THƯ
VIỆN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________________
TRẦN THANH BÌNH
ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA THƠ CA
NHÌN TỪ GĨC ĐỘ TÁC ĐỘNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ NGỌC TRÀ
Thành Phố Hồ Chí Minh - 2008
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thực tế sáng tác và tiếp nhận thơ ca từ xưa đến nay cho thấy, mặc dù xã
hội phát triển ngày một văn minh hơn, mặc dù bây giờ nhân loại đang bước vào
thời đại của công nghệ kỹ thuật cao, và mặc cho người ta không ngừng đổi thay
những quan điểm về thơ ca do những ý thức hệ tư tưởng khác nhau của những thời
đại khác nhau chi phối, thì thơ ca vẫn tồn tại bên cạnh con người như một nhu cầu
tinh thần không thể thiếu. Cuộc sống càng xô bồ, càng làm con người mệt mỏi thì
con người lại càng muốn giải phóng tinh thần mình ra khỏi quy luật sinh tồn - diệt
vong của thế giới vật chất để tìm về với nghệ thuật. Thơ ca vẫn là nơi để người ta
trở về. Thơ ca vẫn là tri âm tri kỷ của con người.
dù không thay đổi được ngay thế giới – song có thể làm cho thế giới đó trở nên dễ
chịu hơn (…), có thể lay động con người khỏi trạng thái thờ ơ, và thậm chí có thể
đánh bật nó khỏi những lối mịn tư duy cố hữu" [118, tr.72]. Bài viết của ơng góp
phần khẳng định khả năng tác động của thơ ca, tuy chưa đi sâu vào nghiên cứu các
hình thức tác động cụ thể.
Trong cơng trình "Hệ thống kết cấu lý luận "Thi ngơn chí", Cổ Phong đã
bàn đến 8 chức năng của thơ ca trong đó có chức năng giáo dục. Ơng đã đồng tình
với ý kiến của Khổng Dĩnh Đạt, Dương Duy Trinh, Ba Nhật Hưu… khi nói về khả
năng giáo huấn con người của thơ và cho rằng "thơ nói chí, chí lại có khả năng cảm
hóa, giáo dục con người" [189, tr.36].
Lê Ngọc Trà trong "Lý luận và văn học" khẳng định: "Nghệ thuật trở
thành một phương tiện tác động quan trọng và có hiệu quả chính là nhờ những đặc
điểm vốn có của nó. Bản chất của nghệ thuật là tình cảm. Đánh vào tình cảm là tác
động vào khâu then chốt để lay chuyển con người", "trong quá trình tác động để cải
biến con người, tác phẩm nghệ thuật hiện ra không phải như người thầy, nhà thuyết
giáo mà như là người đồng hành, người đối thoại với bạn đọc, với khán giả", "nghệ
thuật ảnh hưởng đến con người lâu dài, dần dần và tác động theo kiểu lây lan" [157,
tr.109 - 111].
Bàn về các yếu tố thơ, trong quyển "Lý luận và văn học, vấn đề và suy
nghĩ", Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương cho rằng "nhịp, sự trở đi trở lại đều
đặn làm cho bài thơ tác động đến người đọc theo từng làn, từng đợt sóng, một cách
nhịp nhàng, liên tục, khiến con người như bị cuốn đi, rơi vào trạng thái đê mê. Nhịp
có tính "ru người", tạo chất "say" cho thơ" [40, tr.83]. Cũng trong tác phẩm này,
Huỳnh Như Phương quan tâm đến mối quan hệ giữa người đọc và tác phẩm, ông đã
bàn đến chức năng giao tiếp như một “sự tác động qua lại giữa người viết và người
đọc” [40, tr.140].
Trong "Thi pháp hiện đại", Đỗ Đức Hiểu cũng thừa nhận khả năng tác
chiến chống Mỹ thơ có thêm tiếng nói chính luận đanh thép sắc sảo, có sức thuyết
phục, lay động mạnh tạo nên âm hưởng hùng tráng và vẻ đẹp sử thi" [80, tr.103, 104].
