BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
--------------------------------------
LÊ ĐÌNH ANH HUY
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH GIẤY VIỆT NAM
- PHÂN TÍCH THEO CÁC NHÂN TỐ SẢN XUẤT
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------------------------
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
LÊ ĐÌNH ANH HUY
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH GIẤY VIỆT NAM
- PHÂN TÍCH THEO CÁC NHÂN TỐ SẢN XUẤT
Chun ngành: Chính sách cơng
Mã số: 60340402
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CƠNG
Để hồn thành luận văn tơi xin gửi lời tri ân đến cô Đinh Vũ Trang Ngân. Những góp ý của
cơ đã giúp tơi định hướng và triển khai các nội dung của luận văn một cách khoa học. Cơ đã
kiên nhẫn đọc và góp ý chi tiết từ những bản thảo ban đầu. Những lời khun sâu sắc của cơ
khơng những giúp ích cho luận văn mà cịn giúp ích cho tơi trong cơng việc. Tôi đặc biệt
cảm ơn thầy Huỳnh Thế Du, người đã định hướng cho tơi từ khi tìm ý tưởng thực hiện luận
văn. Thầy dạy tơi nhìn các vấn đề chính sách một cách đơn giản nhưng thực tế và sâu sắc.
Thầy đã tiếp thêm động lực cho tôi mỗi khi tơi nản chí bằng những lời động viên. Thầy là
tấm gương tuyệt vời trong công việc nghiên cứu mà tôi luôn muốn học tập. Tôi xin cảm ơn
anh Trương Minh Hòa đã hỗ trợ những tài liệu tham khảo và số liệu q giá được trình bày
trong luận văn.
Tơi cũng bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với ban giám đốc Công ty cổ phần Mạnh Thông, dự
án nhà máy bột giấy Cơng ty cổ phần Thái Bình Xanh. Nhờ làm việc tại cơng ty, tơi có điều
kiện tiếp xúc với các doanh nghiệp trong ngành, các cơ quan chính quyền, các nhà tư vấn
Poyry, Valmet, RISI và Hawkins Wright.
Tôi muốn cảm ơn các bạn lớp MPP7, những người đã luôn ở bên cạnh, chia sẻ với tôi tất cả
những khoảnh khắc vui buồn trong thời gian học tập và làm luận văn. Các bạn là những
người bạn thân thiện và nhiệt tình nhất mà tơi từng được thấy. Cảm ơn bạn Lê Thị Ngọc
Ánh, Huỳnh Ngọc Chương, Hồ Ngọc Huy đã đọc và góp ý cho luận văn.
Tơi xin cảm ơn gia đình, những người ln tin tưởng và ủng hộ vô điều kiện cho tôi. Cảm
ơn bạn Lê Triều Thùy Dương giúp đỡ tôi trong suốt hai năm vừa qua. Nếu khơng có bạn thì
tơi đã khơng đi hết cuộc hành trình này.
Cuối cùng, tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Vụ Văn Hóa và Giáo dục trực thuộc Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ, tổ chức đã tài trợ học bổng cho tôi trong suốt quá trình theo học tại
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2016
Học viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Lê Đình Anh Huy
lực sản xuất do sự bảo hộ bằng nhiều cách từ nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp tư nhân trong nước là hai đối tượng gây ô nhiễm trầm trọng nhất trong ngành giấy.
-iv-
Dù ít gây ơ nhiễm nhưng các dự án của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi gặp phải sự
e ngại từ chính quyền địa phương. Vận động xã hội chiếm vai trò ngày càng lớn trong hoạt
động chống ô nhiễm môi trường trong ngành giấy. Nghiên cứu cho thấy các quy định về mặt
môi trường là một yếu tố thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Do các doanh nghiệp
ngành giấy vẫn còn khả năng gia tăng công suất nên các quy định về môi trường nghiêm
khắc sẽ giúp đạt được đồng thời hai mục tiêu tăng năng suất và bảo vệ môi trường.
