Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương qua thực tiễn tại tỉnh thừa thiên huế - Pdf 69

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................1
1. Đặt vấn đề....................................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA
NGƯỜI QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI........................................................................5
1.1. Khái niệm người quản lý đất đai............................................................ 5
1.1.1. Khái niệm công vụ.............................................................................. 5
1.1.2. Khái niệm công chức.......................................................................... 5
1.2. Trách nhiệm pháp lý................................................................................ 6
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm pháp lý................................ 6
1.3. Mục đích việc truy cứu trách nhiệm pháp lý.........................................9
1.4. Căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý............................................. 10
1.5. Các loại trách nhiệm pháp lý................................................................13
1.6. Những yêu cầu cơ bản đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý....13
1.7. Các hành thức trách nhiệm pháp lý trong việc xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật đất đai.............................................................................15
2.1. Trách nhiệm hành chính........................................................................16
2.2. Trách nhiệm kỷ luật...............................................................................17
2.3. Trách nhiệm hình sự..............................................................................18
2.4. Trách nhiệm dân sự................................................................................19
3.1. Trách nhiệm pháp lý của cán bộ công chức.........................................20
3.1.1. Trách nhiệm hình sự..........................................................................20
3.1.2. Trách nhiệm dân sự...........................................................................20
3.1.3. Trách nhiệm hành chính....................................................................20
3.1.4. Trách nhiệm kỷ luật của cán bộ công chức.......................................20
3.2. Khái niệm, phân loại vi phạm pháp luật..............................................25

2.1.3. Về trách nhiệm hành chính............................................................... 61
2.1.4. Về trách nhiệm vật chất của công chức............................................ 61
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của công chức .. 62

2.2.1. Thực trạng vi phạm pháp luật của công chức................................... 62
2.2.2. Thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý của công chức..................62
2.3. Nguyên nhân chủ yếu của những mặt tích cực và hạn chế trong
việc thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của công chức..............63


2.3.1. Nguyên nhân chủ yếu của những mặt tích cực................................. 63
2.3.2. Nguyên nhân chủ yếu của những mặt hạn chế..................................64
2.4. Tình hình quản lý về đất đai tại tỉnh Thừa Thiên Huế.......................65
2.5. Những kết quả đạt được trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất
đai thể hiện trong các nội dung sau.............................................................66
2.6. Thực trạng vi phạm hành chính về đất đai ở tỉnh Thừa Thiên Huế.........79
2.6.1. Tình hình vi phạm.............................................................................81
2.6.2. Đánh giá tình hình vi phạm hành chính về đất đai ở Thừa Thiên Huế
.....................................................................................................................88
2.7. Thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người quản lý
đất đai ở tỉnh Thừa Thiên Huế.................................................................... 91
2.7.1. Quan điểm, chủ trương và các văn bản của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân
dân tỉnh Thừa Thiên Huế trong xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
nói chung và vi phạm hành chính về đất đai nói riêng
91
2.7.2. Kết quả xử lý vi phạm pháp luật đất đai và vi phạm hành chính
về đất đai ở Thừa Thiên Huế 94
2.7.3. Nhận xét đánh giá về tình hình xử lý vi phạm hành chính về đất
đai ở Thừa Thiên Huế 96
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN VỀ

3.2.8. Lắng nghe ý kiến của nhân dân về công tác quản lý đất đai để phát
hiện và xử lý kịp thời những vi phạm của người quản lý đất đai 130
KẾT LUẬN..................................................................................................131
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................134


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH:

Công nghiệp hóa

GCNQSDĐ:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

HĐH:

Hiện đại hóa

HĐND:

Hội đồng Nhân dân

NSDĐ:

Người sử dụng đất

QLNN:

