BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
THANANH KHOTPATHOOM
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG, PHÂN BỐ VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP BẢO TỒN LỒI NAI CÀ TƠNG
(Rucervus eldii M’Clelland, 1842)
TẠI CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Ngành: Quản lý tài nguyên rừng
Mã số: 9620211
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP
Hà Nội - 2020
Luận án được hoàn thành tại:
Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Vũ Tiến Thịnh – Trường Đại học Lâm nghiệp
Phản biện 1: ………………………………………………
Phản biện 2: ………………………………………………
Phản biện 3: ………………………………………………
Luận án đã được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Trường:
for Khotpat
Eld’s
the hoom, T
Septhem
deer and Thinh
ber,
deer
Xonnabouly
1
of density
in
Eld’s
sanctuary, Lao PDR.
T. Vu
2020
Kích thước và cấu trúc đàn
nghiệp và
triển nơng
Thịnh
Đặc điểm phân bố của Nai cà
Tạp chí khoa học
tông Nai cà tộng (Rucervus Thananh
eldii) tại Khu bảo tồn Nai cà Khotpat
3
tơng Xonnabouly, Cộng hịa hoom và
Vũ Tiến
Dân chủ Nhân dân Lào
Thịnh
Kỳ 2,
và công nghệ, Bộ
tháng 8, số Nông nghiệp và
16 năm Phát triển nông
2020
thôn
1
MỞ ĐẦU
người dân địa phương và số liệu ban đầu của tác giả, môi trường
2
sống của chúng đang bị tác động, tàn phá và lấn chiếm bởi người dân sống xung
quanh KBTX. Quan trọng hơn, công tác quản lý bảo vệ KBTX đang gặp nhiều khó
khăn do thiếu thơng tin khoa học cần thiết liên quan đến đặc điểm quần thể và đặc
điểm sử dụng sinh cảnh (Vongkhamheng and Phirasack 2002, Stenhouse et al.
2005, Xayalath 2016, Trisurat and Bhumpakphan 2018). Do đó, việc thực hiện luận
án “Nghiên cứu hiện trạng, phân bố và đề xuất giải pháp bảo tồn Nai cà tông
(Rucervus eldii M’Clelland, 1842) tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” là rất
quan trọng và cần thiết. Luận án sẽ cung cấp các thông tin cập nhập mới về hiện
trạng quần thể, đặc điểm sinh cảnh và sử dụng sinh cảnh của Nai cà tông. Kết quả
của luận án sẽ là cơ sở đề xuất giải pháp hợp lý và hiệu quả nhằm quản lý, bảo tồn
bền vững loài thú quý hiếm và sinh cảnh của chúng tại KBTX.
2. Mục tiêu của luận án
2.1 Mục tiêu chung
Cung cấp dữ liệu về hiện trạng, phân bố và một số đặc điểm sinh học, sinh thái
của quần thể Nai cà tông (Rucervus eldii) tại KBTX, góp phần phục vụ cơng tác
quản lý và bảo tồn.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được hiện trạng và đặc điểm phân bố của quần thể Nai cà tông tại
KBTX.
- Xác định được một số đặc điểm sinh học, sinh thái của quần thể Nai cà tông tại
KBTX.
- Đề xuất được các biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo
tồn loài Nai cà tơng tại KBTX.
3. Đóng góp mới của luận án
Luận án đã cung cấp các thông tin khoa học liên quan đến đặc điểm và kích
thước quần thể, cấu trúc và kích thước đàn và sinh cảnh sống của Nai cà tông tại
eldii) đã được chia thành 3 phân lồi: 1). R.e. siamensis 2). R.e. thamin và 3). R.e.
eldii. Nai cà tơng (Rucervus eldii) là lồibản địa của khu vực Đơng Nam Á. Nai
cà tơng phân lồi R.e. eldii phân bố tại khu rừng đầm lầy thuộc Vườn quốc gia
Keibul Lamjao, bang Manipur, Đông Bắc Ấn Độ (Singsit 2003). Nai cà tơng phân
lồi R.e. thamin, trước đây phân bố tại miền trung của Myanmar và miền bắc Thái
Lan (Salter and Sayer 1986). Cịn phân lồi R.e. siamensis trong q khứ phân bố ở
một số nước Đông nam Á như Thái Lan, CHDCND Lào, Campuchia, Việt Nam và
bán đảo Hải Nam của Trung Quốc (Bhumpakphan et al. 2004, Đặng Huy Huỳnh et
al. 2010, Angom and Hussain 2013, Singh et al. 2017).