Từ kết quả nghiên cứu và bài học kinh nghiệm của các nước, tác giả đề xuất tạo ra thị trường
cạnh tranh trong ngành giấy, giảm sự can thiệp của nhà nước vào các khâu trong quá trình
sản xuất, tạo điều kiện để ngành này phát triển tự nhiên. Đồng thời các cơ quan nhà nước
cần nghiêm khắc hơn trong quản lý môi trường để tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia tăng
công suất, mở cửa cho nhà đầu tư, tránh được những tác hại khơng đáng có đối với mơi
trường.
Từ khóa: giấy, bột giấy, rừng trồng nguyên liệu, công nghiệp từ rừng, tác động môi trường,
quản lý rừng, tác động của rừng, sự tham gia của cộng đồng, chính sách cơng nghiệp, phát
triển bền vững, chế biến gỗ, dăm gỗ, trợ cấp, thuế bảo hộ, Việt Nam
-v-
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ...............................................................................................................ii
TÓM TẮT ....................................................................................................................iii
3.4.1. Tác động đối với môi trường của ngành giấy Việt Nam ................................. 36
3.4.2. Động cơ của doanh nghiệp để đổi mới vì mơi trường ..................................... 41
CHƯƠNG 4. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ, GỢI Ý CHÍNH SÁCH ............................ 43
4.1. Bài học kinh nghiệm ở các nước.......................................................................... 43
4.1.1. Trung Quốc ................................................................................................. 43
4.1.2. Indonesia ..................................................................................................... 43
4.1.3. Thái Lan ...................................................................................................... 44
4.1.4. Nhật Bản ..................................................................................................... 45
4.1.5. Tổng kết bài học từ các nước ........................................................................ 46
4.2. Gợi ý chính sách ................................................................................................. 46
4.2.1. Hạn chế việc can thiệp không hợp lý của nhà nước ........................................ 47
4.2.2. Tạo mơi trường cạnh tranh bình đẳng............................................................ 47
4.2.3. Thu hút đầu tư nước ngoài ............................................................................ 47
4.2.4. Kiên quyết xử lý doanh nghiệp gây ô nhiễm .................................................. 48
4.3. Hạn chế của đề tài............................................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 49
-vii-
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Nhu cầu đầu tư ngành giấy theo quy hoạch năm 2014 ....................................... 3
Bảng 3.1. Năng lực sản xuất bột giấy Đông Nam Á năm 2014 ........................................ 19
Bảng 3.2. Các dự án đầu tư trong ngành giấy Việt Nam .................................................. 30
DANH MỤC HỘP
Hộp 2.1. Đổi mới công nghệ sản xuất giấy ở Mỹ .............................................................. 8
Hộp 2.2. Hoạt động môi trường trong ngành giấy ở Indonesia ........................................ 10
Hình 3.17. Một số chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp ngành giấy .................................. 34
Hình 3.18. Nguyên nhân doanh nghiệp áp dụng công nghệ xử lý môi trường................... 41
-1-
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Giới thiệu về ngành giấy
Sản xuất giấy là q trình thêm hóa chất vào một tấm sơ sợi để tạo ra các tấm giấy có thuộc
tính khác nhau. Xét về cơng dụng, giấy được chia thành giấy in/viết, giấy in báo, giấy bao
bì, giấy tissue, giấy vàng mã. Bột giấy là đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất giấy. Bột
giấy được sản xuất từ ba nguồn nguyên liệu là gỗ, phi gỗ, giấy phế thải. Phân loại theo quy
trình sản xuất bột giấy thì có bột hóa, bột cơ, bột bán hóa, bột tái chế (Trung tâm sản xuất
sạch Việt Nam và Hợp phần sản xuất sạch hơn trong cơng nghiệp, 2011).
Hình 1.1. Quy trình sản xuất giấy
Chất thải
nơng nghiệp
Quy trình
bột hóa
Rửa và tẩy
trắng
Gỗ
Quy trình
bột cơ
thành một nguồn xả thải, gây ơ nhiễm khí, nước nghiêm trọng.
Lượng xả thải từ sản xuất bột giấy không cố định mà phụ thuộc quy trình sản xuất. Quy trình
sản xuất bột hóa, là quy trình tốn năng lượng nhất. Tuy nhiên quy trình này chỉ yêu cầu một
lượng nhỏ năng lượng từ bên ngồi do trong q trình sản xuất tạo ra điện năng và hơi nước.
