Thực hiện Chính sách cải cách hành chính từ thực tiễn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MINH THUẬN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. VĂN TẤT THU

HÀ NỘI - 2016


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCHC

: Cải cách hành chính

CP

: Chính phủ

CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa


: Nghị quyết


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI
CÁCH HÀNH CHÍNH...............................................................................................7
1.1. Cải cách hành chính và chính sách cải cách hành chính............................................ 7
1.2. Quan điểm của Đảng và chính sách cuả Nhà nước về cải cách hành chính ......... 9
1.3. Khái niệm, ý nghĩa, tầm quan trọng của thực hiện chính sách cải cách hành
chính ............................................................................................................................................... 14
1.4. Nội dung các bước thực hiện chính sách cải cách hành chính ............................... 15
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách cải cách hành chính.................. 26
1.6. Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức thực hiện chính sách cải cách hành chính
.......................................................................................................................................................... 31

1.7. Các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách cải cách hành chính. ................. 33
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH HÀNH
CHÍNH TẠI HUYỆN THỐNG NHẤT..................................................................36
2.1. Đặc điểm, tình hình kinh tế -xã hội của huyện Thống nhất ảnh hưởng đến thực
hiện chính sách cải cách hành chính của huyện ................................................................. 36
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách cải cách hành chính ở huyện thống nhất . ...... 37
2.3. Thực trạng các chủ thể tham gia thực hiện chính sách cải cách hành chính ...... 51
2.4. Kết quả thực hiện chính sách cải cách hành chính của huyện Thống nhất ( kết
quả thực hiện mục tiêu chính sách cải cách hành chính, kết quả thực hiện các giải
pháp chính sách) .......................................................................................................................... 55
2.5. Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách cải cách hành chính của
huyện Thống Nhất ...................................................................................................................... 57
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, việc cải cách hành chính nhà
nước (HCNN) được đặt ra như một đòi hỏi tất yếu khách quan của thực tiễn công
cuộc đổi mới đất nước. Cải cách hành chính nhà nước được Đảng và Nhà nước xác
định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong cải cách hành chính nhà nước,
với mục tiêu là xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, có đủ năng
lực, sử dụng đúng quyền lực không chồng chéo chức năng, từng bước hiện đại hóa
để quản lý có hiệu lực, hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển
lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và
làm việc theo pháp luật.
Mặc dù nền hành chính trong hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước có
chức năng trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, luật pháp và
nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy chính sách và pháp luật đúng
nhưng chưa đủ, cần phải có nền hành chính mạnh, có hiệu lực thì chính sách và luật
pháp mới đi vào cuộc sống. Hơn nữa, trong quá trình tổ chức thực hiện nền hành
chính còn góp phần tích cực vào việc bổ sung, phát triển chính sách, pháp luật. Các
cơ quan hành chính là các cơ quan trực tiếp xử lý công việc hằng ngày của nhà
nước, thường xuyên tiếp xúc với dân giải quyết các yêu cầu của dân, là cầu nối quan
trọng giữa Đảng, Nhà nước với dân, nhân dân đánh giá chế độ, đánh giá Đảng trước
hết là thông qua hoạt động của bộ máy hành chính. Cải cách hành chính ngoài yêu
cầu của đổi mới phát triển đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng nền
kinh tế thị trường mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, cải cách hành chính còn do yêu
cầu bức xúc của người dân: không muốn bị phiền hà, sách nhiễu; được pháp luật
bảo vệ v.v. Nền hành chính có trách nhiệm chính trong việc đáp ứng yêu cầu đó.
Không phải ngẫu nhiên Trung ương Đảng đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ của cải cách
hành chính, xây dựng nền hành chính dân chủ phục vụ đắc lực nhân dân; mà cải
cách hành chính là để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với