1.1.2. Vùng phân bố tại CHDCND Lào
Nai cà tơng phân lồi R.e. siamensis là phân loài duy nhất của CHDCND
Lào. Khu phân bố quan trọng nhất của chúng là ở KBTX, có diện tích khoảng
93.338 ha (Stenhouse et al. 2005, Xayalath 2016). Ngồi ra, một số khu vực khả
năng có phân bố của Nai cà tông tại CHDCND Lào là khu rừng bảo vệ cấp Quốc
4
gia Xe Pian và khu rừng bảo vệ cấp tỉnh Dongkhanthung, tỉnh Champasak (Round
1998). Tuy nhiên, theo thông tin mới nhất năm 2015, trong 2 khu tại tỉnh
Champasak, Nai cà tơng chỉ cịn được phát hiện tại khu bảo vệ cấp tỉnh
Dongkhanthung và quần thể này theo dự đốn cịn có khoảng
5-10 cá thể (Trisurat 2015). Ngược lại, Bhumpakphan (2015) không phát hiện được
cá thể nào trong đợt điều tra của mình.
1.1.3. Đặc điểm hình thái
Nai cà tơng thường có chiều cao thân khoảng 1,2-1,3 m và có trọng lượng trung
bình khoảng 60-90 kg, nhưng cá thể đực có thể nặng tới 95-150 kg (Lekagul and
McNeely, 1988, Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998). Cá thể đực có một đơi
sừng, cịn cá thể cái khơng có. Chúng có bộ lơng mềm, màu hung đỏ hoặc vàng và
thay đổi theo mùa. Trong 3 phân lồi, R.e. thamin có kích thước lớn nhất (Kekagul
and McNeely, 1988) và nhỏ nhất là phân loài R.e. eldii của Ấn Độ (Khaute 2010).
tính số lượng theo khoảng cách. Phương pháp này được áp dụng rộng rãi để ướng
tính mật độ và mức độ phong phú của quần thể sinh vật (Thomas et al. 2002). Mới
nhất, các cơng trình nghiên cứu liên quan đến mặt độ và kích thước quần thể của
một số động vật hoang dã thuộc họ Hươu nai (Marques et al. 2001, Coates et al.
2007, Larue et al. 2007, Acevedo et al.
2008, Stainbrook 2013, Torres et al. 2013, Forcardi et al. 2015).
1.2.2. Các cơng trình nghiên cứu về sinh cảnh và sử dụng sinh cảnh liên
quan đến thú thuộc họ Hươu ani
Các công trình nghiên cứu về sinh cảnh và sử dụng sinh cảnh chủ yếu liên quan
các loài thú trong họ Hươu nai có thể kể đến là Lopez et al. (2004), Gaughan
(2005), Sawyer et al. (2006), Qureshi et al. (2013), Uzal et al. (2013), Masse et al.
(2013), Barrera-Salazar et al. (2015), Kropil et al. (2015), Syed and Ilyas (2016),
Aryal and Bhatta (2019). Tuy nhiên, có rất ít cơng trình nghiên cứu cho riêng
lồi Nai cà tơng (Stengouse et al. 2005, Owen 2009).