Tuyển tập phê bình tiểu luận "Tiếng vọng những mùa qua" của Nguyễn
Thị Thanh Xuân có bài viết về văn học kháng chiến ở Nam Bộ. Bàn về thơ ca giai
đoạn này, bà khẳng định: "Thơ ca chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn
học ở chiến khu Nam Bộ, cả về số lượng lẫn chất lượng". "Nội dung của thơ ca giai
đoạn này là ca ngợi cuộc kháng chiến, lên án sự tàn bạo của quân thù, biểu dương
những tấm gương anh hùng của nhân dân và kêu gọi những người đi theo giặc trở
về với chính nghĩa" [175, tr.225].
Lê Thành Nghị trong tác phẩm "Văn học sáng tạo và tiếp nhận" cho rằng
hiệu quả tác động của tác phẩm là tất yếu khi người cầm bút cố gắng và không bị
hạn chế trong việc "sử dụng những biện pháp hiệu quả nhất, kể cả các biện pháp
của các phương pháp sáng tác phi hiện thực như lãng mạn, viễn tưởng, huyền
thoại… miễn là tất cả sự vận dụng và tìm tịi nghệ thuật này nhằm đạt đến tính chân
thực thuyết phục của hình tượng văn học, đạt đến hiệu quả cao nhất trong việc tác
động vào tư tưởng và tình cảm người đọc" [101, tr.58].
Trong tiểu luận "Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy", Xn
Diệu viết: "Có một cái gì rất lơi cuốn trong bộ phận thơ cách mạng viết theo nhạc
điệu thơ truyền thống; bây giờ chúng ta tuyên truyền, cổ động, hô hào, nhưng các
bài hịch của ông cha ta kêu gọi đánh giặc, kêu gọi đi theo, chính nghĩa, đã mở lối
văn, hơi văn chiến đấu ấy" [20, tr.55]. Trong cái nhìn này, Xuân Diệu nhận thấy rõ
thơ ca cách mạng "có rất nhiều bài cổ động: Em khuyên chị, chị khuyên em; cổ
động binh lính; cổ động học sinh, thanh niên; cổ động công nhân; cổ động dân cày;
cổ động dân nghèo làm cách mạng; hiệu triệu đồng bào đánh đuổi đế quốc Pháp;
kêu gọi quốc dân, và rất nhiều bài cổ động phụ nữ"…[20, tr.56].
Trúc Chi trong "Ba mươi năm một nền thơ cách mạng" cho rằng: "Thơ
đã trở thành sự sống cho xã hội một cách thực sự. Vũ khí của thơ là ở chỗ đó. Cách
mạng đã trả về cho thơ một nhiệm vụ nặng nề là góp phần xây dựng cuộc sống, xây
mạnh rằng đó là một sự tạo nghĩa đặc biệt, trong sự giao tiếp xã hội bằng nghệ
thuật, nhằm tạo nên một tác động đặc biệt" [164, tr.23].
Phan Ngọc thì nhìn thấy khả năng tác động như là một thuộc tính của thơ.
Trong quyển "Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ", ông viết: “Thơ là một
cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm
xúc và, phải suy nghĩ…” [102, tr.29]. Theo ơng, sở dĩ, có những câu thơ được nhớ đến
hàng ngàn năm là nhờ cách tổ chức ngôn ngữ của nó.
Trong "Phong cách học Tiếng Việt", Đinh Trọng Lạc cho rằng “tính cụ
thể hóa nghệ thuật là thuộc tính rộng lớn nhất của lời nói nghệ thuật. Nó giải thích
bản chất sự tác động của từ ngữ nghệ thuật đến người đọc (...). Sự cụ thể hóa nghệ
thuật được thực hiện nhờ cách lựa chọn và tổ chức các phương tiện ngơn ngữ (...),
do đó, thơ đặc biệt sử dụng biện pháp trùng điệp ở các cấp độ để nhấn mạnh, để
xốy sâu những ý tình, những hình tượng mà nhà thơ cho là quan trọng” [71, tr.154,
158].