cách hành chính càng trở nên quan trọng và cấp thiết đặt ra hiện nay khi cải cách
hành chính được Đảng ta xác định là một trong ba khâu đột phá chiến lược để thực
hiện thành công nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, giai đoạn 2011-2020 của đất
nước.
Từ lý do phân tích nêu trên, tôi chọn đề tài “ Thực hiện Chính sách cải cách
hành chính từ thực tiễn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp cao học chuyên ngành Chính sách công.
2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những vấn đề liên quan đến CCHC và thực hiện chính sách cải cách hành
chính Trong những năm qua vẫn luôn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả với
nhiều bài viết trên các tạp chí, các báo, nhiều luận văn, đề tài khoa học và các
công trình nghiên cứu dưới dạng tài liệu tham khảo, Có thể liệt kê một số công
trình nghiên cứu lĩnh vực CCHC như:
- Cải cách cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ quá độ. Mã số: 89-98-012, do Giáo sư Đoàn
Trọng Truyến làm chủ nhiệm.
- Cải cách hành chính phục vụ dân. Mã số 94-98-069, do PGS.TS. Nguyễn
Văn Thâm làm chủ nhiệm.
- Vấn đề con người trong cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện
nay. TS Hà Quang Trường.
- Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lý nhà nước, mã số 5.07.05 về cải
cách thủ tục hành chính nhà nước từ thực tiễn tại các Quận, huyện và thành phố Hồ
Chí Minh, của tác giả Nguyễn Quang Vinh.
- Các bài báo của nhiều tác giả trên báo chí, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Quản
lý nhà nước, Tổ chức nhà nước, Nhà nước và pháp luật, các bài luận, tiểu luận về
cải cách hành chính và thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa
liên thông hiện đại…VV.

Phạm vi không gian: Tại địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu kết quả thực hiện chính
sách cải cách hành chính trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách qua tiếp cận đa
ngành, liên ngành khoa học xã hội và phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó
là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định
đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể
chính sách. Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách
công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: Phỏng vấn sâu một số cán bộ, công chức hoặc người
dân về vấn đề thực hiện và giám sát thực hiện chính sách công. Đây chỉ là phương

4


pháp mang tính tham khảo nhằm cung cấp thêm luận chứng cho các vấn đề được
nghiên cứu.
Phương pháp định lượng: Do tính chất là đề tài nghiên cứu thiên về nghiên
cứu lý thuyết nên Luận văn không áp dụng phương pháp định lượng dưới hình thức
lập bảng hỏi phỏng vấn trực tiếp, mà chủ yếu thông qua việc thống kê, thu thập dữ
liệu để cung cấp các luận cứ để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp so sánh: So sánh về việc thực hiện việc giám sát thực hiện
chính sách cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay với những giai đoạn trước.
Dựa vào việc so sánh này Luận văn sẽ cung cấp cái nhìn toàn thể hơn để đánh giá
xác đáng hơn về vấn đề thực hiện chính sách công ở nước ta trong giai đoạn hiện
nay.
Phương pháp phân tích thông tin: dựa vào việc nghiên cứu tìm hiểu các

tỉnh Đồng Nai về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách cải cách
hành chính của nước ta. Đồng thời các kết luận, giải pháp đề xuất rút ra được từ
việc nghiên cứu đề tài luận văn góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
cải cách hành chính ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
Đề tài nêu ra được những hạn chế, nguyên nhân và từ đó đưa ra những giải
pháp phù hợp với thực tiễn ở huyện Thống Nhất, mang lại hiệu quả thiết thực, giúp
các cơ quan Đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội cùng toàn thể cán bộ,
công chức và nhân dân dễ tiếp cận các chính sách cải cách hành chính và tham gia
cùng với Nhà nước để đưa các chính sách cải cách hành chính vào thực tiễn cuộc
sống và ngày càng đem lại hiệu quả cao, nhằm đạt được mục tiêu củng cố hệ thống
chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và vì lợi ích của người dân, doanh
nghiệp mà phục vụ do cấp ủy Đảng, chính quyền đã đề ra, góp phần vào sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và hoàn thành chỉ tiêu chung về đẩy mạnh
thực hiện cải cách hành chính của huyện Thống Nhất.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết
cấu nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách cải cách hành chính
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách cải cách hành chính từ thực tiễn
huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
cải cách hành chính ở nước ta.

