BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_____________________
Võ Thị Xuân Thúy
KHẢO SÁT SINH HOẠT VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA
MỘT SỐ NHĨM CƯ DÂN PHÍA BẮC TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_____________________
Võ Thị Xuân Thúy
KHẢO SÁT SINH HOẠT VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA
MỘT SỐ NHĨM CƯ DÂN PHÍA BẮC TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số
: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
T
0
MỤC LỤC ............................................................................................................................. 4
T
0
T
0
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1
T
0
T
0
Chương 1: QUÁ TRÌNH ĐỊNH CƯ CỦA CƯ DÂN PHÍA BẮC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
KIÊN GIANG ........................................................................................................................ 6
T
0
T
0
1.1. Vài nét về địa bàn tỉnh Kiên Giang và quá trình định cư của cư dân phía Bắc trên địa
T
0
0
1.2.2. Đặc điểm của nhóm cư dân thứ hai .................................................................. 15
T
0
T
0
1.2.3. Đặc điểm nhóm cư dân thứ ba .......................................................................... 17
T
0
T
0
1.3. Đặc điểm của cư dân bản địa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang...................................... 19
T
0
T
0
Chương 2 : TÌNH HÌNH TƯ LIỆU ..................................................................................... 21
T
0
T
0
0
T
0
2.2.2. Nhóm tư liệu đã được nghiên cứu, lưu hành .................................................... 40
T
0
T
0
2.3. Nhận xét tư liệu ......................................................................................................... 41
T
0
T
0
2.3.1. Nhận xét kết quả nhóm tư liệu điền dã ............................................................. 41
T
0
T
0
2.3.2. Nhận xét kết quả đối chiếu tư liệu .................................................................... 43
T
0
0
T
0
3.1.3. Cách thức và nội dung sinh hoạt văn học dân gian riêng của từng nhóm cư dân
.................................................................................................................................... 55
T
0
3.2. Những nét đặc thù trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phía Bắc trên địa
T
0
bàn tỉnh Kiên Giang ......................................................................................................... 59
T
0
3.2.1. Tâm thức trong sinh hoạt văn học dân gian ..................................................... 59
T
0
T
0
3.2.2. Sự giao thoa, ảnh hưởng trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phía Bắc
với cư dân bản địa ...................................................................................................... 62
T
0
0
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 74
T
0
T
0
PHỤ LỤC ............................................................................................................................ 77
T
0
T
0
T
0
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm nửa đầu thế kỉ hai mươi đến nay, do nhiều nguyên nhân
khách quan hoặc chủ quan mà có nhiều đợt di cư của cư dân phía Bắc vào Nam. Dù
cho họ xuất thân từ tầng lớp nào đi chăng nữa thì khi đến vùng đất mới họ vẫn
mang theo những hành trang q giá nhất về văn hóa vốn được hình thành từ bao
đời. Trong những thứ hành trang quý giá ấy, ắt hẵn không thể thiếu văn học dân
gian của q hương mình. Chính vì vậy, sinh hoạt văn học dân gian trên vùng đất
người dân cung cấp về sinh hoạt văn học dân gian của họ trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang, tiến hành phỏng vấn, phát phiếu điều tra để khảo sát tình hình sinh hoạt văn
học dân gian theo từng nhóm đối tượng cụ thể.
Thứ ba, từ những tư liệu khảo sát, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu sinh
hoạt văn học dân gian của cư dân miền Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang với cư dân
bản địa (ở từ lâu đời). Từ đó, chúng tôi khái quát lên những quy luật vận động
trong sinh hoạt văn học dân gian từ vùng đất cố cựu lên vùng đất mới, rút ra những
nét đặc thù, thế mạnh, hạn chế trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phía
Bắc cư trú trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
3. Lịch sử vấn đề
Chúng tôi nghĩ rằng đây là một đề tài mới và rất thú vị. Trong q trình khảo
sát, chúng tơi rất tiếc chưa tìm được cơng trình nghiên cứu nào liên quan đến đề tài.