Cơng trình "Ngữ pháp của thơ" của Nguyễn Thế Lịch đã nghiên cứu các
hình thức nghệ thuật như những đặc điểm ngữ pháp của thơ được các nhà thơ
thường xuyên sử dụng. Đó là con đường "từ ngữ liệu thơ ca rồi khái qt thành mơ
hình của "ngữ pháp thơ" [84, tr.16]. Bài viết trình bày lần lượt các vấn đề về đơn vị
của ngữ pháp thơ, việc sử dụng các dấu câu, hiện tượng tỉnh lược thành phần, dùng
cấu trúc đối, đảo, điệp, sử dụng hạn chế các hư từ, cấu trúc dòng thơ và bài thơ, các
kiểu câu cảm thán, câu hỏi tu từ, sự kết hợp bất thường, sự đổi mới cấu trúc câu
thơ… Ông thừa nhận trùng điệp là một dạng thức tác động hiệu quả vào tình cảm
của người đọc: “hai tiếng “khi mô” (trong bài "Tiếng hát sơng Hương") được nhắc
lại mấy lần để xốy sâu vào lòng người đọc nỗi day dứt, lòng mong mỏi ngày được
giải thốt khỏi cuộc đời ơ nhục của cơ gái trên sơng Hương” [84, tr.59]. Tuy nhiên,
cơng trình này không đi sâu sát vào các đặc trưng ngữ pháp có xu hướng tác động.
Trong "Phong cách học và phong cách chức năng Tiếng Việt", Hữu Đạt
tác động. Với luận văn này, chúng tơi hy vọng được góp vào diễn đàn nghiên cứu
thơ ca một tiếng nói nhỏ, nhưng phần nào cũng làm cho lý luận thơ ca Việt Nam
ngày thêm phong phú hơn, đầy đặn hơn và mới mẻ hơn.
3. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Thế giới thơ ca vô cùng phong phú, đa dạng và phức tạp, bước chân vào
lãnh địa này trong một khoảng thời gian nhất định và trong phạm vi một luận văn
tốt nghiệp, người viết chỉ tập trung vào việc tìm hiểu những vấn đề liên quan đến
khả năng tác động của thơ ca. Cụ thể là thông qua một số ý kiến về thơ của các nhà
nghiên cứu lý luận, các nhà ngôn ngữ học, các nhà sáng tác ở trong và ngoài nước
cũng như từ thực tế lịch sử thơ Việt Nam suốt mấy ngàn năm qua... để khẳng định
thơ ca là một nghệ thuật có khả năng tác động cao. Đồng thời, trong khi tìm hiểu
các yếu tố làm nên sức mạnh tác động của thơ, luận văn liên hệ với các bài thơ,
đoạn thơ, câu thơ của các nhà thơ Việt Nam. Ở chương 3, luận văn khảo sát thơ Tố
Hữu để làm sáng tỏ vấn đề.
4. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Về ý nghĩa lý luận, luận văn góp một tiếng nói khẳng định ý nghĩa của
thơ trong đời sống con người. Thơng qua q trình tìm hiểu những quan niệm của
đơng đảo các học giả từ xưa đến nay, luận văn hướng đến tìm hiểu trạng thái và
nhu cầu tác động của nhà thơ khi sáng tác; đồng thời khẳng định rằng thơ ca là một
nghệ thuật có sức mạnh tác động đáng kể, góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu
tranh giữ nước Việt Nam trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc.
- Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn góp thêm hướng nghiên cứu về thi pháp
bằng việc tìm hiểu các yếu tố nghệ thuật nổi bật nhất có khả năng tạo nên ấn tượng
sâu đậm và tác động mạnh mẽ vào công chúng. Mặc dù người ta vẫn đã và đang
sáng tác và thưởng thức thơ, nhưng lý thuyết về thi pháp thơ nhìn từ góc độ tác
động sẽ góp phần đáng kể cho quá trình sáng tác của các nhà thơ đương đại và
trong tương lai – nhất là khi thị hiếu thẩm mỹ của công chúng ngày càng được
nâng cao và quy luật đào thải càng trở nên nghiệt ngã.
Chương 1
SỨC MẠNH TÁC ĐỘNG CỦA THƠ
1.1
Sức tác động của thơ:
Là một trong những loại hình nghệ thuật đến với lồi người sớm nhất, thơ
chiếm lấy một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của con người ngay từ khi
họ biết sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với nhau. Cho đến hôm nay, sau một chặng
đường rất dài, nhìn lại, ta vẫn thấy thơ cịn đó ở bên mình. Thơ vẫn rất thủy chung,
vẫn đằm thắm dịu dàng len lỏi qua dòng xiết nghiệt ngã của cuộc đời để đến với trái
tim người đọc. Thơ giăng mắc trong lòng người những cảm thức tinh tế về cái
Chân, cái Thiện, cái Mỹ; thơ gợi thức trong lòng người những hồi niệm xa xơi,
những ước mơ đẹp đẽ; thơ thôi thúc, giục giã trong ta những lý tưởng, kêu gọi ta
hành động phụng sự Tổ Quốc... và rồi dần dần, con người không thể sống thiếu thơ.
Bằng sức mạnh của riêng mình, thơ đã góp phần nâng cuộc sống này lên như một
thiên chức đáng tự hào. Mỗi một lần ngối nhìn lại thơ ca là mỗi một lần chúng ta
khơng khỏi ngạc nhiên vì sức mạnh ấy.
1.1.1 Trong suy nghĩ của nhiều học giả xưa nay
Thơ được viết ra để thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của con người: nhu
cầu thưởng thức cái đẹp, nhu cầu nâng cao tri thức, nhu cầu tiếp thu và khám phá
thế giới tình cảm của con người v.v… Mỗi bài thơ được thai nghén từ những trăn
trở, suy tư, những trải nghiệm đầy nỗi niềm và thấm trong từng câu chữ là những
giọt mồ hôi, giọt nước mắt của người sinh ra nó. Nhưng mọi sáng tạo đó chỉ trở nên
thật sự hữu ích cho xã hội lồi người khi nó có thể góp phần nâng cuộc sống lên,
góp phần khiến cho người càng Người hơn. Sức mạnh của thơ thật vơ cùng, và
trong thực tế, nó khơng chỉ giáo dục đạo đức, rèn luyện nhân cách cho con người
mà nó cịn góp phần tác động vào tư tưởng, quan điểm, lập trường của con người, từ
đó mà cải tạo xã hội. Thật ra, người ta đã phải trải qua thật nhiều những tranh luận,
nhiều thể nghiệm để khẳng định chân lý ấy. Tuy nhiên, thơ ca là một lĩnh vực nhạy
đi tìm lẽ sống, không ngừng suy nghiệm về lẽ đời, về con người. Tác phẩm của họ những bài thơ được viết ra để chuyển tải những thơng điệp đó đến loài người. Một
bài thơ không chỉ dừng lại ở ý nghĩa khiến người ta thỏa mãn những thị hiếu thẩm
mỹ của người đọc mà nó cịn có ý nghĩa “giao tranh để đồn kết mọi người” [143,
tr.79]. Thơ khơng phải là những bài đạo đức khô khan phục vụ cho một chế độ, một
giai cấp nào nhưng nó lại có sức mạnh tuyệt đối để “khiến con người, tất cả mọi
người thành ra thuần khiết” [143, tr.80].
