nhiệt tình trong công tác xã hội. Tuy nhiên họ là những người chịu ảnh hưởng
lớn từ tác động của đời sống kinh tế, xã hội, họ nhạy cảm với các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến bản thân. Một số ít đối tượng
có tư tưởng công thần, hay kể công, ỷ vào công lao đóng góp của mình để đưa
ra yêu sách, đòi hỏi quá đáng. Thậm chí có những trường hợp lợi dụng chính
sách ưu đãi để trục lợi cho cá nhân và làm trái pháp luật, ảnh hưởng đến việc
triển khai, tổ chức thực thi chính sách ưu đãi đối với người có công.
Đối với Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng
dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước,
12
của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” thuộc một
trong các trường hợp: chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; trực tiếp đấu
tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; hoạt động cách mạng,
hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết
đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh; làm nghĩa vụ
quốc tế; đấu tranh chống tội phạm; dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy
hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà
sự đau đớn lớn nhất đối với người cha, người mẹ, người vợ, người con của
liệt sĩ mà không gì có thể bù đắp được. Họ rất muốn nhận được sự quan tâm
chia sẻ, động viên, đặc biệt là vào các dịp lễ, Tết.
1.1.2. Khái niệm chính sách ưu đãi người có công
Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công góp phần thể hiện tinh
thần nhân văn của quốc gia nó không chỉ là sự giúp đỡ, chia sẻ mà còn là
nghĩa vụ của nhà nước, nhân dân và toàn xã hội đối với những người có công.
Chính sách ưu đãi người có công là một bộ phận của hệ thống chính sách
xã hội, cụ thể là chính sách bảo đảm an sinh xã hội. Hệ thống bảo đảm xã hội ở
nước ta hiện nay gồm có ưu đãi xã hội đối với người có công, bảo hiểm xã hội
đối với người lao động, cứu trợ xã hội, bảo trợ xã hội đối với những người gặp
rủi ro, khó khăn, yếu thế trong xã hội. Chính sách ưu đãi người có công nhằm
ghi nhận và tri ân những con người đã có công, đã có những cống hiến đặc biệt
cho sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ đất nước; nhằm đảm bảo công bằng xã hội
đồng thời duy trì và phát triển những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, giáo
dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ tương lai là nghĩa vụ, trách nhiệm của
Nhà nước, của cộng đồng đối với người có công.
Theo Thuật ngữ Lao động - Xã hội: "Chính sách người có công là
những quy định chung của Nhà nước bao gồm mục tiêu, phương hướng, giải
pháp về việc ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của người có
công, tạo mọi điều kiện khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật
chất, văn hóa tinh thần đối với người có công" [6, tr 31].
14
Như vậy, chính sách ưu đãi người có công là tập hợp các quyết định
chính trị, pháp lý có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ
chính sách để giải quyết các vấn đề của người có công như tôn vinh, ưu đãi,
Thứ ba thực thi chính sách ưu đãi người có công là sự kết hợp lợi ích
giai cấp và lợi ích dân tộc, đảm bảo cho đất nước, cho dân tộc có sự phát triển
lâu dài và bền vững. Thực thi chính sách đối với người có công có ý nghĩa vô
cùng quan trọng, bởi đây là giai đoạn biến ý đồ chính sách ưu đãi người có
công thành hiện thực; từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục
tiêu chung trong chính sách ưu đãi người có công; khẳng định tính đúng đắn
của chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đối với người có công đồng thời
giúp cho chính sách ưu đãi ngày càng hoàn thiện
Thứ tư thực thi chính sách ưu đãi người có công là một khâu hợp thành
chu trình chính sách, thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không
thể tồn tại, là khâu kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ
thống nhất là với khâu hoạch định chính sách, là bước hiện thực hóa chính
sách trong đời sống xã hội.
Thứ năm thực thi chính sách ưu đãi người có công là góp phần vào thực
thi chính sách con người, làm cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai ý thức trách nhiệm
của mình đối với xã hội, đối với Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì sự
nghiệp của dân tộc, của đất nước, đặc biệt là trong thời kì hiện đại ngày nay.
1.2. Đặc điểm, quy trình, hình thức và phƣơng pháp thực thi chính
sách ƣu đãi ngƣời có công
1.2.1. Đặc điểm thực thi chính sách ưu đãi người có công
Thực thi chính sách ưu đãi người có công là một bộ phận của thực hiện
chính sách công, do đó ngoài các đặc điểm chung của chính sách công, thực
thi chính sách ưu đãi người có công còn có một số đặc điểm cơ bản, cụ thể là:
Thứ nhất, thực thi chính sách ưu đãi người có công là chính sách đặc
biệt, thực hiện cho những đối tượng đặc biệt, thể hiện rất rõ quan điểm và
đường lối của Đảng và Nhà nước. Với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, Nhà
nước có vai trò đặc biệt quan trọng trọng việc xây dựng và thực thi chính sách