VIỆN HÀN LẦM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
___________________
HUỲNH QUỐC VIỆT
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
___________________
HUỲNH QUỐC VIỆT
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
Người hướng dẫn khoa học:
TS. TRẦN VĂN DUY
HÀ NỘI - NĂM 2020
Bên cạnh đó, vẫn những tồn tại hạn chế như: Một số mục tiêu trong Kế
hoạch CCHC năm 2019 chưa bám sát vào tình hình thực tế của địa phương; việc
niêm yết công khai TTHC chưa đảm bảo theo quy định; tỷ lệ sử dụng hệ thống thư
điện tử và trao đổi văn bản dưới dạng điện tử và ký số trên văn bản điện tử cịn
thấp. Do đó, học viên chọn đề tài “Cải cách hành chính từ thực tiễn huyện Phù Mỹ,
tỉnh Bình Định” làm luận văn thạc sĩ luật học đáp ứng được cả hai tiêu chí: Lý
luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về hành chính nhà nước do Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, năm 2013 do PGS.TS: Nguyễn Hữu Hải chủ biên. Sách gồm 8
chương, tập trung cung cấp những kiến thức cơ bản của khoa học hành chính nói
chung và hành chính nhà nước nói riêng: Trình bày sự hình thành và phát triển của
hành chính học, đối tượng, nội dung và phương pháp tiếp cận nghiên cứu hành
chính học các khái niệm cơ bản, đặc điểm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
hành chính nhà nước, các lý thuyết, mơ hình hành chính nhà nước, kiểm sốt bên
ngồi và kiểm sốt nội bộ đối với hành chính nhà nước, giải pháp nâng cao hiệu
quả, hiệu lực hành chính nhà nước.
- Kỹ năng quản lý hành chính do Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2014
của TS. Phạm Đức Chính và PGS.TS. Ngô Thành Can; Cuốn sách đã cho thấy
những kiến thức cơ bản về một số kỹ năng trong quản lý hành chính như tư duy,
phân tích, giao tiếp, quản lý thời gian làm việc… giúp nhà quản lý nắm bắt được
những kỹ năng cơ bản trong quản lý hành chính từ đó hồn thiện chức năng và
nhiệm vụ được giao, đạt kết quả cao trong quản lý.
- Một số cơng trình đã nghiên cứu như Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính
cơng của Nguyễn Thị Thanh về Cải cách hành chính theo cơ chế một cửa tại
UBND huyện thuộc tỉnh Quảng Nam”; Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính cơng
của Đàm Thị Hồng Hạnh về Đánh giá hiệu quả thực hiện hành chính theo cơ chế
một cửa tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Luận văn thạc sĩ quản lý
nhiệm vụ sau:
- Nêu và phân tích các khái niệm cơ bản của cải cách hành chính.
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định pháp luật về cải cách
hành chính theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
3
- Đánh giá thực trạng pháp luật về cải cách hành chính ở Việt Nam và hệ
thống pháp luật có liên quan ở Việt Nam hiện nay.
- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về cải cách hành chính từ thực tiễn
huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định hiện nay từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế trong
các quy định của pháp luật.
- Đưa ra các giải pháp góp phần hồn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu
quả thực hiện về cải cách hành chính từ thực tiễn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn đi sâu nghiên cứu các quan điểm, các quy định của pháp luật về
cải cách hành chính và các quy định pháp luật có liên quan.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Những quy định của pháp luật hiện hành
về cải cách hành chính từ thực tiễn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: 2015 - 2020.
Địa bàn nghiên cứu: huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu
luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác LêNin, đồng thời bám sát các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước về pháp luật về cải cách hành chính.
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH HIỆN NAY
1.1. Khái niệm, nội dung tổng thể chương trình cải cách hành chính, ý nghĩa
cải cách hành chính
1.1.1. Khái niệm cải cách hành chính
Cải cách hành chính (CCHC) là một trong những nội dung chủ yếu của khoa
học hành chính, khơng chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà cịn mang tính thực tiễn
cao. Bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận không tách rời khỏi bộ máy nhà
nước nói riêng và hệ thống chính trị của một quốc gia nói chung, nên nó chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ của các yếu tố chính trị, yếu tố kinh tế - xã hội, cũng như mang
tính đặc trưng khác của mỗi quốc gia như truyền thống văn hóa, lịch sử hình thành
và phát triển… CCHC ở các nước khác nhau nên cũng mang sắc thái riêng, được
tiến hành trên những cấp độ khác nhau, ở nội dung khác nhau.