Quản lý Nhà nước


Xã hội chủ nghĩa


LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tặng vật của
thiên nhiên dành cho con người nhưng đất đai không phải là vô tận và nếu
việc quản lý, sử dụng không hợp lý thì con người sẽ phải trả giá cho những
hành động của mình. Việc quản lý đất đai ở nước ta trong những năm qua còn
tồn tại rất nhiều vấn đề bất hợp lý gây nhiều phản ứng gay gắt trong nhân dân
và là nỗi trăn trở của các nhà lãnh đạo. Hiện tượng vi phạm pháp luật của
người quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay còn khá phổ biến, nhất là tham
nhũng, tiêu cực, suy thoái về phẩm chất đạo đức là tương đối nghiêm trọng.
Các vi phạm pháp luật không giới hạn ở một lĩnh vực, một ngành, một địa
phương mà xảy ra trên phạm vi rộng, xảy ra ngay trong bộ máy các cơ quan
bảo vệ pháp luật.
Trong bảy năm qua, kể từ khi luật đất đai năm 2003 có hiệu lực từ ngày
01/07/2004 có rất nhiều cán bộ, công chức các cấp đã bị xử lý và khởi tố do
liên quan đến vi phạm về quản lý pháp luật đất đai. Tiêu cực đất đai là “địa
chỉ nóng” cần đánh mạnh. Vừa qua hàng loạt các vụ án lớn liên quan đến
quản lý đất đai như vụ Đồ Sơn, Phú Quốc, Bình Phước, Tiên Lãng-Hải
Phòng... Hiện tượng Đồ Sơn không còn là cá biệt. Tuy mức độ cụ thể có thể
khác nhau nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng không nơi nào không có
hiện tượng tham nhũng về đất đai, không có nơi nào cán bộ có chức, có quyền
không được giao đất với giá rẻ.
Luật đất đai 2003 ra đời lần đầu tiên đã quy định quyền khởi kiện vụ án
hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực
quản lý đất đai, quy định cụ thể việc xử lý vi phạm đối với trường hợp cán bộ

mang lại hiệu lực và hiệu quả tốt nhất của nhà nước trong quản lý đất đai và
quyền và lơi ích chính đáng của người sử dụng đất nói.

2


1.2.2. Mục tiêu cụ thể
-

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận về trách

nhiệm pháp lý của người quản lý đất đai, nhằm nắm được thực trạng của việc
vi

phạm pháp luật đất đai của người quản lý tại địa phương. Tìm ra nguyên

nhân vi phạm, từ đó rút ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của
pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người quản lý đất đai, đảm bảo thực
hiện tốt chế định này trong thực tiễn.
1.3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Liên quan đến lĩnh vực đất đai có rất nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc
độ khác nhau như: Quy hoạch đất đai, sử dụng đất đai, quản lý đất đai, vi phạm
của người sử dụng đất...chứ chưa có đề tài nào nghiên cứu về vi phạm của người
quản lý. Vì vậy đây là đề tài hoàn toàn mới tại địa phương và chưa có ai đặt vấn
đề nghiên cứu. Khi chọn đề tài này tác giả biết rằng sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì
tính phức tạp của vấn đề, nhưng với công tác chuyên môn hiện tại, tác giả mong
muốn đóng góp một phần nhỏ của mình về mặt khoa học và thực tiễn tại địa
phương để góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay.
Điểm mới của luận án thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
-

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cán bộ, công chức được nhà nước
giao quyền trong lĩnh vực quản lý đất đai
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu vi phạm pháp luật đất đai của người quản lý tại Thừa Thiên
Huế trong vòng 5 năm (từ 2006-2011) và được chia thành hai dạng cơ bản sau:
+

Vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai.

+

Vi phạm pháp luật trong sử dụng đất đai.

Trong luận văn này, tôi sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu, khai thác về vi
phạm pháp luật đất đai của người quản lý đất đai.
Luận văn bao gồm những nội dung sau:
-

Những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm và xử lý vi phạm đối với

người quản lý đất đai.
-

Nghiên cứu thực trạng pháp luật đất đai về xử lý vi phạm đối với

người quản lý đất đai.
-

Thực trạng vi phạm của người quản lý đất đai và xử lý vi phạm đối


về công vụ.
Xuất phát từ đặc thù của hệ thống chính trị nước ta, công vụ được hiểu là
một loại lao động mang tính phục vụ, tính quyền lực và pháp lý, được thực thi
bởi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm thực hiện các chức năng của Nhà
nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội.