6


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1.1. Cải cách hành chính và chính sách cải cách hành chính.

so với trước, chất lượng các thể chế nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống
hơn, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước sau khi tiến hành cải cách hành
chính đạt hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của một
quốc gia.
Cải cách hành chính tùy theo điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn của lịch
sử, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, có thể đặt ra những trọng
tâm trọng điểm khác nhau hướng tới hoàn thiện một hoặc một số nội dung của nền
hành chính, đó là tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ công chức, thể chế pháp lý, hoặc
tài chính công v.v
Với những nội dung trên có thể đưa ra khái niệm cở bản của cải cách hành
chính như sau: Cải cách hành chính nhà nước là tạo ra những thay đổi trong các
yếu tố cấu thành của nền hành chính nhằm cho các cơ quan hành chính nhà nước
hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội tốt hơn. Nói
một cách khác: “ cải cách hành chính nhà nước là quá trình đổi mới nhận thức đầy
đủ về đặc điểm, tính chất, vai trò và nhiệm vụ của nền hành chính để xây dựng,
hoàn thiện thể chế, hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước, nâng cao trình độ,
năng lực, phẩm chất, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, sử dụng có hiệu quả
tài chính công, hiện đại hóa nền hành chính, phục vụ đắc lực người dân, đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước.
Từ khái niệm chính sách công chính thức ở Việt Nam và cách tiếp cận về cải
cách hành chính nhà nước, chúng ta có thể hiểu nội hàm cơ bản khái niệm về chính
sách cải cách hành chính ở Việt Nam như sau: “Chính sách cải cách hành chính là
thái độ, quan điểm, tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước về cải cách
hành chính, với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm xây dựng một nền hành
chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả, theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự
lãnh đạo của Đảng xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu
cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước”.


thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh
giản, gọn nhẹ và họat động có chất lượng cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu
khoa học, kỹ thuật, quản lý. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 do
9


Đại hội VII thông qua đã khẳng định bước tiến về lý luận, nhận thức về nền hành
chính nhà nước. Cương lĩnh đã nêu: về Nhà nước “phải có đủ quyền lực và có đủ
khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp
luật. Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các
cơ quan luật pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của nhà nước”.
Chiến lược cũng nêu trọng tâm cải cách “nhằm vào hệ thống hành chính với nội
dung chính là xây dựng một hệ thống hành pháp và quản lý hành chính nhà nước
thông suốt từ trung ương xuống cơ sở, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu lực”.
Sau Đại hội VII, từ 1992 đến 1995 là giai đoạn phát triển mạnh tư duy, quan
niệm, nhận thức của Đảng về nền hành chính nhà nước và về cải cách hành chính.
Hội nghị Trung ương 8 khoá VII (1/1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây
dựng và phát triển nền hành chính nhà nước. Cải cách một bước nền hành chính nhà
nước được xác định là yêu cầu bức xúc và là trọng tâm của việc xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước, với mục tiêu xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng
lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và
hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng
hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo
pháp luật trong xã hội. Lần đầu tiên 3 nội dung chủ yếu của cải cách hành chính nhà
nước được trình bày một cách hệ thống trong Nghị quyết Trung ương 8, đó là cải
cách thể chế của nền hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy cùng quy chế hoạt
động của hệ thống hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính.
Có thể nói Nghị quyết là tiền đề quan trọng xây dựng và thực hiện thể chế mới về
công chức, công vụ của Việt Nam. Nghị quyết xác định: “Xây dựng và từng bước