Chính vì vậy, để thực hiện đề tài theo mục đích và nhiệm vụ đề ra ở trên, chúng tơi
phải rất khó khăn để giải quyết cho tường tận. Kính mong q thầy cơ thơng cảm.
4. Đóng góp của luận văn
Chúng tôi nhận thấy với việc khảo sát đề tài này, luận văn có những đóng góp sau:
Thứ nhất, thơng qua việc xử lí tư liệu, luận văn đã tìm ra được những nét đặc
thù trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang, rút ra những quy luật vận động trong sinh hoạt văn học dân gian của cư dân
từ phía Bắc vào Nam.
Thứ hai, luận văn góp phần khẳng định tính tích cực, hiệu quả của việc nghiên
cứu sự vận động, sinh tồn của văn học dân gian bằng cách thức điền dã.
3
5. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp chuyên ngành, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số
phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra xã hội học:
trấn Tân Hiệp là nhóm hai và cư dân miền Bắc cư trú ở thị trấn Kiên Lương là
nhóm ba. Cách gọi này chúng tôi sẽ dùng thống nhất trong luận văn.
Về phương diện phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chủ yếu đi vào khảo
sát những vấn đề liên quan đến sinh hoạt văn học dân gian đối với đối tượng nghiên
cứu đã nêu ở trên.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần phụ lục và danh mục tư liệu tham khảo, phần chính của luận văn
gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Trong đó phần nội dung là phần chính của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1:Q trình định cư của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
1.1. Đặc điểm vùng đất định cư.
1.1.1.Điều kiện sinh sống.
1.1.2. Đặc điểm văn hóa xã hội
1.2. Đặc điểm của các nhóm cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
1.2.1. Đặc điểm của nhóm cư dân thứ nhất.
1.2.2. Đặc điểm của nhóm cư dân thứ hai..
1.2.3. Đặc điểm của nhóm cư dân thứ ba.
1.3. Đặc điểm của cư dân bản địa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Chương 2: Tình hình tư liệu
.
U
U
1. Nhóm tư liệu điền dã.
1.1.Tư liệu từ việc điều tra phỏng vấn.
1.2. Tư liệu từ việc điều tra trắc nghiệm.
2. Nhóm tư liệu đã được sưu tầm in ấn.
Chương 1: Q TRÌNH ĐỊNH CƯ CỦA CƯ DÂN PHÍA BẮC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
Ở chương này, chúng tôi tiến hành khảo sát sơ lược về vùng đất định cư và
những đặc điểm chính của cả ba nhóm đối tượng cư dân phía Bắc cư trú trên địa bàn
tỉnh Kiên Giang. Từ đó, chúng tơi tìm ra những điều kiện thuận lợi cũng như những
khó khăn của vùng đất định cư đối với sự phát triển văn học dân gian. Chúng tơi
nghĩ rằng tìm hiểu sinh hoạt văn học dân gian của một cộng đồng người là cần thiết
phải tìm hiểu rõ về những vấn đề liên quan đến đời sống của họ. Bởi vì chúng tơi
hiểu rằng sinh hoạt văn học dân gian là hoạt động mang tính cộng đồng, họ sử dụng
văn học dân gian hoặc chất liệu văn học dân gian có hoặc khơng có chủ ý ngay
trong đời sống sinh hoạt thường nhật. Thiết nghĩ, những nội dung này sẽ là những
tiền đề quan trọng chi phối sự hình thành và phát triển nền văn học dân gian ở địa
bàn tỉnh Kiên Giang nói chung và sinh hoạt văn học dân gian của các nhóm cư dân
miền Bắc di cư vào Nam trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nói riêng.