1.1.2. Khái niệm công chức
Tùy theo phạm vi công vụ rộng hay hẹp, khái niệm công chức cũng có
nội hàm rộng, hẹp tương ứng. Nhìn chung, các quan niệm về công chức ở
nước ta và các nước khác trong lịch sử và hiện tại thường khác nhau về đối
tượng nào là công chức.


nước ta, công chức được hiểu là Công dân Việt Nam, được tuyển

dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng

5


sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp
huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung
là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp
công lập theo quy định của pháp luật. (Điều 4 Luật Cán bộ công chức)

thường) luôn hoạt động có lý trí (họ ý thức được việc làm của mình, nghĩa là, họ
có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình và hậu quả do nó gây
ra cho xã hội) và có tự do ý chí (họ có khả năng và điều kiện để có thể tự lựa
chọn cho mình cách xử sự có thể có trong hoàn cảnh, điều kiện nhất định). Vì
vậy họ có đủ khả năng và phải chịu trách nhiệm về cách xử sự (hành vi) đã lựa
chọn của mình. Nếu chủ thể chọn cách xử sự trái với ý chí của nhà nước đã thể
hiện trong quy phạm pháp luật (không lựa chọn cách xử sự mà nhà nước cho
phép hoặc buộc phải thực hiện trong trường hợp đó), thì chủ thể phải chịu trách
nhiệm về việc làm của mình, phải chịu trách nhiệm pháp lý. Như vậy, trách
nhiệm pháp lý chỉ đặt ra đối với những chủ thể có lý trí và có tự do ý chí.

Cơ sơ của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật, TNPL chỉ xuất
hiện khi trong thực tế xảy ra vi phạm pháp luật. Nếu trong thực tế không có vi
phạm pháp luật thì không được truy cứu TNPL. TNPL chỉ được phép áp dụng
đối với các chủ thể vi phạm pháp luật. Không truy cứu TNPL đối với các hành
vi trái pháp luật được thực hiện trong trường hợp:
a. Chủ thể không có năng lực TNPL (không có khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình).
b. Do sự kiện bất ngờ (chủ thể không thể thấy trước hoặc không buộc
phải thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra).

7


c. Do phòng vệ chính đáng.
d. Được thực hiện phù hợp với tình thế cấp thiết.
Chỉ các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hay các chủ thể
được pháp luật trao quyền thì mới có quyền truy cứu TNPL đối với tổ chức hay
cá nhân nào đó. Nó thể hiện ở việc các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có
thẩm quyền hay các chủ thể có quyền theo trình tự thủ tục luật định yêu cầu chủ

phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể vi
phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó
chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp
cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật.
1.3. Mục đích việc truy cứu trách nhiệm pháp lý
Mọi hiện tượng vi phạm pháp luật đều có hại cho xã hội vì nó phá vỡ
trật tự pháp luật, nó trực tiếp hoặc có nguy cơ gây ra những thiệt hại nhất định
về vật chất và tinh thần cho cá nhân, tổ chức, xâm hại đến các quan hệ xã hội
mà pháp luật bảo vệ. Vì thế, việc truy cứu TNPL đối với các hành vi vi phạm
pháp luật là nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền,
lợi ích của nhân dân, của tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, tạo điều kiện cho
những quan hệ xã hội phát triển đúng hướng, đảm bảo cho quá trình điều
chỉnh pháp luật được tiến hành bình thường và có hiệu quả.
Truy cứu trách nhiệm pháp lý trước hết là nhằm mục đích trừng phạt đối
với chủ thể vi phạm pháp luật, buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi,
những biện pháp cưỡng chế được quy định trong chế tài các quy phạm pháp luật.
Ngoài mục đích trừng phạt, truy cứu TNPL còn có ý nghĩa rất lớn trong việc
phòng ngừa, cải tạo và giáo dục những chủ thể vi phạm pháp luật (ngăn ngừa sự
tiếp tục vi phạm pháp luật của chủ thể và cải tạo, giáo dục chủ thể ý thức tôn
trọng, thực hiện nghiêm minh pháp luật và các quy tắc của cuộc sống cộng đồng)