1.2.3. Các cơng trình nghiên cứu liên quan đến Nai cà tơng tại CHDCND Lào
Các cơng trình nghiên cứu liên quan đến lồi Nai cà tơng tại CHDCND Lào
cũng như tại KBTX là rất hạn chế. Tại KBTX có một số nghiên cứu quan trọng
như: Vongkhamheng and Phirasack (2002) điều tra về tình trạng quần thể Nai cà
tơng, Stenhouse et al. (2005) điều tra về sinh cảnh sống cở bản, Xayalath (2016)
điều tra sinh cảnh và sử dung sinh cảnh và Phiapalath et al. (2018a và 2018b) điều
đa dạng sinh học và tiềm năng du lịch sinh thái tại KBTX. Cịn tại tỉnh
Champasack, có rất ít cơng trình nghiên cứu về Nai cà tông. Trisurat (2018) tiến
hành nghiên cứu và mơ hình hóa vùng phân bố của Nai cà tơng trong tương lai ở
khu vực biên giới 3 Quốc gia CHDCND Lào, Campuchia và Thái Lan.
Tóm lại, các cơng trình nghiên cứu về lồi Nai cà tơng tại CHDCND Lào vấn
cịn rất hạn chế. Các cơng trình đã được thực hiện mới chỉ tập trung về sinh cảnh
sống của chúng. Các thơng tin về cấu trúc quần thể vẫn cịn thiếu. Các nghiên cứu
về kích thước quần thể mới chủ yếu dựa trên kết quả phỏng vấn người dân. Do vậy,
các thơng tin chính xác và cập nhật về đặc điểm quần thể Nai cà tông ở CHDCND
Lào là rất cần thiết nhằm phục vụ hoạt động quy
- Thu thập số liệu trên tuyến: Số liệu quan trọng được thu thập trên tuyến điều tra
gồm có số liệu về Nai cà tơng (số lượng cá thể, giới tính, nhóm tuổi), khoảng cách
tới các đàn Nai cà tông và số liệu về các mối đe dọa.
2.2.4. Thu thập số liệu tại các điểm quan trọng
Ngồi hình thức điều tra trên tuyến, một số điểm quan trọng như điểm khoáng,
bãi cỏ, nguồn nước và đồng ruộng cũng được điều tra để thu thập số liệu về sự xuất
hiện của Nai cà tông.
7
2.2.5. Phương pháp thu thập số liệu về thực vật
Áp dụng phương pháp lập 10 OTC cho mỗi dạng sinh cảnh với đối tượng là
rừng thường xanh, rừng bán thường xanh, trảng cỏ, rừng khộp, đất nông nghiệp
bằng phương pháp chọn mẫu nhiên phân tầng (Khotpathoom 2011).
2.2.6. Phương pháp phân tích số liệu
- Phân tích một số đặc điểm cấu trúc quần thể: Nai cà tơng được chia thành
3 nhóm tuổi (trưởng thành, bán trưởng thành và con non (theo Li et al.
2008, Phạm Hữu Khánh 2010, Focardi et al. 2013).
- Ước lượng mật độ và kích thước quần thể của Nai cà tông: Ứng dụng phần
mềm DISTANCE (Thomas et al. 2010).
- Xác định đặc điểm phân bố: Ứng dụng phần mềm ArGIS Destop 10.1 (ESRI,
Redlands, California, USA) và công cụ Spatial Analysis/kernel Density (theo
Mohammadi and Kaboli 2016).
- Nhận loài và phân tích thảm thực vật: Ấp dụng phương pháp phân tích chỉ số
quan trọng (IVI) (theo Mueller-Dombois and Ellengerg 1974)
- Xác định mối đe dọa: Tổng hợp và phân tích theo chỉ số tần suất phát hiện
của mỗi đe dọa (theo Puwinsaksakul 2013).
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tình trạng và phân bố của lồi Nai cà tơng tại CHDCND Lào
quanh bản Sa Nam Xay tây và Sa Nam Xay đông (cách hơn 2 km).