các biện pháp cụ thể ở từng giai đoạn phát triển của đất nước để cải cách, đổi mới
nền hành chính nhà nước phù hợp với yêu cầu của quá trình phát triển.
Ngoài ra quan điểm của Đảng về cải cách hành chính còn xác định rõ trong
các Nghị quyết Hội nghị TW8 khóa VII, Hội nghị TW3, TW7 khóa VIII, Hôi nghị
TW5 khóa X. Cụ thể, Nghị quyết hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành trung ương
khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của
bộ máy nhà nước đã đề ra các quan điểm:
- Cải cách hành chính phải được tiến hành trên cơ sở các Nghị quyết và
nguyên tắc của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo
và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng.
- Tiếp tục hoàn thiện các chức năng, nhiệm vụ và quy chế phối hợp để nâng
cao vai trò, trách nhiệm của từng cơ quan và bộ máy nhà nước, thực hiện phân
11


công, phân cấp rõ ràng, đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ tốt nhất cho người
dân và chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân.
- Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải đáp ứng yêu cầu xây
dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, cải cách hành chính phải tiến hành đồng bộ, vững chắc, có
trọng tâm, trọng điểm phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể và bảo đảm sự phát triển
ổn định, bền vững của đất nước
1.2.2 Nhà nước ban hành chính sách thực hiện cải cách hành chính
Triển khai thực hiện các quan điểm của Đảng về cải cách hành chính, nhà
nước đã triển khai thực hiện bằng việc ban hành chính sách cải cách hành chính
được xác định cụ thể trong “Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước
giai đoạn 2001-2010 và chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 20112020”, chính sách của nhà nước về cải cách hành chính bao gồm các chính sách cụ
thể như:
a) Chính sách xây dựng và hoàn thiện các thể chế.
Trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế

Quyết định số 08/2004/QĐ-TTg ngày 15/01/2004 của Thủ tướng Chính phủ.
đ) Chính sách hiện đại hóa nền hành chính.
Chính sách hiện đại hóa nền hành chính được xác định cụ thể trong đề án “
Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2015” ban hành kèm theo
Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ và
trong “ Đề án đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hóa công sở của hệ thống
hành chính nhà nước giai đoạn I (2003-2005) ban hành kèm theo Quyết định số
169/2003/QĐ-TTg ngày 12/8/2003 của Thủ Tướng Chính phủ.
e) Chính sách rà soát, kiểm soát các thủ tục hành chính.
Để cải cách thủ tục hành chính trong xử lý giải quyết các yêu cầu công việc
của người dân và doanh nghiệp, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2010/NĐCP về kiểm soát thủ tục hành chính, Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013
sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục
hành chính. Trên cơ sở các quy định trong các Nghị định của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành các quyết định phê duyệt các đề án, dự án rà soát thủ tục
hành chính, trong các đề án, dự án đó, chính sách rà soát, kiểm soát được xác định
rõ.
Như vậy chính sách của nhà nước về cải cách hành chính khá đầy đủ và cụ
thể tất cả các chính sách, các giải pháp chính sách cải cách hành chính đều nhằm
13


mục đích xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước
hiện đại; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực; hệ
thống các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả cao, phù
hợp với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế, đáp ứng các yêu cầu phát
triển nhanh và bền vững của đất nước.
1.3. Khái niệm, ý nghĩa, tầm quan trọng của thực hiện chính sách cải
cách hành chính
Khái niệm: Thực hiện Chính sách cải cách hành chính là khâu hợp thành