1.1. Vài nét về địa bàn tỉnh Kiên Giang và quá trình định cư của cư dân phía
Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
1.1.1. Vài nét về địa bàn tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam
nước ta. Trung tâm của tỉnh là thành phố Rạch Giá, cách thành phố Hồ Chí Minh
250 km về phía Tây. Tỉnh Kiên Giang tiếp giáp với tỉnh An Giang ở phía Đơng Bắc,
thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang ở phía Đơng, tỉnh Bạc Liêu ở phía Đơng
Nam, tỉnh Cà Mau phía Nam, đặc biệt là phía Bắc giáp với nước Campuchia với
đường biên giới dài 54 km và Vịnh Thái Lan ở phía Tây với đường biển dài hơn 200
km. Tỉnh Kiên Giang có khoảng hơn 100 đảo lớn nhỏ ngồi biển vá có diện tích
rừng ngập mặn vào loại nhiều nhất ở đồng bằng sông Cửu Long. Tỉnh có diện tích
tự nhiên là 6299 km2 với dân số 1683149 người (tính từ ngày 1/4/2009). Về địa giới
P
P
Hà Tiên và Rạch Giá lại đổi thành hai tỉnh Hà Tiên và Rạch Giá. Sau năm 1954, hai
tỉnh này nhập lại làm một với tên gọi là Kiên Giang như ngày nay.
Vốn là một tỉnh giàu tiềm năng về kinh tế lại được thiên nhiên ưu đãi với
nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào bao gồm hơn hai mươi núi đá vôi lớn nhỏ lại
thêm rừng vàng biển bạc nên đời sống của người dân Kiên Giang tương đối phát
triển. Cùng với sự phát triển ấy, đời sống văn hóa tinh thần của người dân Kiên
8
Giang cũng được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên, như đã nói, đây là địa bàn có nhiều
thành phần dân tộc, tơn giáo đặc biệt là khu vực có rất đông người di cư gốc Bắc
sống tập trung nên trong sinh hoạt văn hóa vừa đa dạng vừa phức tạp. Ngồi sự tiếp
thu nền văn hóa mới trong khối cộng cư, mỗi dân tộc đều có những bản sắc riêng kể
cả những người dân di cư, khi đến vùng đất mới, họ vẫn mang theo và truyền cho
các thế hệ con cháu những gì thuộc về bản sắc văn hóa của quê hương mình. Người
Hoa ở Kiên Giang dù đã định cư rất lâu nhưng họ vẫn nói lưu lốt tiếng mẹ đẻ và
những nghi thức lễ hội của họ đều được bảo tồn. Người Khơ me bản địa cũng thể
hiện bản sắc văn hóa dân tộc, tơn giáo của mình rất rõ trong sinh hoạt tập thể ở các
lễ hội chùa chiền. Người miền Bắc khi di cư vào Nam cũng thể hiện mình bằng
những nét văn hóa đặc sắc của quê hương qua những cân chuyện kể, những lời ru,
điệu hị câu hát q mình...
1.1.2. Vài nét về q trình định cư của cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang
Đối với đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi những người gốc Bắc di cư
trong khoảng thời gian từ nửa đầu thế kỉ hai mươi đến nay. Như đã giới thiệu ở phần
mở đầu, từ khoảng nửa đầu thế kỉ hai mươi đến nay đã có rất nhiều đợt di cư của cư
dân phía Bắc vào Nam. Họ di cư với nhiều lí do, có thể là vì cuộc sống mưu sinh
cũng có thể vì lí do tơn giáo, chính trị hoặc nhiều lí do khác nữa, thế nhưng, hầu hết
những người miền Bắc di cư đến miền Nam nói chung, đến tỉnh Kiên Giang nói
Anh em nghèo xin chớ bỏ qua
Chữ rằng tứ hải vi gia
Ở đâu cũng đất nước nhà Việt Nam
Nên cố gắng ăn làm chăm chỉ
Chớ tin điều tà quỉ điêu ngoa
Những điều gian trá xấu xa
Đừng nên nghe vạy nữa mà mất khôn
Cát lấp mãi nên cồn mấy chốc
Đất vỡ dần thành thục có phen
Nền ta nếp cũ vẫn cịn
Ngoảnh trơng Tiền Hải, Kim Sơn thuở nào
Cơng tác thổ dồi dào khắp cõi
10
Cuộc hưng vong nối dõi tông đường
Một mai sở vững bền
Thành làng thành nước nổi lên cơ đồ...”