Ở Việt Nam, CCHC được xác định là một bộ phận quan trọng của công cuộc
đổi mới, là trọng tâm của tiến trình cải cách nhà nước. CCHC là tác động có kế
hoạch lên tồn bộ hoặc một số bộ phận của hệ thống hành chính được xác định bởi
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm cho hoạt động của nó hiệu lực, hiệu quả,
năng suất và chất lượng cao hơn, tạo ra những thay đổi trong các yếu tố cấu thành
của nền hành chính nhằm làm cho các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động
hiệu lực, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội tốt hơn.
Thông qua hoạt động CCHC tạo nên những thay đổi cơ bản trong hệ thống
hành chính nhà nước: Thể chế, cơ cấu tổ chức, nhân sự, tài chính cơng và tiến trình
quản lý nhà nước.
CCHC bao gồm các cải cách về tổ chức, nhân sự, quy trình và cơng vụ cũng
như các biện pháp thích ứng của hành chính cơng nhằm tạo ra các cơ quan hành
chính hiệu quả với nhân dân.
CCHC thay đổi cơ bản, lâu dài, liên tục các hoạt động có ý thức của bộ máy
nhà nước để tạo ra hiệu lực, hiệu quả quản lý và các sản phẩm phục vụ nhân dân
phục vụ của đội ngũ công chức làm việc trong bộ máy đó. Cải cách hành chính là
một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định, được xác định bởi cơ
quan nhà nước có thẩm quyền” [20,tr.103].
7
Trên cơ sở khái niệm cải cách, đã có nhiều khái niệm về cải cách hành chính
được đưa ra như sau: Cải cách hành chính có thể hiểu là một quá trình thay đổi cơ
bản, lâu dài, liên tục bao gồm cơ cấu của quyền lực hành pháp và tất cả các hoạt
động có ý thức của bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộ phận
và các cá nhân vì mục đích chung của cộng đồng và phối hợp các nguồn lực để tạo
ra hiệu lực và hiệu quả quản lý và chất lượng các sản phẩm (dịch vụ hoặc hàng
hoá) phục vụ nhân dân thông qua các phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực.
Chính việc cải cách hành chính làm thay đổi được thiết kế có chủ định của
chủ thể quản lý hành chính nhà nước nhằm hướng tới thực hiện việc cải tiến một
cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước từ việc: Lập
kế hoạch; định thể chế; tổ chức; công tác cán bộ; tài chính; chỉ huy; phối hợp; kiểm
tra; thơng tin; và đánh giá.”
1.1.2. Nội dung tổng thể chương trình cải cách hành chính, ý nghĩa cải cách
hành chính
1.1.2.1. Cải cách thể chế
“Thể chế của nền hành chính được cải cách và hoàn thiện phát huy dân chủ
với thiết lập chế độ công khai, minh bạch và cơ chế kinh tế thị trường.
Thủ tục hành chính trong giải quyết cơng việc giữa cơ quan hành chính nhà
nước với người dân và doanh nghiệp cơng khai, minh bạch.
Cải cách hành chính là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu
quả của bộ máy hành chính nhà nước; qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị,
thúc đẩy sự phát triển kinh tế và dân chủ hóa đời sống xã hội. Nhận thức được cải
cách hành chính là yếu tố tác động thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đóng vai trị
phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa
phương đảm nhận để khắc phục những chống chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm
vụ. Chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặcdoanh nghiệp làm
những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước
trực tiếp thực hiện; ban hành và áp dụng các quy định mới về phân cấp Trung
ương - địa phương, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương, nâng cao thẩm
quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, tăng cường mối liên hệ và
trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân địa phương. Gắn phân cấp công việc
với phân cấp về tài chính, tổ chức và cán bộ. Định rõ những loại việc địa phương
toàn quyền quyết định, những việc trước khi địa phương quyết định phải có ý kiến
9
của Trung ương và những việc phải thực hiện theo quyết định của Trung ương; bố
trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ; điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong
của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; cải cách tổ chức bộ máy
chính quyền địa phương; cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan
hành chính các cấp; thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính.