Tại khu điều tra phía nam, như khu gần bản Song Hong, xung quanh trạm
kiểm lâm Song Hong, Nai cà tơng phân bố với mức độ ít đến trung bình. Đặc biệt,
kết quả nghiên cứu đã cho thấy, Nai cà tông phân bố rất gần bản Song Hong và Sa
Nam Xay bởi vì người dân của 2 bản đều khơng có hành động đe dọa chúng. Hơn
nữa, người dân cả 2 bản đã được tuyên truyền để nâng cao ý thức quản lý, bảo tồn.
Người dân hai bản này hợp tác với dự án để bảo vệ Nai cà tông từ khi mới bắt đầu
thành lập KBTX (Xayalath 2016).
Kết quả nghiên cứu này tương đồng với kết quả nghiên cứu trước đây của
Xayalath (2016) khi xác định Nai cà tông phân bố chủ yếu tại PKBVNN của
KBTX trong cả mùa mưa và mùa khô. PKBVNN là nơi tập trung các yếu tố sinh
thái quan trọng cho Nai cà tơng như nguồn đất khống, bãi cỏ và nguồn nước, trong
khi ít chịu tác động của người dân địa phương. Tại khu điều tra ở KBTX, Nai cà
tông không được phát hiện ở dạng sinh cảnh rừng thường xanh. Kết quả nghiên
cứu này cũng tương tự với kết quả nghiên cứu trước đây (Xayalath 2016) và tương
tự với Nai cà tơng phân lồi R.e. thamin tại Myanmar (Monfort et al. 2015).
9
Cụm bản Sa Nam Xay
Bản Song Hong
Hình 3.1: Mức độ phân bố của Nai cà tông tại hai khu điều tra phía bắc
và phía nam
3.1.2.2. Đặc điểm di chuyển của Nai cà tông
Tại khu khu điều tra ở KBTX, Nai cà tông di chuyển và thay đổi vùng sống
giữa mùa khô và mùa mưa do sự thay đổi của nguồn thức ăn và nguồn nước. Trong
mùa mưa, hầu như tất cả các sinh cảnh đều xanh tươi, được phủ kín bởi các loài cây tái
sinh, cây bụi và cỏ. Trong khi đó, Lúa phát triển mạnh ở các khu đất nông nghiệp, thu
2). ở phía tây-bắc PKBVNN cũng thỉnh thỏang đã phát hiện có đường di chuyển
ra và vào PKBVNN và có thể là đường di chuyển tiếp nối đi lên khu điều tra phía bắc,
3). ở phía tây-nam của PKBVNN cũng đã thường xuyên phát hiện đàn Nai cà
tông di chuyển ra và vào PKBVNN và có thể là đường tiếp nối khu phía tây - nam.
d). Khu phía tây - nam: Nai cà tông thường xuyên được phát hiện qua lại giữa
phía tây - nam KBTX và PKBVNN, cắt ngang đường dân sinh giữa trạm kiểm lâm
Song Hong và bản Song Hong (Hình 3.2). Đường di chuyển này thường xuyên
được phát hiện vào cả ban ngày và ban đêm.
3.1.3. Mật độ và kích thước quần thể Nai cà tơng tại KBTX
3.1.3.1. Ước lượng xác suất phát hiện Nai cà tông
Trong thời gian nghiên cứu từ năm 2017-2019, 104 tuyến đã được tuyết lập
với tổng chiều dài 755,10 km đã được điều tra, kết quả đã phát hiện Nai cà tông 27
lần và ghi nhận được tổng số 93 cá thể (Bảng 3.1). Cụ thể, tại khu phía bắc có 32
tuyến với tổng chiều dài 195 km. Tại khu vực phía nam có 72 tuyến với tổng chiều
dài 560 km. Tại khu điều tra phía bắc, Nai cà tơng được phát hiện 3 lần với 13 cá
thể. Tại khu vực điều tra phía nam, Nai cà tơng được phát hiện 24 lần với 80 cá thể.
11
Số lượng cá thể phát hiện được ở gần tuyến nhiều hơn số lượng cá thể phát được ở
xa tuyến do tầm nhìn ở phía xa bị hạn chế. Do vậy, đề tài tiến hành mô phỏng sự
biến động của xác suất phát hiện theo khoảng cách từ tuyến tới các đàn Nai cà tơng.