-2Những nhà máy tích hợp sản xuất giấy, bột giấy với cơng suất lớn có xu hướng sử dụng năng
lượng, xả thải hiệu quả nhờ tiết kiệm năng lượng làm khơ bột giấy để sử dụng trong q
trình làm giấy. Nhà máy tích hợp sử dụng giấy phế thải làm ngun liệu có xu hướng ít xả
thải NO, sunfur vì dùng ít năng lượng hơn nhà máy bột hóa, bột cơ. Tuy nhiên, những nhà
máy này sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch, năng lượng điện từ bên ngồi.
1.2. Bối cảnh nghiên cứu
Trong 29 năm từ 1986-2015, ngành giấy Việt Nam đạt được nhiều thành tựu. Sản lượng
giấy sản xuất tăng 22 lần từ 88.700 tấn/năm lên 1.947.000 tấn/năm (Hiệp hội giấy và bột
giấy Việt Nam, 2015). Ngoài tạo ra sản phẩm phục vụ cho việc phát triển văn hóa, xã hội,
kinh tế cho quốc gia, ngành giấy cịn góp phần cho sự phát triển những ngành khác như lâm
nghiệp, hóa chất, tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho người dân (Tổng công ty giấy Việt
Nam, 2010). Tuy nhiên ngành giấy Việt Nam phát triển chưa đúng với tiềm năng. Năng lực
cạnh tranh của ngành còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới dù đã nhận
nhiều ưu đãi về vốn, chính sách từ phía nhà nước (Vũ Hùng Phương, 2008). Chi phí sản xuất
của ngành vẫn ở mức cao, chất lượng sản phẩm thấp, phải dựa vào nhập khẩu để đáp ứng
nhu cầu trong nước (Hidayat và cộng sự, 2012).
Năm 1912, nhà máy sản xuất bột giấy đầu tiên của Việt Nam ra đời tại Việt Trì. Nhà máy
Vạn Điểm, Đồng Nai, Tân Mai ra đời sau đó. Cơng suất thiết kế của ngành giấy năm 1975
bằng với Indonesia là 72.000 tấn/năm. Ở thời điểm này, các nhà máy ở miền Bắc sử dụng
công nghệ của Trung Quốc, ở miền Nam dùng công nghệ của Mỹ, Châu Âu. Sau 8 năm xây
dựng, nhà máy giấy Bãi Bằng bắt đầu hoạt động năm 1982. Nhà máy hình thành từ viện trợ
của Thụy Điển, có cơng suất bột giấy 53.000 tấn/năm, công suất sản xuất giấy 55.000
tấn/năm. Bãi Bằng là một tổng thể vùng nguyên liệu, hạ tầng giao thơng, sản xuất điện, hóa
chất và trường đào tạo nghề.
49.555
88.620
107.492
- Vùng nguyên liệu giấy
15.353
18.674
18.346
Nguồn: Bộ Cơng thương (2014)
Nhà nước cũng phát triển diện tích bạch đàn và keo để phục vụ nhu cầu của ngành giấy và
bột giấy (Hidayat và cộng sự, 2012). Năm 1992 chương trình trồng rừng được triển khai theo
Quyết định 327 của Thủ tướng Chính phủ. Năm 1998, chương trình này đổi tên thành Năm
triệu ha rừng. Mục đích chương trình là tạo nguồn nguyên liệu cho ngành giấy. Tuy nhiên
việc trồng rừng không thu được kết quả như dự kiến (Lang, 2002). Năm 2007, Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thơn triển khai chương trình trồng 2,4 triệu ha rừng để hỗ trợ ngành
giấy ở khu vực miền núi phía bắc tăng công suất thêm 700.000 tấn/năm (Hidayat và cộng
sự, 2012).