1.1.2.3. Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức
Tiếp tục đẩy mạnh công tác chỉ đạo điều hành, tăng cường trách nhiệm của
người đứng đầu các cơ quan, đơn vị và địa phương, gắn công tác thi đua, khen
thưởng với cải cách hành chính, thực hiện phê bình, kiểm điểm người đứng đầu và
cán bộ, công chức, viên chức thực hiện khơng tốt cơng tác cải cách hành chính.
Đồng thời, Tỉnh tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về cải cách hành
chính bằng nhiều hình thức và tổ chức triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ về cải
cách hành chính đến tất cả các cơ quan, đơn vị, địa phương và đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh.
Ngoài các giải pháp nhằm tạo sự chuyển biến lớn từ trong nhận thức và hành
động của đội ngũ cán bộ, cơng chức, viên chức thì bài tốn về chất lượng cán bộ,
công chức cấp cơ sở cũng là một vấn đề đáng lo ngại bởi đội ngũ này là người trực
thuật của phần mềm, quy định về tổ chức và quy chế hoạt động, tiêu chuẩn của Bộ
phận Tiếp nhận và Trả kết quả hiện đại nên việc triển khai cho các địa phương
chưa đồng nhất, vẫn cịn nhiều lỗi trong q trình sử dụng và cần tiếp tục hoàn
thiện phần mềm. Năm 2015, Các địa phương sẽ tiếp tục chỉ đạo triển khai thực
hiện một cửa hiện đại đến cấp xã và xây dựng quy định chung về các lĩnh vực thực
hiện một cửa hiện đại, ban hành quy chế tổ chức hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận
và Trả kết quả khi Thủ tướng Chính phủ sửa đổi Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg
về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông đối với các cơ quan hành chính
nhà nước tại địa phương.
1.1.3. Ý nghĩa cải cách hành chính
1.1.3.1. Đối với Nhà nước
Cải cách hành chính nhà nước trong điều kiện hội nhập sâu rộng các mặt của
đời sống quốc tế và xây dựng nhà nước pháp quyền có vai trị quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Cải cách hành chính nhà nước hội
nhập sâu rộng trước hết là hoạt động thực thi quyền hành pháp trong cơ cấu quyền
lực Nhà nước, tức là quyền thực thi pháp luật có tính cưỡng bức đối với xã hội.
11
Thơng qua hoạt động cải cách hành chính nhà nước khi xây dựng nhà nước pháp
quyền các quy phạm pháp luật đi vào đời sống xã hội, điều chỉnh, duy trì trật tự xã
hội theo định hướng của Nhà nước. Bên cạnh đó, bộ máy cải cách hành chính nhà
nước hội nhập sâu rộng các mặt của đời sống quốc tế và xây dựng nhà nước pháp
quyền còn đảm bảo cung cấp các dịch vụ công thiết yếu nhằm phục vụ cho sự phát
triển kinh tế - xã hội. Thiếu chúng, đời sống của người dân không được đảm bảo,
sự phát triển của xã hội khơng được duy trì và do đó có thể làm lung lay địa vị của
giai cấp thống trị. Tầm quan trọng của Cải cách hành chính nhà nước hội nhập sâu
rộng các mặt của đời sống quốc tế và xây dựng nhà nước pháp quyền đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện trên những mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, vai trò này xuất phát từ chức năng chấp hành của Cải cách hành
quan trọng trong công tác cải cách TTHC. Về lợi ích của cơ chế “Một cửa”, “Một
cửa liên thông”:
- Giảm phiền hà cho tổ chức, công dân.
- Chống tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu, nâng cao hiệu quả
quản lí nhà nước.
- Tinh giảm, sắp xếp lại bộ máy cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả và khoa học.
- TTHC đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.
- Cơng khai các TTHC, các loại phí, lệ phí và thời gian giải quyết đối với
từng loại TTHC.