Bảng 3.1: Ước tính mật độ và kích thước quần thể Nai cà tơng tại
KBTX từ 2017-2019 theo phương pháp khoảng cách
Mơ hình/Hàm số
P value of
GOF test
77.48
4.57
0.32
0.58 (0.41-0.80)
Uniform + simple
polynomial
77.97
2.75
0.75
Hazard-rate + cosine
79.78
0.46
0.98
Hazard-rate + simple
polynomial
79.78
điều tra chủ yếu là do mức độ bị tác động ở hai khu vực chứ không phải do khác
nhau về các dạng sinh cảnh.
Bảng 3.2: Mật độ và số lượng cá thể Nai cà tông tại KBTX, ước lượng theo
phương pháp khoảng cách với số liệu điều tra
thu thập từ 2017-2019
Diện tích
(km2)
Mật độ (95% CI)
Số con /km2
Số lượng cá thể
(95% CI)
Khu phía bắc
125,28
0,28 (0,10-0,77)
35 (13-97)
Khu phía nam
175,05
0,79 (0,46-1,34)
138 (81-234)
(CTT) là 1:2,70 và tỷ lệ này khá nhỏ so với năm 2016 là 1:1,5-2 (Xayalath
2016) và cũng khá nhỏ so với Nai cà tông tại khu bảo tồn Chatthin của
Myamar 1:1,5 (Bhumpakphan et al. 2004). Tỷ lệ cá thể bán trưởng thành so với
tất cả thành viên trong đàn là 1:3,04. Còn tỷ lệ con non so với cá thể CTT là
1:5,75, con số này cũng khá nhỏ, theo Pierce et al. (2011) cho rằng, nếu sinh cảnh
sống tốt đối với một số loài Nai thì tỷ lệ sẽ là 1:1.
3.2. Một số đặc điểm sinh thái của Nai cà tông tại KBTX
3.2.1. Đặc điểm sinh cảnh
Khu vực điều tra có 7 dạng sinh cảnh, trong đó chỉ có 5 dạng sinh cảnh đã được
tiến hành điều tra về đặc điểm phân bố, sử dụng của Nai cà tông, gồm: rừng khộp,
rừng thường xanh, rừng bán thường xanh, trảng cỏ và đất nơng nghiệp (Hình 3.4).
Trong 5 dạng sinh cảnh được điều tra, rừng khộp có diện tích lớn nhất với
243,92 km2 (chiếm 81,22 %) và lần lượt là rừng bán thường xanh, đất nông
nghiệp, trảng cỏ với 5,22 km2 và rừng thường xanh. Các loài cây chiếm ưu thế dựa
trên chỉ số quan trọng (IVI) của mỗi dạng sinh cảnh như sau:
Hình 3.4: Tỷ lệ diện tích của các dạng sinh cảnh tại khu điều
ra, ở KBTX
14
a. Rừng khộp:
Rừng khộp là kiểu sinh cảnh phổ biến và có diện tích lớn nhất ở KBTX cũng như
tại khu điều tra (249,92 km2, chiếm 81,22 %). Dạng sinh cảnh này cịn có thể được
chia thành 2 kiểu phụ: rừng khộp hỗn loài và rừng khộp thuần loài. Theo kết quả
điều tra theo OTC, kiểu sinh cảnh rừng khộp hỗn lồi có khoảng 84 lồi cây gỗ và
cây bụi. Các loài chiếm ưu thế và quan trọng nhất dựa trên chỉ số IVI gồm có Cà
chắc (Shorea obtusa) (IVI= 58.58 %), Dầu đồng (Dipterocarpus tuberculatus)
(IVI = 35.91 %), Dầu tra beng (Dipterocarpus obtusifolius) (IVI = 20.87 %),
Cẩm xe (Xylia xylocarpa) (IVI= 18.45 %), Cẩm liên (Shorea siamensis) (IVI=
(Dipterocarpus turbulatus) (IVI = 136.92 %), Cà chắc (Shorea obtusa) (IVI =
113.88 %), Trâm mốc (Syzygium cumini) (IVI = 12.97 %), Bằng lăng nhiều hoa
(Lagerstroemia floribunda) (IVI = 5.94 %)
3.2.2. Đặc điểm sử dụng sinh cảnh sống
3.2.2.1. Đặc điểm sử dụng theo dạng sinh cảnh
Kết quả phân tích số liệu phát hiện trực tiếp và phát hiện gián tiếp qua các
dấu vết khác của Nai cà tông trên các sinh cảnh trong cả năm cho thấy tần
suất phát hiện theo mỗi dạng sinh cảnh có sự khác nhau. Cụ thể, Nai cà tông xuất
hiện nhiều nhất ở dạng sinh cảnh trảng cỏ và tiếp đến là đất nông nghiệp, rừng bán
thường xanh và rừng khộp. Không phát hiện Nai cà tông ở rừng thường xanh (Bảng
3.3).