Tổng công ty giấy Việt Nam là nhân tố chủ đạo trong quy hoạch phát triển ngành (Thủ tướng
chính phủ, 1998). Tổng công ty giấy Việt Nam thành lập năm 1995 gồm 16 đơn vị trong đó
9 đơn vị sản xuất giấy, bột giấy với năng lực 152.000 tấn giấy/năm, 112.000 tấn bột
giấy/năm, chiếm 70% năng lực sản xuất của ngành giấy. Để nâng cao năng lực sản xuất trong
nước, Tổng công ty giấy Việt Nam tiến hành dự án nâng cấp công suất nhà máy Bãi Bằng,
các dự án của công ty giấy Tân Mai, công ty giấy Thanh Hóa. Tuy nhiên đến năm 2014 các
-51.6. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính. Các số liệu thống kê mơ tả được sử
dụng để so sánh ngành giấy, bột giấy Việt Nam so với thế giới. Số liệu của cuộc điều tra
doanh nghiệp do Tổng cục thống kê tiến hành được sử dụng để đánh giá hiệu quả doanh
nghiệp thông qua mơ hình phân tích bao dữ liệu. Tình huống trên báo chí, mạng xã hội được
phân tích để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu.
1.7. Cấu trúc của luận văn
Tác giả sẽ thực hiện luận văn trong trong 4 chương. Chương 1 sẽ trình bày về bối cảnh, vấn
đề, câu hỏi, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Ở chương 2, cơ sở lý thuyết, khung nghiên cứu
và kết quả của những nghiên cứu liên quan được nêu ra một cách tổng quát. Chương 3 phân
tích ngành giấy Việt Nam trong tương quan với ngành giấy thế giới và đưa ra những đánh giá.
Chương 4 trình bày bài học kinh nghiệm trên thế giới và thảo luận về khả năng áp dụng tại
Việt Nam.
-6CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Những nghiên cứu đi trước
Barr và Cossalter (2004) đánh giá tính cạnh tranh của ngành giấy và bột giấy của Trung
Quốc qua việc kết hợp chính sách hỗ trợ từ nhà nước và số liệu thống kê về thực trạng của
ngành. Các chính sách được nghiên cứu phân tích là chính sách ưu tiên dự án tích hợp, chính
sách tài trợ về vốn, lãi suất, thời gian vay đối với các dự án, chính sách phân cấp đầu tư cho
chính quyền địa phương, tài trợ vốn cho phát triển rừng nguyên liệu. Các tác giả chỉ ra bốn
hình thức liên kết giữa cơng ty với cộng đồng địa phương trong chăm sóc rừng. Năng lực
cạnh tranh của ngành được tổng hợp lại qua các nghiên cứu trước và số liệu được công bố.
Theo nghiên cứu, chi phí sợi gỗ của Trung Quốc cao hơn những quốc gia như Brazil,
Indonesia, trong tương lai ngành giấy Trung Quốc sẽ gặp khó khăn do mất cân đối giữa năng
lực sản xuất giấy và diện tích rừng có thể khai thác.
Zhuang và cộng sự (2006) lược khảo về ngành công nghiệp giấy và bột giấy Trung Quốc từ
năm 1979. Số liệu về năng lực sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu, nhập khẩu các loại giấy, bột
giấy được lấy từ niên giám thống kê hàng năm của Trung Quốc. Nghiên cứu sử dụng kết
hình cầu cho giấy và bột giấy của bốn khu vực là Châu Á, Châu Âu, Hiệp định thương mại
tự do Bắc Mỹ, Nam Mỹ. Nghiên cứu chỉ ra cầu các sản phẩm giấy trong ngắn hạn không co
giãn, cầu dài hạn co giãn hơn.
Tiêu thụ giấy bình qn đầu người có quan hệ với GDP bình qn đầu người, tỷ lệ đơ thị
hóa. Các nước tiêu dùng giấy cao có xu hướng giảm tiêu dùng giấy do chuyển sang sử dụng
nhựa, sự phát triển của công nghệ thông tin (McCarthy & Lei Lei, 2010).