- Bảo đảm giải quyết cơng việc nhanh, chính xác.
Cụ thể áp dụng trong các lĩnh vực: Phê duyệt các dự án đầu tư trong và
ngoài nước; xét duyệt cấp vốn xây dựng cơ bản; cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh; cấp giấy phép xây dựng; giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và quyền sử
dụng đất; giải quyết chính sách xã hội…
.. “CCHC nhằm hồn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách
phù hợp với thời kỳ cơng nghiệp hố, hiện đại hóa đất nước, trước hết là các thể
chế về kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính; tiếp tục đổi mới
quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục tính cục
bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo các văn bản; đề cao trách nhiệm của từng cơ
quan trong quá trình xây dựng thể chế, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân
13
dân để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật; xố bỏ về cơ bản các
TTHC mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân;
hồn thiện các TTHC mới theo hướng cơng khai, đơn giản và thuận tiện cho dân.
Do vậy, việc cải cách TTHC có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, cải thiện quan hệ giữa các cơ quan hành chính Nhà nước với người
dân, doanh nghiệp, bảo đảm tính cơng khai minh bạch trong giải quyết cơng việc
xã hội, của cơ quan cấp dưới, tổ chức và đơn vị cơ sở;
- Để bảo đảm pháp chế trong quản lý nhà nước thì khơng những hoạt động
bảo đảm pháp chế phải trở thành chức năng quan trọng của mọi cơ quan quản lý trong bộ máy nhà nước và ngay trong bộ máy quản lý phải có những cơ quan, tổ
chức chuyên thực hiện chức năng này.
- Để thực hiện nguyên tắc pháp chế, cần quán triệt quan hệ giữa tính pháp
chế và tính hợp lý” [62,tr.23].
Cải cách hành chính ở huyện như Phù Mỹ, tỉnh Bình Định ln hoạt động
theo tôn chỉ tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc pháp chế. Trong cơng tác cải cách hành
chính, việc tn theo pháp luật là tiêu chí hàng đầu tại cấp huyện như Phù Mỹ, tỉnh
Bình Định. Theo nguyên tắc này, việc sắp xếp bộ máy tổ chức luôn dựa trên quy
định của pháp luật và hoạt động trong khuôn phổ, theo trình tự luật định. Những
văn bản áp dụng pháp luật, những quyết định hành chính nhà nước do cấp huyện
như Phù Mỹ, tỉnh Bình Định ban hành khơng được trái với các nguyên tắc Hiến
định cũng như không được trái với các văn bản luật và các văn bản quy phạm pháp
luật hướng dẫn thi hành, không được vượt quá giới hạn quy định của pháp luật.
1.2.2. Nguyên tắc phân định quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý kinh doanh
của doanh nghiệp nhà nước
“Tuy nắm quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, nhà nước không
phải là người trực tiếp kinh doanh. Các cơ quan nhà nước định ra chiến lược, qui
hoạch và định hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý có cơ
sở pháp lý ổn định vững chắc. Các tổ chức kinh doanh có nhiệm vụ chấp hành và
cụ thể hoá chiến lược và kế hoạch kinh tế - xã hội của nhà nước, thực hiện cơ chế
kinh doanh, tiêu chuẩn, định mức của nhà nước, chịu sự kiểm tra, giám sát của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhà nước có chức năng tổ chức và điều chỉnh
nền kinh tế quốc dân bằng những biện pháp vĩ mô: Thông qua các biện pháp kinh
tế, hành chính, tạo khung cho cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất kinh doanh.