Đó là một nội dung vận động nhân dân hai tỉnh Nam Định và Thái Bình vào
vùng Tri Tơn lập nghiệp, thực ra đó là một hình thúc mộ phu của tay tư sản Belot...
Được chính quyền thực dân ủng hộ bằng một số chính sách cụ thể trong việc di dân,
Belot đã mộ được 750 gia đình của các huyện Tiền Hải, Kiến Xương, Thụy Anh,
Nghĩa Hưng, Xuân Thủy, Hải Hậu thuộc hai tỉnh Nam Định và Thái Bình vào làm
cơng cho hắn dưới hình thức chia đất cho dân khai hoang lập nghiệp. Như vậy, đến
ngày 27/10/1941, đã có 750 gia đình quê ở hai tỉnh Nam Định, Thái Bình vào định
cư trên vùng đất mới này cho đến ngày nay. Có thể xem đợt di cư này là cuộc di cư
thứ nhất và riêng có trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Đợt di cư thứ hai có thể xem là cuộc di cư vào Nam qui mô lớn nhất từ trước
đến nay. Qua khảo sát tài liệu, chúng tôi thấy rằng từ năm 1954 đến năm 1956, tổng
họa chiến tranh, một số khác vì lí do kinh tế khó khăn nên vào Nam lập nghiệp. Khi
vào Nam, họ định cư ở nhiều nơi, nhiều tỉnh ở miền Nam. Chính vì vậy, họ khác với
các đợt di dân trước, những người di dân trong đợt này có quê gốc ở nhiều tỉnh khác
nhau và ít sống tập trung thành khu vực như các nhóm di dân trước đó. Qua khảo
sát, chúng tôi nhận thấy ở tỉnh Kiên Giang duy chỉ có địa bàn Kiên
Lương là có
nhóm cư dân này sống tập trung tương đối cao.
Ngoài ba đợt di cư nói trên, khu vực đồng bằng sơng Cửu Long nói chung và
tỉnh Kiên Giang nói riêng cịn có nhiều đợt di cư khác với quy mơ nhỏ lẻ. Những
nhóm cư dân này vào Nam nhiều nhất vào những năm tám mươi đến nay với nhiều
lí do nhưng nhiều nhất vẫn là đồn tựu gia đình và mục đích kinh tế. Một nhóm
người dân gốc Bắc khác vào Nam cũng tương đối đông là những cán bộ công viên
chức chuyển công tác và bộ đội vào Nam sau 1975. Nhìn chung, trên địa bàn Kiên
Giang, những nhóm này định cư ở nhiều nơi nhưng nhiều nhất vẫn là các khu vực
thuộc các địa bàn nằm trong phạm vi khảo sát của đề tài này, đặc biệt chiếm tỉ lệ
cao nhất ở địa bàn huyện Kiên Lương.