Karikallio và cộng sự (2011) nghiên cứu về cạnh tranh trong ngành công nghiệp giấy, bột
giấy bằng cách khái quát thị phần của những công ty giấy, bột giấy lớn nhất thế giới, tính
tốn độ co giãn của cầu xuất khẩu đối với giá giấy, bột giấy, kiểm tra sự tồn tại của luật một
giá. Kết quả nghiên cứu chỉ ra dù thị trường giấy chia thành từng khu vực nhưng xu thế tồn
cầu hóa, việc giảm các rào cản thương mại quốc tế buộc các công ty phải đối mặt với sự
cạnh tranh từ khắp nơi trên thế giới. Karikallio và cộng sự (2011) cho thấy khơng có một
cơng ty nào trong ngành giấy có thể tăng giá mà không bị giảm thị phần cũng như doanh
thu.
Toivanen (2013) nghiên cứu về đổi mới công nghệ trong ngành giấy, bột giấy của Mỹ từ đầu
thế kỷ 19 để làm bài học cho Brazil. Tác giả sử dụng sự kiện từ các nghiên cứu trước để làm
-8cơ sở phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy các rủi ro về thất bại thị trường và thất bại nhà
nước luôn hiện diện, nhà nước phải thấy được những gì mà thị trường và cơng nghệ có thể
thực hiện để có định hướng điều chỉnh phù hợp. Đổi mới cơng nghệ, quy trình sản xuất và
tinh thần doanh nhân đã mang lại sức sống trong hơn hai thế kỷ cho ngành giấy, bột giấy ở
Mỹ. Trong đó, cơng nghệ là yếu tố quan trọng nhất. Công nghệ giúp chuyển hóa những tài
nguyên bị bỏ quên thành những nguyên liệu có giá trị. Nghiên cứu khuyến nghị xây dựng hệ
thống đổi mới ở tầm quốc gia, đảm bảo môi trường cho những đổi mới tiên phong trong
ngành.
Hộp 2.1. Đổi mới công nghệ sản xuất giấy ở Mỹ
Hoạt động sản xuất ngành giấy ở Mỹ trải qua các mốc sự kiện: chuyển đổi từ sử dụng vải
vụn sang sử dụng nguyên liệu gỗ bằng phương pháp sunfit, và sau đó là công nghệ sunfat.
Ngành giấy ở Mỹ bắt đầu từ nửa sau thế kỷ 19, khi nhu cầu giấy in báo giá tăng và giá cả
đến sức sống cụm ngành gồm: điều kiện các nhân tố nhân tố đầu vào, điều kiện cầu, mật độ
doanh nghiệp trong cụm, chu kỳ sống của cụm và kiến trúc chuỗi giá trị của cụm. Các yếu
tố này ảnh hưởng đến cách một cụm ngành lớn lên, mất đi khả năng thích ứng, động lực
cạnh tranh trong khi những cụm ngành mới dùng khả năng sáng tạo để thay đổi hiện trạng.
Hình 2.1. Các nhân tố ảnh hưởng tới sức sống của cụm ngành
Sức sống cụm ngành
Mật độ doanh
nghiệp
Giai đoạn trong
vòng đời
Điều kiện các
nhân tố
Kiến trúc
chuỗi giá trị
Điều kiện cầu
(Nguồn: Jarvinen và cộng sự 2012)
Từ đó, Jarvinen và cộng sự (2012) phân tích lịch sử của cụm ngành giấy, bột giấy thế giới.
Ban đầu nhà máy giấy, cơng nghiệp hóa học ở Anh chi phối hoạt động của ngành. Năm 1920
cụm Đức, Mỹ bắt đầu chiếm lĩnh ngành giấy, bột giấy thế giới. Vị trí này được thay thế bởi
cụm Bắc Âu khoảng thời gian 1980-1990. Từ 1990-2000 cụm quốc gia biến mất, sự thống
lĩnh chuỗi giá trị được tổ chức bởi những nhà sản xuất máy Phần Lan và Đức. Ngày nay khả
năng cạnh tranh của các cụm chủ yếu xác định trên quy mơ tồn cầu.
Những bất ổn kinh tế trong đầu những năm 1990, dẫn đến hội nhập và cạnh tranh quốc tế
trở thành chuẩn mực, một số yếu tố liên quan tới mạng lưới trong ngành giấy cũng thay đổi
theo. Đo lường sức sống của cụm ngành thông qua số lượng các liên kết trong cụm ngành,
Jarvinen và cộng sự (2012) cho rằng ngày nay mạng lưới bột giấy, giấy toàn cầu được dẫn
và các tổ chức quốc tế.