15
Các tổ chức kinh doanh trực tiếp thực hiện kinh doanh trong phạm vi vĩ mô, nhằm
quản lý tập trung thống nhất trong cả nước đối với ngành và thoả mãn nhu cầu của
cả nước đối với loại sản phẩm đó. Nhưng quản lý theo ngành mà tách rời yếu tố
lãnh thổ sẽ hàm chứa nguy cơ phá vỡ sự thống nhất của các quan hệ kinh tế trên
lãnh thổ, sử dụng đồng bộ nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, năng lượng tại
chỗ, làm phát triển xu hướng tập trung quan liêu, cục bộ khép kín trong ngành. Sự
kết hợp quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ mang tính chất cần
thiết khách quan cịn bởi vì mỗi đơn vị - đối tượng "bị quản lý" đều nằm trên một
lãnh thổ nhất định và không thể sử dụng những nguồn dự trữ, khơng tính đến tiềm
năng và nhu cầu địa phương” [48,tr.55]. Trong giai đoạn đổi mới vấn đề quản lý
phát triển tổng thể lãnh thổ ngày càng quan trọng: Trong kế hoạch hố cần tính đến
sự phát triển tổng thể về kinh tế - xã hội của lãnh thổ; Trong quản lý ngành, khi
giải quyết những vấn đề quản lý theo ngành bao giờ cũng phải tính đến lợi ích lãnh
thổ và ngược lại. Có sự phối hợp, sự phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các mắt xích
của bộ máy quản lý ở trung ương cũng như ở địa phương trong việc thực hiện các
nhiệm vụ cụ thể và sự phối hợp đó được thể hố bằng pháp luật. Sự phối hợp và
phụ thuộc ấy khác nhau về mức độ, tùy tính chất từng vấn đề, nhằm đảm bảo kết
hợp hợp lý nhu cầu quản lý tập trung với quản lý phát triển tổng thể lãnh thổ (do
cơ quan quản lý thẩm quyền chung ở địa phương thực hiện) và phát huy dân chủ,
quyền chủ động của địa phương.
1.2.4. Nguyên tắc phục vụ
Trong xã hội dân chủ, Nhà nước được hiểu là bộ máy mà nhân dân trao
quyền để phục vụ xã hội. Do đó nó phải phục vụ xã hội và chịu sự giám sát của
nhân dân. Tại Cấp huyện như Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, cơng tác cải cách hành
chính của các đơn vị đều phải hướng đến mục tiêu bảo vệ nền dân chủ và phục vụ
cho nhu cầu, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Một nguyên tắc luôn được quán triệt
đối với cán bộ, cơng chức khi thực hiện nhiệm vụ đó là mặc dù nắm quyền lực Nhà
nước trong tay nhưng cán bộ, công chức phải luôn đặt mục tiêu phục vụ lợi ích của
nhân dân và xã hội, phải xác định công chức là công bộc của nhân dân. Huyện Phù
tính chủ động, tích cực; là địi hỏi của xã hội gắn liền với cơng quyền được thơng
tri. Trong quản lý hành chính cơng cơng khai, minh bạch địi hỏi người dân phải
thơng tri đầy đủ, kịp thời, chính xác về tất cả những gì pháp luật khơng cấm về
quản lý hành chính nhà nước.
1.3. Một số yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về cải cách hành chính
18
1.3.1. Yếu tố xã hội
Môi trường kinh tế, xã hội trước hết phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh
tế, xã hội chung về cơ cấu ngành kinh tế, xã hội, cơ cấu vùng. Tình hình đó có thể
tạo nên tính hấp dẫn về thị trường và sức mua khác nhau đối với các CCHC khác
nhau. Môi trường kinh tế, xã hội cũng bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến sức mua
và cơ cấu chi tiêu của người dân cũng như phân bố thu nhập thực tế bình quân đầu
người theo tầng lớp, vùng miền...Môi trường kinh tế, xã hội thường được đề cặp
đến những yếu tố như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, xã hội, lãi suất, tỷ giá hối đối,
chính sách thuế, tệ nạn xã hội, giao dịch dân sự, hành chính...
Trong q trình phát triển nền kinh tế, xã hội thị trường định hướng XHCN,
khu vực cơng có những thay đổi mạnh mẽ. Ngân sách và các phương tiện đã bắt
đầu được quản lý một cách chặt chẽ hơn và điều này có tác động đáng kể đến đầu
tư, việc làm và chi phí hoạt động. Kết quả là cần phải quan tâm đến hai vấn đề:
một mặt, đó là vấn đề lựa chọn và ưu tiên trong định hướng chính sách cơng và
mặt khác, vấn đề ngân sách chặt chẽ và giới hạn chi tiêu[17,tr.75].