Từ hướng tác động vào con người, thơ ca đi đến khả năng thay đổi xã hội. Ít
nhiều các nhà làm chính trị từ xưa đến nay vẫn nhìn thơ như một thế mạnh thuộc
một lĩnh vực tinh thần phong phú khơng những có khả năng xâm nhập và làm thay
đổi đời sống tinh thần con người mà thậm chí cịn làm thay đổi cục diện xã hội. Các
nhà tư tưởng phương Đông cổ đại cho rằng, cuộc sống bình yên hay loạn lạc bắt
nguồn từ trong tư tưởng mà ra và trong đó, thơ là một yếu tố có khả năng gây ảnh
hưởng khơng nhỏ. Tuân Tử nghĩ rằng những âm thanh gian trá sẽ làm loạn nhân
sinh và ngược lại, những âm thanh tốt đẹp có khả năng cảm hóa con người, làm cho
cuộc sống bình yên. Quan niệm của Tuân Tử khẳng định chắc chắn khả năng tác
động của nghệ thuật: bất kể là xấu hay tốt, tác phẩm nghệ thuật có sức mạnh lớn lao
đối với tính “an” hay “loạn” của xã hội. Cùng quan điểm đó, Khổng Tử chủ trương
truyền dạy đạo đức, khiến người, giúp người tu thiện, rèn luyện nhân cách bằng
kinh sách. Một trong những cách thức “tu thân” mà Khổng Tử đề ra cho học trò là
đọc sách, đọc thơ, đọc Kinh Thi và bàn luận về Kinh Thi để nâng cao tri thức: “Bất
học thi, vô dĩ ngơn” [93, tập 1, tr.39]. Ở góc độ lý luận văn học mà nhìn, ta thấy
Khổng Tử đã rất xem trọng khả năng tác động của thơ ca và đề xướng một quan
niệm văn học tuyên truyền và bảo vệ chế độ, đạo đức, lễ giáo phong kiến. Mặc Tử
đề cao khả năng tác động đến mức xem nhẹ hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Ơng
cho rằng: “Một thành tựu về mặt sáng tạo là khéo léo nếu nó bổ ích cho con người,
và nó là thơ lỗ nếu nó khơng bổ ích” [93, tập 1, tr.45]. Trong khi đó thì Hàn Phi Tử lại
chủ trương bài trừ văn nghệ triệt để. Hàn cho rằng: “Nếu tôn chuộng kẻ sĩ, thi, thư
của một nền phong hóa suy đồi” [61, tr.101] cịn Hồng Nhậm cho rằng thơ hay phải
“làm khóc được quỷ thần” và “thông suốt trời đất” [61, tr.88]. Ta thấy rằng, sự liên
kết giữa thơ ca, chính trị và đạo đức là cái gốc để các thi nhân ngày xưa hướng ý đồ
tác động của mình đến độc giả mỗi khi sáng tác. Cảm hứng của nhà thơ được khơi
nguồn từ những điều tai nghe mắt thấy, từ những tồn vong của một triều đại, một
dân tộc và từ những buồn vui, sướng khổ của nhân dân. Theo đà phát triển của lịch
sử, thơ không những được xem là phương tiện giáo dục mà thơ cịn là vũ khí góp
phần đấu tranh và phát triển xã hội. Sức mạnh tạo nên ý nghĩa xã hội cao q cho
thơ cịn ở chỗ nó có thể cải tạo xã hội. Tóm lại, cách nói của người xưa tuy chỗ đậm
chỗ nhạt nhưng cũng đã thừa nhận khả năng tác động của thơ vào xã hội như là một
bản chất vốn có. Khi bày tỏ ý kiến về thơ, họ có cả một bề dày sáng tác ở phía sau.
Lời họ nói là những lời được trải nghiệm từ những hoạt động xã hội của một chính
trị gia, hoặc là lời gan ruột của thi nhân về cái nghiệp cầm bút của mình. Về mặt
này, các ý kiến của người đi sau cũng gặp gỡ những người đi trước. Ý nghĩa, vai trò
của thơ ca đã được thế hệ cha ông ta đặt ra từ rất lâu và ngày nay được nhận thức lại
từ góc nhìn của hệ tư tưởng mới.