Bảng 3.3: Tần suất phát hiện Nai cà tông trên các dạng sinh cảnh
Số lần phát
hiện
Chiều dài
tuyến (km)
Tần xuất phát
hiện (lần/km)
Trảng cỏ
27
27,8
0,97
0,22
0
755,10
3.2.2.2. Đặc điểm sử dụng theo mùa
Trong mùa khô và mùa mưa Nai cà tông sử dụng các dạng sinh cảnh khá khác
nhau. Trong mùa khô, chúng xuất hiện nhiều nhất ở dạng sinh cảnh trảng cỏ, tiếp
theo là rừng bán thường xanh, rừng khộp và đất nông nghiệp (Bảng 3.4).
16
Bảng 3.4: Tần suất phát hiện Nai cà tông tại các dạng sinh cảnh dựa trên
số lần bắt gặp trên chiều dài của tuyến điều tra trong mùa khô
Sinh cảnh
Trảng cỏ
Số lần phát
hiện
15
Chiều dài
tuyến (km)
24
Tần suất phát hiện
(lần/km)
0,63
0
Tổng
119
673,50
Trong mùa mưa, sinh cảnh Nai cà tông xuất hiện nhiều nhất cũng là trảng cỏ, cịn
tiếp theo lần lượt là đất nơng nghiệp, rừng khộp và cuối cùng là rừng bán thường
xanh (Bảng 3.5).
Bảng 3.5: Tần suất phát hiện Nai cà tông trên các dạng sinh cảnh dựa
trên số lần bắt gặp trên chiều dài của tuyến điều tra trong mùa mưa
Số lần phất
hiện
Chiều dài
tuyến (km)
Tần suất phát hiện
(lần/km)
Trảng cỏ
12
3,8
3,16
Đất nông nghiệp
10
73
81,60
Sinh cảnh
Kết quả trong Bảng 3.4 và Bảng 3.5 cho thấy, có sự chênh lệch về đặc điểm
sử dụng sinh cảnh của Nai cà tông gữa mùa khô và mùa mưa, đặc biệt ở dạng sinh
cảnh rừng bán thường xanh và đất nông nghiệp. Trong mùa khô Nai cà tông xuất
hiện ở rừng bán thường xanh nhiều hơn và ngược trong mùa mưa thì chúng xuất
hiện ở đất nơng nghiệp nhiều hơn. Lý do là bởi đất nông nghiệp cũng cấp nguồi
thức ăn dồi dào hơn vào mùa mưa.
17
3.2.3. Thức ăn của Nai cà tông
Nai cà tông là loài thú ăn thực vật. Thức ăn của chúng rất đa dạng, gồm có lá,
hoa, quả của các lồi cây gỗ, cây bụi và nhiều loài cỏ. Qua quan sát trực tiếp và
dấu vết ăn trên tuyến, thức ăn của Nai cà tông tại KBTX được xác định gồm 15 lồi
thực vật. Ví dụ, quả của cây Kơ-nia (Irningia malayana), cây Cóc rừng (Spondias
pinnata), Xồi rừng (Mangifera caloneura), lá non của Cỏ tranh (Imperata
cylindrica), Lúa nước (Oryza sativa), Cỏ le (Vietnamosasa pusilla).