Truy cứu TNPL còn có tác dụng răn đe tất cả những chủ thể khác khiến
họ phải kiềm chế, giữ mình không vi phạm pháp luật, giáo dục các tổ chức và
các cá nhân ý thức tôn trọng và thực hiện nghiêm minh pháp luật và các quy

9


tắc của cuộc sống cộng đồng, làm cho mọi người tin tưởng vào công lý, tích
cực đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật, từng bước hạn chế và tiến


10


mà hành vi trái pháp luật của họ không trực tiếp gây ra (giữa hành vi trái pháp
luật của họ và sự thiệt hại của xã hội không có mối quan hệ nhân quả)
Để cải tạo, giáo dục chủ thể vi phạm pháp luật có hiệu quả khi truy cứu
trách nhiệm pháp lý trong một số trường hợp cần phải xác định cả thời gian,
địa điểm và cách thức… mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Khi
xác định được những điều nói trên thì việc lựa chọn biện pháp cưỡng chế mới
chính xác, phù hợp với mục đích cần truy cứu TNPL và đạt được hiệu quả cao
trong việc cải tạo, giáo dục chủ thể vi phạm pháp luật
Việc xác định lỗi, động cơ và mục đích vi phạm trong nhiều trường hợp
khi truy cứu trách nhiệm pháp lý là rất cần thiết, nó cho phép lựa chọn được
biện pháp cưỡng chế thích hợp.
Về nguyên tắc, trách nhiệm pháp lý chỉ áp dụng đối với các chủ thể có
năng lực TNPL khi họ thực hiện hành vi trái pháp luật có lỗi, tức là chủ thể
hành vi đó có khả năng nhận thức được những hậu quả nguy hiểm cho xã hội
do hành vi của mình gây ra nhưng cố ý hoặc vô ý gây ra. Tuy nhiên, trong một
số trường hợp pháp luật còn cho phép truy cứu TNPL đối với cả những hành
vi trái pháp luật được thực hiện do những nguyên nhân khách quan hoặc
trường hợp thiệt do những nguồn nguy hiểm cao độ như phương tiện giao
thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động,
vũ khí, chất nỏ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ… gây ra và một số
trường hợp khác trong quan hệ dân sự mặc dù không có lỗi chủ thể vẫn phải
chịu TNPL. Chẳng hạn, cha mẹ hay người giám hộ phải bồi thường thiệt hại
do con mình (dưới mười lăm tuổi) hoặc người mất năng lực hành vi dân sự
gây ra. Trong những trường hợp trên chỉ áp dụng những biện pháp tác động
mang tính chất khôi phục thiệt hại, không áp dụng các biện pháp trách nhiệm
hình sự.

pháp luật khác nhau thì thời hiệu truy cứu TNPL được quy định khác nhau.
Pháp luật của nhiều nước không áp dụng thời hiệu quy cứu TNPL đối với một
số loại vi phạm pháp luật quá nguy hiểm gây thiệt hại lớn cho xã hội. Ví dụ:
Bộ luật hình sự Việt Nam quy định không áp dụng thời hiệu quy cứu trách
nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại
hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

12


Pháp luật cũng có thể quy định miễn trách nhiệm pháp lý cho một số
chủ thể trong những trường hợp nhất định.
Trách nhiệm pháp lý sẽ chấm dứt khi xảy ra sự kiện pháp lý thích ứng
như có quyết định ân xá, thời hạn trừng phạt đã kết thục, nộp phạt xong…
1.5. Các loại trách nhiệm pháp lý
TNPL có nhiều loại, thông thường chúng được chia thành: Trách nhiệm
hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự và
trách nhiệm vật chất
-

Trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do

tòa án áp dụng đối với những chủ thể có hành vi phạm tội
-

Trách nhiệm hành chính là loại TNPL do các cơ quan nhà nước hay

nhà chức trách có thẩm quyền áp dụng đối với các thủ thể vi phạm hành chính
-


Bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động truy cứu TNPL. Tuân

thủ nguyên tắc pháp chế trong hoạt động truy cứu TNPL là điều kiện vô cùng
quan trọng để việc truy cứu được tiến hành chính xác, đúng thẩm quyền, đúng
trình tự thủ tục, đúng pháp luật
+

Bảo đảm sự công bằng và nhân đạo trong hoạt động truy cứu TNPL

như không áp dụng những biện pháp trừng phạt nhằm làm nhục con người,
không áp dụng hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố) khi luật quy định TNPL
mới hoặc quy định TNPL nặng hơn, nếu sự thiệt hại do hành vi vi phạm pháp
luật gây ra: a/ Có thể khôi phục được thì phải có biện pháp khôi phục lại.
b/ Không thể khôi phục được thì sự trừng phạt phải nặng tương xứng
với thiệt hại.
c/ Nếu có ảnh hưởng về lâu dài thì cần áp dụng cả các biện pháp bảo
đảm khắc phục thiệt hại về lâu dài, đối với mỗi vi phạm pháp luật chỉ bị trừng
phạt một lần và chỉ áp dụng một biện pháp trừng phạt, trừ trường hợp cần phải
áp dụng biện pháp trừng phạt bổ sung hoặc trường hợp phải áp dụng trách
nhiệm bồi thường thiệt hai do hành vi vi phạm pháp luật gây ra, chịu TNPL
phải là đích danh chủ thể đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật (trong một
số lĩnh vực như pháp luật dân sự, kinh tế… có thể cho phép chịu trách nhiệm
bồi thường thiệt hại thay cho chủ thể khác)
+

Bảo đảm tính phù hợp khi truy cứu TNPL, tức là, cần cá biệt hóa

biện pháp trừng phạt đối với mỗi chủ thể cụ thể phụ thuộc vào mức độ
nguy hiểm do hành vi của họ gây ra, nhân thân của chủ thể, hoàn cảnh xảy ra
vi phạm…, có thể sử dụng cả những tình tiết giảm nhẹ mà pháp luật không

chống lại hiện tượng vi phạm pháp luật trong tương lai hay không? Có tác
dụng răn đe đối với những người chưa vi phạm pháp luật hay không…
Hiệu quả của hoạt động truy cứu TNPL còn thể hiện ở mức độ, tốc độ
và phạm vi xóa bỏ được các hiện tượng vi phạm pháp luật trong xã hội, những
chi phí về sức người, về vật chất, về thời gian và những chi phí khác cho hoạt
động này.
1.7. Các hành thức trách nhiệm pháp lý trong việc xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật đất đai
Xử lý vi phạm pháp luật đất đai là việc áp dụng các hình thức trách

15


nhiệm pháp lý đối với người vi phạm nhằm mục đích buộc họ phải gánh chịu
những hậu quả pháp lý do hành vi và hậu quả của hành vi vi phạm gây ra
Với nguyên tắc mọi vi phạm phải được phát hiện, đình chỉ và xử lý kịp
thời. Việc xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất
cần phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để. Mọi hậu quả phải
được khác phục theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng các hình thức trách
nhiệm pháp lý khác nhau đối với người vi phạm là tùy thuộc vào tính chất và
mức độ của hành vi vi phạm. Theo đó vi phạm pháp luật đất đai có thể bị áp
dụng trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm vật chất hay
trách nhiệm hình sự.
2.1. Trách nhiệm hành chính
-