1.3.2. Yếu tố pháp luật và ý thức pháp luật
Thể chế chính trị giữ định hướng, chi phối các hoạt động trong xã hội. Mơi
trường chính trị, pháp luật thuộc nhóm các yếu tố vĩ mơ, nó có tác động mạnh mẽ
và sâu sắc tới hoạt động của tất cả các tổ chức. Sự tác động của mơi trường thể
chế, chính trị tới hoạt đông của các tổ chức phản ánh sự can thiệp của các chủ thể
quản lý vĩ mô tới hoạt động cung cấp CCHC của cơ quan quản lý hành chính.
Xác định cải cách thể chế là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý nhà
kỷ cương hành chính, kiểm tra, giám sát cấp dưới trong việc thực thi nhiệm vụ,
công vụ, nhất là trong việc giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp,
trong đó phải thực hiện nghiêm túc quy định về việc tham gia ý kiến giữa các cơ
quan, đơn vị khi thụ lý giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp, tham
gia đúng thời hạn bằng văn bản theo quy định và phải có chính kiến, quan điểm rõ
ràng đồng ý hay không đồng ý đối với nội dung được hỏi tham gia” [14,tr.42]
20
Tiểu kết Chương 1
Luận văn đã nêu và phân tích các khái niệm cơ bản của cải cách hành chính
và phân tích cơ sở lý luận của quy định pháp luật về cải cách hành chính theo pháp
luật Việt Nam hiện nay. Từ những quan niệm về một nền hành chính tốt đặt trong
điều kiện quản trị Nhà nước pháp quyền thì cần phải ln ln đặt tư duy ln
ln đổi mới, cách cách tổ chức và hoạt động, cơ chế một cách tồn diện. Đó là
q trình diễn ra liên tục, ln ln được thực hiện có tổng kết và đánh giá, rút
kinh nghiệm sửa lại cho phù với tình hình mới nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả
hoạt động của hành chính nhà nước.
Đó là nền hành chính vì dân, coi cơng dân là trung tâm và đề cao chức năng
phục vụ công. Bằng hành động thực tiễn, nền hành chính quan tâm đảm bảo các
quyền và lợi ích của cơng dân, bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm cơng bằng, bình
đẳng, tạo điều kiện cần thiết để mọi thành viên xã hội với những địa vị, điều kiện,
thể chất… khác nhau nhưng có cơ hội như nhau để phát triển; bù đắp cho những
người được hưởng lợi ít nhất; quan tâm giúp đỡ, cung cấp dịch vụ cho nhân dân
vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn và những nhóm đối tượng yếu thế,
có vị thế bất lợi trong nền kinh tế thị trường
21
22
96% số hộ gia đình đạt danh hiệu văn hóa; giáo dục có bước phát triển, chất lượng
dạy và học được nâng lên, số trường đạt chuẩn quốc gia vượt chỉ tiêu Nghị quyết
đề ra; các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời; đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, thu nhập bình
quân đầu người năm 2020 ước đạt 52,35 triệu đồng, tăng hơn 1,7 lần so với năm
2015, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,6%.
Hàng năm, kết nạp đảng viên mới tăng đạt 3,5% so với tổng số đảng viên
đầu nhiệm kỳ. Hệ thống chính trị đã xây dựng được khối đồn kết, thống nhất, tạo
được đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân vì sự phát triển của huyện” [52].
Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đang đặt ra yêu
cầu, xác định nhóm nhiệm vụ trọng tâm khâu đột phá. Trong đó, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp cơ sở
có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Tăng cường cơng tác theo dõi, đánh giá, lấy ý kiến của người dân, tổ chức về kết
quả cải cách hành chính và thực hiện cơng bố Chỉ số hài lòng.
2.2.
Thực trạng khung thể chế về cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Thành tựu
Thứ nhất, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 xác định mục tiêu cải cách hành chính rất rõ
ràng.
Quản lý hành chính cơng mới và quản trị nhà nước tốt đều có bản chất là
hướng tới xây dựng một nền hành chính minh bạch, tinh gọn, năng động và hiệu
quả, nó hướng đến phục vụ cơng dân thay vì cai trị nhân dân như trong mơ hình
hành chính cơng truyền thống. Đây là những xu hướng cải cách hành chính đã xuất