hiện chính sách cải cách hành chính là trung tâm kết nối các bước trong chu trình
chính sách cải cách hành chính. Xây dựng được chính sách cải cách hành chính
đúng và có chất lượng là rất quan trọng nhưng thực hiện đúng, thực hiện có hiệu
quả chính sách cải cách hành chính còn quan trọng hơn. Nếu hính sách cải cách
hành chính không đưa vào triển khai thực hiện thì nó sẻ trở nên vô nghĩa, thậm chí
nếu triển khai thực hiện không tốt dể dẫn đến sự bất bình và giảm lòng tin của nhân
dân đối với nhà nước. Thông qua việc thực hiện chính sách cải cách hành chính biết
được chính sách cải cách hành chính có phù hợp hay không phù hợp, vào cuộc sống
hay không vào cuộc sống, phát hiện ra những hạn chế, bất cập của chính sách để có
cơ sở đề xuất các giải pháp duy trì, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chính sách. Cụ
thể qua qua thực hiện các chính sách trong Chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và sau khi tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện
các chính sách cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010, các cơ quan có thẩm
quyền tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh, bổ sung, hoàn
thiện và ban hành các chính sách mới trong chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2011-2020. Thực hiện chính sách cải cách hành chính
nhằm mục đích tinh gọn bộ máy, tinh gọn biên chế, đụng chạm đến quyền và lợi ích
của các tổ chức và các cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy. Đây là công việc
nhạy cảm hết sức khó khăn, chịu sự tác động của hàng loạt các yếu tố thúc đẩy có,
cản trở có. Do đó, cần phải đặc biệt quan tâm đến công tác tổ chức thực hiện chính
sách cải cách hành chính, đề xuất các giải pháp hữu hiệu để thực hiện có hiệu quả
các chính sách cải cách hành chính.
1.4. Nội dung các bƣớc thực hiện chính sách cải cách hành chính
1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách cải cách hành
chính

15


Như chúng ta đã biết, ở nước ta, Đảng vạch ra Cương lĩnh, Chiến lược, các

16


thời gian quá ngắn việc thực hiện chính sách cải cách hành chính sẽ không hiệu quả
hoặc nếu hiệu quả có cũng sẽ không đạt được các mục tiêu cũng như các tiêu chí
của chính sách cải cách hành chính, nếu thời gian quá dài thì sẽ dẫn đến việc ỷ lại
và kéo dài sự trì trệ trong việc tổ chức thực hiện chính sách cải cách hành chính.
- Xây dựng Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách cải cách
hành chính, trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ đòi hỏi phải có cơ quan,
đơn vị giám sát, kiểm tra kịp thời đôn đốc các đối tượng hoặc các chủ thể tham gia
thực hiện chính sách cải cách hành chính hoặc kịp thời xử lý, kiến nghị xử lý nếu để
xảy ra sai phạm trong thực thi chính sách, đảm bảo kịp thời tiến độ và sự hiệu quả
của chính sách cải cách hành chính mang lại.
- Xây dựng các quy chế, các nội quy trong tổ chức điều hành chính sách cải
cách hành chính, từ đó sẽ nâng cao được trách nhiệm của các chủ thể tham gia thực
hiện chính sách cải cách hành chính nếu được giao, họ sẽ tuân thủ đúng quy định,
quy chế do tổ chức đặt ra, đồng thời phấn đấu trong hoạt động thực hiện chính sách
để có thể đạt được kết quả tốt nhất. Có thể qua công tác sơ kết, tổng kết việc thực
hiện chính sách, đề cử và tổ chức khen thưởng cho cá chủ thể tham gia thực hiện để
khích lệ, động viên tinh trần trong triển khai thực hiện nhiệm vụ
1.4.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách cải cách hành chính
Trong các bước tổ chức thực hiện chính sách cải cách hành chính, phổ biến,
tuyên truyền chính sách có ý nghĩa rất quan trọng. Việc tổ chức tuyên truyền, phổ
biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính và
chính sách cải cách hành chính là nhiệm vụ có tính chất tất yếu, cần thiết để đưa
chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính đi vào thực tiễn đời sống
của Nhân dân nhằm nâng cao nhận thức toàn xã hội về ý nghĩa, tầm quan trọng,
mục tiêu và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác cải cách hành
chính. Từ đó đề cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức và người dân
về cải cách hành chính. Bên cạnh đó, thông qua tuyên truyền để người dân nhận

ngành, cơ quan: Bộ Tư pháp; Bộ Tài chính; Văn phòng Chính phủ; Bộ Quốc phòng;
Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Khoa học và Công nghệ;
Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Y tế; Bộ Công
Thương; Bộ Xây dựng; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Thanh tra Chính phủ; Ủy
ban dân tộc; Đài Truyền hình Việt Nam; Đài Tiếng nói Việt Nam; Thông tấn xã