Đối tượng có thể bị xử lý biện pháp hành chính là những người sử

dụng đất và những người khác nếu có hành vi làm trái với các quy định của
pháp luật, về chế độ sử dụng đất, phá vỡ trật tự quản lý đất đai như: lấn chiếm

phạm có thể bị áp dụng hình thức phạt bổ sung và các biện pháp hành chính
khác như: thu hồi đất, buộc khôi phục lại tình trạng đất như trước khi bị thay
đổi do vi phạm hành chính gây ra
2.2. Trách nhiệm kỷ luật
Đối tượng chịu trách nhiệm kỷ luật là những người thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về đất đai có hành vi vi phạm như: lợi dụng chức vụ, quyền
hạn, làm trái với quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, thu hồi
đất, thực hiện kế hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về
đất đai, quản lý hồ sơ địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất
đai, thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về đất đai
hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa vụ
của người sử dụng đất. Đó là những hành vi vi phạm nhưng ở mức độ nhẹ,
chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
-

Việc xử lý các cán bộ, công chức có hành vi vi phạm trong khi thực

hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai. Do người đứng đầu cơ quan quản
lý công chức có hành vi vi phạm ra quyết định kỷ luật
Nếu người đứng đầu cơ quan, đơn vị vi phạm kỷ luật thì người đứng
đầu cơ quan đơn vị quản lý cấp trên trực tiếp ra quyết định kỷ luật.
Về hình thức kỷ luật: Người quản lý đất đai vi phạm kỷ luật thì tùy theo
mức độ mà bị xử lý bằng một trong các hình thức kỷ luật như: Khiển trách,
cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc.

17


-


vi

vi phạm pháp luật khác, Điều 143 Luật đất đai năm 2003 đặc biệt nhấn

mạnh trách nhiệm của chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp trong việc phát hiện,
ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai cũng như
xử lý trách nhiệm của thủ tướng, công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý
đất đai các cấp và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn trong việc vi phạm
trình tự thực hiện các thủ tục hành chính.
2.3. Trách nhiệm hình sự
Căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi
phạm pháp luật đất đai là những vi phạm được quy định trong Điều 140, 141
Luật đất đai năm 2003. Theo đó người sư dụng đất có hành vi vi phạm đã xử
phạt hành chính mà còn vi phạm hoặc vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng thì
sẽ bị xử lý theo Điều 173 Bộ luật hình sự.

18


Đối với người quản lý có hành vi vi phạm pháp luật đất đai đã bị xử lý
kỷ luật mà còn vi phạm hoặc vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng thì bị xử lý
theo Điều 174 Bộ luật hình sự
Đối với người quản lý có hành vi vi phạm pháp luật đất đai đã bị xử lý
kỷ luật mà còn vi phạm hoặc vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng thì bị xử lý
theo Điều 174 Bộ luật hình sự
2.4. Trách nhiệm dân sự
Đối tượng chịu trách nhiệm dân sự là người sử dụng đất, người có trách
nhiệm quản lý đất đai hoặc những người khác có hành vi vi phạm pháp luật
đất đai hoặc những người khác có hành vi vi phạm pháp luật đất đai mà gây
thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác thì ngoài việc bị áp dụng một trong

Trách nhiệm dân sự là loại TNPL phát sinh khi cá nhân, tổ chức có
hành vi vi phạm luật dân sự
Đối với cán bộ, công chức ngoài trách nhiệm dân sự thông thường như
mọi cá nhân, tổ chức khác còn phải chịu trách nhiệm trong trường hợp thực
hiện hoạt động bất hợp pháp hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm khi thực hiện
nhiệm vụ được giao gây thiệt hại cá nhân, tổ chức
3.1.3. Trách nhiệm hành chính
Trách nhiệm hành chính là loại trách nhiệm đặt ra khi cá nhân, hoặc tổ
chức có hành vi vi phạm pháp luật hành chính.
Cán bộ, công chức vi phạm pháp luật hành chính cũng phải chịu trách
nhiệm như mọi cá nhân, tổ chức khác.
Việc truy cứu trách nhiệm hành chính được tiến hành theo thủ tục hành
chính và do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành
3.1.4. Trách nhiệm kỷ luật của cán bộ công chức
3.1.4.1. Khái niệm
Trách nhiệm kỷ luật của cán bộ công chức là loại trách nhiệm pháp lý

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status