Các nhà máy mới xây dựng ở Indonesia sau đó đều sử dụng cơng nghệ thân thiện với
môi trường theo tiêu chuẩn ngang bằng và thậm chí cao hơn tiêu chuẩn thế giới (vào
những năm 1990 Indonesia đã có nhà máy sử dụng cơng nghệ TCF).
Nguồn: Sonnenfeld (1998)
-11-
Sonnenfeld (1998) miêu tả ngành công nghiệp giấy và bột giấy Indonesia thông qua các số
liệu, các nghiên cứu được công bố về sản xuất, tiêu thụ, quy mô, cấu trúc của doanh nghiệp
trong ngành giấy. Nghiên cứu sử dụng các tình huống điển hình liên quan tới ơ nhiễm mơi
trường trong ngành giấy để phân tích việc phát triển ngành giấy và bột giấy ở Indonesia.
Trong khoảng một thập niên, nền công nghiệp giấy và bột giấy ở Indonesia đã chuyển từ
một nền công nghiệp nhỏ, chịu sự chi phối của nhà nước, phụ thuộc những phế phẩm nông
nghiệp thành một trong những nước xuất khẩu giấy, bột giấy hàng đầu thế giới, với những
tổ hợp nhà máy tư nhân khổng lồ, công nghệ thân thiện với môi trường. Ba yếu tố ảnh hưởng
lớn đến sự thành công trong ngành giấy ở Indonesia bao gồm: yếu tố liên quan tới doanh
nghiệp, yếu tố liên quan đến luật lệ và yếu tố liên quan đến vận động xã hội (Sonnenfeld,
1998).
Hộp 2.3. Tình huống cơng ty giấy và bột giấy Phoenis
Phoenis thành lập năm 1975, là nhà sản xuất bột giấy sợi ngắn lớn nhất Thái Lan, dùng .
Bạch Đàn làm nguyên liệu chính. 60% sản lượng Phoenis xuất khẩu đến 25 quốc gia gồm
Châu Âu, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Úc. Dây chuyền Phoenis sử dụng công nghệ của ba nước
Đức, Thụy Điển, Phần Lan.
Tháng 03/1992, Chính phủ Thái Lan buộc Phoenix tạm ngưng sản xuất vì cá chết hàng
loạt ở hạ nguồn sông Phong. Các nhà hoạt động xã hội gây áp lực buộc Phoenix lắp đặt
thêm một hệ thống xử lý nước thải từ Phần Lan. Phoenix quay lại hoạt động sau một
tháng.
Tháng 05/1993, Phoenix tạm ngưng hoạt động theo u cầu của Phịng cơng nghiệp thuộc
Nghiên cứu cho thấy một số rủi ro của hộ gia đình trồng rừng là khơng được đảm bảo về thị
trường đầu ra, cần hỗ trợ vốn, giống và phân bón, cần hỗ trợ kỹ thuật từ các chuyên gia, gia
tăng tính cam kết. Một hạn chế của ngành rừng trồng là thiếu ngân sách cho nghiên cứu,
thiếu cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với các giống cây, thiếu liên kết với quốc tế.
Lang (2002) nghiên cứu về ngành công nghiệp giấy, bột giấy ở bốn nước Campuchia, Lào,
Thái Lan, Việt Nam. Nghiên cứu mô tả về ngành công nghiệp thông qua số liệu thống kê,
thông tin từ các nghiên cứu trước và các kết quả phỏng vấn. Kết quả thấy dự án giấy, bột
giấy tại bốn nước có đặc trưng là phục vụ cho lợi ích của các nước phương bắc như Thụy
Điển, Phần Lan. Các nước phương Bắc làm tư vấn, tài trợ vốn, và nhập khẩu sản phẩm được
các dự án sản xuất ra.
Ambec và cộng sự (2010) tổng hợp các nghiên cứu có liên quan tới giả thuyết Porter. Giả
thuyết Porter cho rằng các quy định về môi trường được thiết kế tốt sẽ dẫn đến sự cải thiện
Pareto trong một số trường hợp. Kết quả là quy định vừa thúc đẩy việc bảo vệ môi trường,
-13vừa nâng cao được lợi nhuận, khả năng cạnh tranh do quy trình sản xuất, sản phẩm được đổi
mới (Ambec và cộng sự, 2010).