3.2.4. Các nguồn muối khoáng trong KBTX
Các chất khoáng đóng vai trị rất quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển
của các loài động vật, đặc biệt là các lồi thú ăn cỏ lớn. Chất khống có thể tồn tại
tại dưới 2 dạng là chất khoáng đất và chất khoáng nước. Tại KBTX, chất
khoáng tồn tại chủ yếu là loại khoáng đất, phân bố rải rác trong KBTX, nhưng phần
lớn là tại khu điều tra phía nam (Hình 3.5).
động quản lý cụ thể và liên tục. Tại khu điều tra (KĐT) phía bắc là khu phát hiện
các hoạt động xâm lấn nhiều hơn phía nam. Ví dụ, đã phát hiện được 61 điểm bị
xâm lấn làm đập và ao chứa nước, trong đó có tới 51 điểm ở KĐT phía bắc.
3.3.3. Khai thác gỗ và thu hái lâm sản ngoài gỗ
Hai hoạt động này xảy ra cả ở bên ngoài và bên trong PKBVNN. Số vụ khai
thác gỗ trái phép được phát hiện là 42 vụ. Trong đó, số vụ phát hiện được tại khu
điều tra phía bắc và nam lần lượt là 19 vụ và 23 vụ, đặc biệt tại PKBVNN có 5 vụ
đã được phát hiện. Phiapalath et al., (2018a) cũng đã cho rằng KBTX đã và đang bị
tác động khá nhiều do hoạt động khai thác gỗ trái phép, ngay cả tại PKBVNN.
3.3.4. Săn bắt động vật hoang dã
Hoạt động săn bắt động vật hoang dã ít xảy ra trong KBTX. Các vụ việc phát
hiện được chủ yếu liên quan tới các loài chim, sóc bay và chuột, .v.v.v. Trong thời
gian điều tra có 5 vụ săn bắn đã được phát hiện, trong đó có 3 vụ ở khu điều tra
phía bắc và 2 vụ ở khu điều tra phía nam. Chưa có đủ thông tin để kết luận hiện
19
tượng săn bắn Nai cà tông đang xảy ra. Tuy nhiên, trong quá khứ người dân đã từng
săn bắn loài thú Móng guốc này. Ví dụ, trong những năm 2000, săn bắn đã được
ghi nhận là một mối đe dọa quan trọng tới khu hệ động vật trong KBTX (Johnson
et al. 2003). Do vậy, trong công tác quản lý cũng cần đề phịng và kiểm sốt hoạt
động này. Cụ thể, cần kiểm sốt tình hình sở hữu súng săn và các loại bẫy.
3.3.5. Chăn thả gia súc
Kết quả điều tra đã cho thấy tần suất phát hiện các loài vật ni tại KBTX
khá cao, cao nhất là bị, chiếm 38,46 % và trâu chiếm 29,23 %. Với Chó, cho
dù có số lượng cá thể không nhiều, nhưng tần suất phát hiện khá cao bởi vì
chúng thường đi cùng người chủ trong quá trình thu hái lâm sản.
3.4. Đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn Nai cà tông và sinh cảnh
Dựa trên kết quả nghiên cứu và mục đích ưu tiên của Ban quản lý KBTX, một số
vấn đề trọng tâm cần hướng tới là trực tiếp bảo tồn loài Nai cà tông, sinh cảnh
nghiên cứu các quần thể được bảo tồn ngoại vi cung cấp cho ta những hiểu biết về
đặc tính sinh học, sinh thái của loài và đinh hướng những chiến lược bảo tồn mới
cho các quần thể bảo tồn nội vi.