12
1.2. Đặc điểm của các nhóm cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
1.2.1. Đặc điểm của nhóm cư dân thứ nhất
1.2.1.1. Vài nét về lịch sử vùng đất Nam Thái Sơn
Là một xã thuộc huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, Nam Thái Sơn có rất đơng
người dân phía Bắc di cư. Về vị trí địa lí, xã Nam Thái Sơn nằm cặp theo kinh xáng
Tri Tôn về phía bờ bắc kinh xáng Rạch Giá-Hà Tiên. Xã có diện tích tự nhiên
154.960 km2 với dân số trên 3000 người. Phía Bắc giáp xã Vọng Thê và Cơ Tơ-tỉnh
P
Khi kênh Tri Tơn hình thành, nhân dân các nơi kéo về khai hoang lập nghiệp,
nhất là dân vùng Xà Tón, Ba Thê, lấn dần từ phía An Giang xuống ở dọc theo kênh
xáng, mở đất làm ruộng hình thành những khu dân cư mới. Từ những năm 1930,
một số người hoạt động cách mạng ở các nơi khác bị chính quyền thực dân khủng
bố đã tìm về đây trú ngụ. Thế nhưng, vùng đất này có cư dân đông đúc, trù phú như
ngày nay phải kể đến những người di dân từ Bắc vào Nam.
1.2.1.2. Vài nét về lịch sử di dân của nhóm cư dân thứ nhất
Như đã giới thiệu ở phần trước, vào khoảng những năm 30, 40 của thế kỉ XX,
chính quyền thực dân cho phép số tư sản người Pháp và địa chủ người bản xứ đến
địa bàn xã Nam Thái Sơn ngày nay khai thác rừng tràm và mở các đồn điền trồng
lúa. Vùng đất Nam Thái Sơn ngày nay lúc bấy giờ thuộc làng Sóc Sơn được một tay
tư sản người Pháp tên Belot xin khai thác phần đất phía đơng kinh xáng Tri Tôn. Tại
đây, ở hai bờ kênh xáng đã có một số người dân bản địa sinh sống nhưng rất thưa
thớt. Như đã nói ở phần trước, đến năm 1941, địa bàn này lại có thêm có 750 gia
đình quê ở hai tỉnh Nam Định, Thái Bình vào định cư trên vùng đất mới này cho đến
ngày nay.
Tính đến thời điểm khảo sát đề tài, người viết đã thống kê có khoảng hơn 2500
người dân trên địa bàn xã Nam Thái Sơn là người gốc Bắc, chiếm tỉ lệ trên 80 phần
trăm dân số trong toàn xã. Thời gian đầu, cộng đồng cư dân Nam Thái Sơn được
hình thành nhưng mối quan hệ giữa dân di cư mới đến và dân địa phương chưa gắn
bó chặt chẽ vì ai cũng phải lao động cật lực để mưu sinh. Khi cuộc sống dần ổn
định, quan hệ của họ càng ngày càng thân thiết qua trao đổi kinh nghiệm trong cuộc
sống, lao động sản xuất hay giao lưu văn hóa, khơng có sự phân biệt giữa dân mới
và dân cũ, người Bắc hay người Nam. Việc hình thành tên xã Nam Thái Sơn cũng
đã phần nào khẳng định mối quan hệ khắng khít của cộng đồng cư dân trong khối
cộng cư này (Nam Thái Sơn là tên ghép giữa dân di cư Nam Định, Thái Bình và cư
dân người kinh, khơ me thuộc làng Sóc Sơn bản địa).
14
15
Hịa chung vào sự giao lưu tín ngưỡng là sự giao lưu văn hóa giữa những
người di dân và người bản địa. Trong những lễ hội, sinh hoạt văn hóa của người
miền Bắc di cư không bao giờ thiếu sự tham gia của những người bản địa, kể cả
người Khmer và người dân vùng phụ cận. Và tất nhiên trong các lễ hội, sinh hoạt
văn hóa của người dân bản địa cũng khơng thể thiếu sự tham gia nhiệt tình của
người dân di cư. Thoạt nhìn cứ tưởng trong khối cộng cư này có sự hịa trộn văn hóa
sâu sắc nhưng quan sát kĩ thì đó chỉ là sự giao lưu, tiếp thu những tinh hoa giữa các
vùng văn hóa với nhau. Đã hơn nửa thế kỉ vào Nam nhưng những người Bắc di cư
vẫn bảo ban cho con cháu mình giữ giọng nói của người con Nam-Thái, vẫn nhớ
khơng quên những lời ru, điệu hò câu hát và cả những câu truyện kể như là niềm tự
hào đối với quê hương xứ sở...