Về mặt lý thuyết, các quan điểm ủng hộ giả thuyết Porter cho rằng thị trường cạnh tranh
khơng hồn hảo, các quy định giúp cơng ty đạt được trạng thái cân bằng cải thiện Pareto
thông qua việc tăng chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D). Các quan điểm không ủng hộ,
cho rằng các quy định sẽ gây ra sự phân tán nguồn lực của công ty làm giảm hiệu quả hoạt
động. Về mặt thực nghiệm, có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa các quy định, chi phí
đầu tư cho hoạt động R&D, sự cải thiện về môi trường, hoạt động đầu tư vốn. Các nghiên
cứu cho thấy quan hệ tích cực giữa các quy định về môi trường và hoạt động đổi mới (phiên
bản yếu của giả thuyết Porter). Các nghiên cứu không kết luận được về mối quan hệ giữa
các quy định và hiệu quả hoạt động của công ty (phiên bản mạnh của giả thuyết Porter).
Hình 2.2. Lược đồ về giả thuyết Porter
Quy định về
môi trường
nghiêm khắc
của ngành giấy gồm bột giấy, các loại giấy khác, giấy in và viết, giấy vàng mã, giấy và bìa.
Số liệu nghiên cứu lấy từ tổng điều tra doanh nghiệp của tổng cục thống kê năm 2005. Mơ
hình sử dụng biến đầu vào là vốn rịng, số lao động bình quân trong năm, biến đầu ra là
doanh thu của doanh nghiệp. Kết quả phân tích cho thấy ngành giấy có thể sản xuất ra được
sản lượng như hiện nay với một lượng đầu vào thấp hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quy
mô hiện nay của các doanh nghiệp trong ngành giấy là chưa phù hợp.
2.2. Khung phân tích
Dựa trên những nghiên cứu đi trước, tác giả tiến hành nghiên cứu về ngành giấy Việt Nam
qua ba phần.
Đầu tiên, tác giả sẽ phân tích ngành giấy Việt Nam theo các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực
sản xuất qua những số liệu được cơng bố chính thức, các sự kiện được trình bày trên báo chí,
internet. Các yếu tố được lựa chọn để phân tích bao gồm cơng nghệ, vốn, quy mơ của doanh
nghiệp, vai trị của của nhà nước. Số liệu điều tra của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
được sử dụng để đánh giá hiệu quả ngành giấy bằng phân tích bao dữ liệu.
Tác giả sử dụng thơng tin báo chí và các báo cáo để đánh giá về ảnh hưởng của việc phát
triển ngành giấy đến mơi trường tại Việt Nam.
Sau đó tác giả trình bày về xu thế phát triển của ngành giấy, các bài học kinh nghiệm và gợi
ý cho ngành.
-15CHƯƠNG 3. PHÂN TÍCH NGÀNH GIẤY VIỆT NAM SO VỚI THẾ GIỚI
3.1. Xu hướng sản xuất, đầu tư ngành giấy, bột giấy trên thế giới
3.1.1. Xu hướng sản xuất
Xu hướng các nhà máy sản xuất bột giấy dịch chuyển về phía nam tiếp tục diễn ra. Brazil
trở thành một trung tâm đầu tư do có nguồn nguyên liệu giá rẻ, đồng tiền yếu và chính sách
ưu đãi của Chính phủ. Một số dự án vẫn tiếp tục được triển khai xây dựng ở Trung Quốc,
Indonesia, Chile để tăng khả năng sản xuất ở những khu vực này. Các nhà máy sản xuất bột
ở Mỹ, Châu Âu có xu hướng dừng sản xuất, đóng cửa do sự sụt giảm nhu cầu.
Nhu cầu sản phẩm đầu ra của ngành giấy gia tăng, nguồn bột giấy nguyên thủy gặp phải giới
hạn về diện tích, thời gian trồng rừng. Các doanh nghiệp gia tăng sản xuất bột từ giấy phế