Tiến hành nghiên cứu về quần thể Nai cà tông:
Trong tương lai gần, chương trình nghiên cứu về vùng sống của Nai cà tông
tại KBTX là rất cần thiết để phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn và bảo vệ quần
thể của chúng. Cần tiến hành bắt và đeo vòng cổ có gắn GPS cho một số cá thể
đực và cái trưởng thành. Tiến hành theo dõi không gian sử dụng bởi Nai cà tông
cũng như các tuyến di chuyển của chúng để có biện pháp thay đổi quy hoạch bảo
tồn kịp thời cũng như định hướng các hoạt động tuần tra, bảo vệ của lực lượng
kiểm lâm. Ngồi ra, thơng tin về vùng sống và không gian di chuyển của Nai cà
tông cũng sẽ được sử dụng để thiết kế PKBVNN và vùng đệm.
3.4.2. Bảo vệ sinh cảnh và các yếu tố sinh thái
- Giao đất giao rừng: Những năm vừa qua đã có một số nỗ lực nhằm tiến hành
phân khu đất canh tác, khu chăn nuôi, .v.v.v., nhưng vẫn còn tồn tại nhiều mâu
thuẫn và các vụ xâm lấn đất rừng vẫn xảy ra. Vì vậy, chương trình giao đất giao
rừng phải tuân thủ theo hướng dẫu của nhà nước (MAF & NLMA 2010).
- Mở rộng PKBVNN: Diện tích của PKBVNN hiện tại khoảng 20 km2 là
quá nhỏ so với yêu cầu. Trong thời gian tới PKBVNN cần được mở rộng thêm
dựa theo khu phân bố thực tế của các đàn Nai cà tông. Đối với một số hộ gia đình
đang có đất ruộng ở trong PKBVNN cần được di chuyển sang khu mới. Tuy nhiên,
nhà nước cần có chính sách đền bù phù hợp, ngồi ra cần tạo cơ hội cho các hộ gia
đình này tham gia các chương trình du lịch sinh thái, cải thiện sinh kế.....
21
- Thiết lập vùng đệm: KBTX chưa có vùng đệm, do vậy, cần phải sớm thiết
lập để giảm thiểu các tác động từ bên ngoài vào trong vùng lõi của KBTX.
Vùng đệm nên được thiết lập ở giữa ranh giới PKBVNN và khu đất nông nghiệp
của người dân, đặc biệt là tại phía bắc và phía đơng của PKBVNN. Ngồi ra, tại
22
- Mở rộng cơ hội cho những người dân có tiềm năng tham gia chương trình
du lịch sinh thái.
- Mở rộng cơ hội và ưu tiên cho những hộ gia đình bị ảnh hưởng hoặc là bị mất
diện tích trồng lúa do mở rộng các PKBVNN. Đền bù thỏa đáng và ưu tiên tham gia
các hoạt động du lịch sinh thái.
Nâng cao nhận thức về bảo tồn của người dân địa phương:
- Nâng cao hiệu quả quy hoạch và sử dụng đất: Cần cải tạo lại những khu đất
canh tác kém hiệu quả. Tiến hành quy hoạch khu chăn thả gia súc hợp lý để hạn
chế cạnh tranh và truyền bệnh cho Nai cà tơng cũng như các lồi động vật rừng
khác. Cần nghiên cứu trồng một số loại cỏ năng suất cao phục vụ chăn nuôi gia súc.
Hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về bảo tồn đa dạng
sinh học, bảo vệ tài nguyên rừng, Nai cà tông và các văn bản pháp luật cần thiết
khác cần được tiến hành thường xuyên. Đối tượng tuyên truyền là những hộ gia
đình, cá nhân tác động nhiều vào rừng. Chương trình tuyên truyền nâng cao nhận
thức, cần phải được thực hiện thường xuyên hàng năm hoặc 2 lần/năm. Đối tượng
trẻ tuối như là những học sinh cơ sở cấp 2 của các trường trong KBTX cũng cần
phải có chương trình tun truyền phủ hợp.