1.2.2. Đặc điểm của nhóm cư dân thứ hai
1.2.2.1. Vài nét về lịch sử vùng đất Tân Hiệp
Địa bàn Tân Hiệp của tỉnh Kiên Giang là địa bàn có rất đơng người dân miền
Bắc theo đạo Cơng giáo di cư vào Nam. Huyện được thành lập năm 1957 trên cơ sở
tách ra từ quận Kiên Thành. Nơi đây có vị trí địa lí thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế, văn hóa xã hội vì huyện nằm trên trục đường chính nối dài theo hướng thành phố
Rạch Gía đi thành phố Hồ Chí Minh. Huyện gồm chín xã và thị trấn trung tâm- thị
trấn Tân Hiệp, phía Bắc giáp huyện Thoại Sơn-tỉnh An Giang, phía Nam giáp huyện
Giồng Riềng- tỉnh Kiên Giang, phía Đơng giáp huyện Vĩnh Thạnh- thành phố Cần
Thơ và phía Tây giáp thành phố Rạch Giá, huyện Châu Thành- tỉnh Kiên Giang.
Do giới hạn của đề tài, chúng tơi chỉ đi vào tìm hiểu địa bàn có đơng người
miền Bắc di cư nhất huyện, đó là thị trấn Tân Hiệp. Thị trấn Tân Hiệp có diện tích
tự nhiên là 321.720 km2 với dân số là 19.929 người. Thị trấn Tân Hiệp ra đời ngay
P
hộ gia đình tham gia. Đây là làng nghề truyền thống của người gốc Bắc, nó ra đời
ngay khi có mặt của người Bắc trên vùng đất này. Nhìn chung, tính đến thời điểm đề
tài, chúng tôi nhận thấy đời sống của người dân nơi đây, đặc biệt là người dân di cư
từ phía Bắc đều có đời sống tương đối ổn định.
1.2.2.4. Về văn hóa, tơn giáo, tín ngưỡng
Theo số liệu điều tra thống kê thì hiện nay tồn thị trấn Tân Hiệp có khoảng
hơn 70 phần trăm người gốc Bắc sinh sống. Phần còn lại gồm dân người kinh, người
Khmer bản địa và cả người gốc Hoa di cư. Như đã nói ở trên, chỉ khi người miền
17
Bắc di cư vào huyện này mới có và cùng lúc với quá trình thành lập địa bàn mới là
đền thờ Quốc tổ Hùng Vương được dựng lên. Nếu ở thành phố Hồ Chí Minh có đến
9 đền thờ Quốc tổ Hùng Vương thì ở đồng bằng sơng Cửu Long duy nhất chỉ có ở
đây có đền thờ. Qua tìm hiểu thực tế, ngôi đền thờ này tọa lạc tại ấp Đơng Bình, thị
trấn Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Năm 2005, đền đã được Nhà nước
công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Hàng năm, đến ngày 10 tháng 3 âm
lịch, những người dân quanh vùng dù là người Nam hay người Bắc đi đâu xa vẫn về
để bái vong linh tổ tiên. Không chỉ có vậy, nơi đây cịn có vài đền thờ các vị thần
cũng do những người Bắc di cư xây dựng mang dáng dấp của những đền thờ ở quê
hương họ. Điều đó cho thấy ý thức về cội nguồn, truyền thống dân tộc rất mãnh liệt
của những người con xứ Bắc li hương và cả của người bản địa.
Như đã nói ở trên, đa số những người di dân miền Bắc vào đây là tín đồ của
đạo Cơng giáo cho nên ở huyện Tân Hiệp nói chung và thị trấn Tân Hiệp nói riêng
có rất nhiều nhà thờ Cơng giáo phục vụ cho việc tín ngưỡng của người dân nơi đây.