18


Việt Nam; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh; Bộ Nội vụ.
Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ là tổ chức phối hợp liên
ngành, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo các bộ, ngành,
địa phương triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính theo chương trình, kế
hoạch cải cách hành chính của Chính phủ. Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo là nghiên
cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách và giải pháp quan trọng để đẩy mạnh công
tác cải cách hành chính của Chính phủ; cho ý kiến về chương trình, kế hoạch cải
cách hành chính dài hạn và hàng năm do Bộ Nội vụ trình Chính phủ.
Ban Chỉ đạo giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp giữa các bộ, ngành
và địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ của chính sách cải cách hành
chính; xem xét nội dung các đề án, dự án quan trọng về cải cách hành chính của
Chính phủ, các dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định và các văn
bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ có nội dung chủ yếu liên quan đến cải cách
hành chính trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Đồng thời, Ban Chỉ đạo giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện
chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của Chính phủ; các nghị định, nghị
quyết của Chính phủ, quyết định và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
liên quan đến công tác cải cách hành chính; giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc

các chính sách liên quan đến chính sách cải cách hành chính.
1.4.4. Duy trì chính sách cải cách hành chính
Duy trì chính sách cải cách hành chính là hoạt động cần thiết trong tổ chức
thực hiện chính sách, hoạt động này nhằm bảo đảm cho chính sách cải cách hành
chính tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế. Trong tổ chức
thực hiện chính sách cải cách hành chính nếu gặp các khó khăn do môi trường biến
động các cơ quan nhà nước, các chủ thể tham gia tổ chức thực hiện chính sách cần
sử dụng các công cụ quản lý tác động tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện
chính sách.
Hệ thống hành chính nhà nước luôn trong quá trình động và phát triển, vừa
bảo đảm sự quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, vừa tìm cách thức
ứng với những thay đổi của xã hội, của nền kinh tế. Đến một lúc nào đó, các yếu tố
của nền hành chính nếu không có những thay đổi, cải cách sẽ trở thành lực cản, làm
cho hiệu lực, hiệu quả nền hành chính nhà nước kém đi, đó là lúc nền hành chính
cần phải được cải cách một cách tổng thể hoặc cải cách một số yếu tố đang bất cập.
Chính vì vậy việc duy trì thực hiện chính sách cải cách hành chính góp phần quan
20


trọng trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh thực hiện cải cách
hành chính góp phần vào sự phát triển xã hội, đặc biệt là yêu cầu của phát triển kinh
tế, phục vụ hiệu quả hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển kinh tế, vốn đầu tư tăng nhanh,
hiệu quả đầu tư lớn thì nguồn lực cho giải quyết các vấn đề của nhà nước và xã hội
sẽ tăng lên. Khi chính sách cải cách hành chính được triển khai thực hiện rộng rãi
và đồng bộ từ trung ương đến địa phương, Chính phủ tăng cường các nguồn lực
ngày càng lớn để đẩy mạnh và duy trì hướng hiệu quả của công cuộc cải cách. Do
đó, việc cân đối, huy động nguồn lực để đáp ứng yêu cầu cũng trở nên khó khăn
hơn. Cải cách ở đây là phải cải cách nhiều ngành, nhiều lĩnh vực đòi hỏi các cấp,
các ngành đều phải tập trung tham gia đồng bộ từ trên xuống theo sự chỉ đạo của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status