Hàng tuần vào ngày chúa nhật, những giáo dân nơi đây không phân biệt Bắc Nam
nô nức đi lễ. Trong những dịp lễ lớn như lễ Giáng sinh họ tổ chức rất long trọng,
hòa vào dòng người đi lễ có cả sự có mặt của các cư dân bản địa. Và trong những lễ
hội khác của người bản địa lại cũng có sự tham gia của những người Bắc di cư.
So với hai địa bàn trước đó mà chúng tơi khảo sát, địa bàn này có thành phần
người gốc Bắc di cư chiếm tỉ lệ thấp hơn. Qua tìm hiểu thực tế địa bàn, chúng tôi
thấy rằng người gốc Bắc định cư ở thị trấn Kiên Lương có khoảng từ 50 đến 60
phần trăm. Thế nhưng, điều này cũng không trở ngại cho quá trình khảo sát đề tài vì
hầu hết những người gốc Bắc định cư ở đây sống tập trung thành khu vực.
1.2.3.3. Điều kiện sinh sống
Đây là khu vực trung tâm kinh tế, hành chính của huyện Kiên Lương và cũng
là vùng đất nằm trong địa bàn cư dân Nam Phố sung túc của trấn Hà Tiên xưa. Đây
là vùng đất được thiên nhiên ban cho nhiều tài nguyên quý giá, nhiều danh lam
thắng cảnh, ngư trường thuận lợi cho việc ni trồng hải sản. Nơi đây có nhiều núi
đá vôi là nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất xi măng. Hiện nay, tại địa bàn thị
trấn Kiên Lương có nhà máy sản xuất xi măng Hà Tiên II, thu hút hàng ngàn lao
động địa phương với số đơng là người gốc Bắc di cư.
Bên cạnh đó, đây là địa bàn dân cư giáp biển nên có một bộ phận cư dân, đặc
biệt là những cư dân gốc Bắc làm trong các ngành nghề liên quan đến kinh tế biển
như thủy thủ, công nhân trong các nhà máy chế biến hải sản, buôn bán thủy hải
19
sản,…Nhìn chung, về đời sống kinh tế, nhóm cư dân này có đời sống tương đối tốt
hơn.
1.2.3.4. Về văn hóa, tơn giáo, tín ngưỡng
So với hai nhóm cư dân trên, nhóm cư dân này có đời sống văn hóa, tơn giáo,
tín ngưỡng phức tạp hơn. Vì rằng, đây là địa bàn có nhiều tơn giáo với nhiều nét văn
hóa khác nhau. Mặc dù phức tạp nhưng với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của nhóm
cư dân này rất phong phú. Nó thể hiện sự pha trộn, giao thoa văn hóa của cộng đồng
cư dân nơi đây.
Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng địa bàn này vừa có chùa của người Việt,
người Khơ me bản địa và cả những nhà thờ của đạo cơng giáo. Trong sự giao thoa
lẫn văn hóa tinh thần cho những người di cư. Và khi họ đến đây lại bắt gặp sự nhiệt
tình phóng khống của những cư dân bản địa. Chính vì vậy, việc lựa chọn này làm
vùng đất định cư là là một sự lựa chọn đúng đắn. Có lẽ, đây cũng là một trong
những lý do chúng tôi chọn vùng đất này làm địa bàn khảo sát luận văn.
Để cho quá trình khảo sát đi đúng hướng, chúng tôi xin tạm đưa ra một cách
hiểu về cụm từ”sinh hoạt văn học dân gian”. Theo chúng tôi sinh hoạt văn học dân
gian là một hoạt động mang tính tập thể, trong hoạt động ấy có sử dụng các thể loại
và nội dung của văn học dân gian theo những cách thức khác nhau gắn với môi
trường diễn xướng. Như vậy, cách hiểu này chúng tôi sẽ dùng thống nhất trong tồn
bộ q trình khảo sát đề tài này.