R. Jakobson trong cơng trình “Ngôn ngữ và thi ca” đã nghiên cứu thơ ca từ
góc độ lý thuyết giao tiếp của ngơn ngữ và khẳng định “ngôn ngữ phải được nghiên
cứu trong tất cả các chức năng khác nhau của nó” [33, tr.110]. Chính ông cũng xác
định chức năng kêu gọi là một trong sáu chức năng cơ bản của sự giao tiếp ngôn
ngữ. Bàn về chức năng này, ông khẳng định, "sự hướng tới người nhận – chức năng
kêu gọi – tìm được sự thể hiện thuần túy ngữ pháp trong hình thức hô cách và mệnh
lệnh cách [33, tr.113]. Theo ông, một bài thơ, bên cạnh chức năng thơ vốn là chủ đạo,
cịn có những chức năng ngơn ngữ khác. Tùy vào đặc điểm của thể loại thơ khác
nhau mà có những chức năng khác nhau: thơ sử thi chủ yếu dựa vào chức năng giao
tiếp của ngơn ngữ; thơ trữ tình gắn bó chặt chẽ với chức năng biểu cảm; “thơ của
ngơi thứ hai” thấm đẫm chức năng kêu gọi: nó hoặc là cầu xin, hoặc là giáo huấn.
Theo quan niệm của Jakobson, các chức năng nhận thức, biểu cảm và tác động là
bắt nguồn từ sự dấn thân của hành vi sáng tạo. Sứ mạng cao cả của những người
cầm bút, theo Sartre là phải dấn thân vào công cuộc đấu tranh của xã hội: “Văn học
phải phục vụ cho đấu tranh, nhiệm vụ của nhà văn là vận dụng các loại hình thức
văn học để phơi bày cái thế giới này cho mọi người xem, để cứu vãn cái thế giới
này”, “Chỉ có nghệ thuật cho người khác và bởi người khác” [120, tr.132]. Quan niệm
dấn thân của Sartre xác định thái độ và quan hệ của nhà thơ đối với xã hội từ nhu
cầu, trách nhiệm tự bóc lộ mình, bóc lộ khơng phải để cho mình mà cho cả người
đọc để từ đó mà cải tạo xã hội.
Sau này, các nhà cách mạng Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ
Nguyên Giáp… trong rất nhiều bài viết, bài phát biểu của mình đều thống nhất một
quan niệm xem văn nghệ là một hoạt động phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc. Theo đó, “văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là
chiến sĩ trên mặt trận ấy", "văn thơ phải phụng sự kháng chiến, phụng sự nhân dân”
[176, tr.67]. Hồ Chí Minh khơng ngừng nhắc nhở đội ngũ sáng tác khơng ngừng mài
sắc ngịi bút của mình để trở thành “những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phị
chính trừ tà” [176, tr.53], không ngừng viết “để giáo dục, giải thích, cổ động, phê
bình, để phục vụ quần chúng” [176, tr.69]. Nhận thấy văn học có khả năng đi sâu vào
ý nghĩ, tình cảm của con người, có khả năng làm tốt cơng tác tư tưởng trên mặt trận
văn hố, Hồ Chí Minh và những lãnh đạo Đảng rất coi trọng công tác văn học. Do
yêu cầu của cách mạng nên sức tác động của thơ ca, nhất là nhiệm vụ cổ động tuyên
truyền rất được đề cao: “Văn hóa phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào
việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng [176, tr.101]. Đồng chí
Trường Chinh thường bày tỏ mối quan tâm sâu sắc đến văn nghệ tuyên truyền. Ông
kêu gọi sáng tác những tác phẩm nghệ thuật thiết thực, gắn bó với quần chúng nhân
dân “như nước uống, khí trời”. Bởi “nhân dân ta đang trông chờ những tác phẩm cổ
vũ lòng yêu nước nồng nàn, những tác phẩm văn nghệ tố cáo một cách sắc bén chế
độ tàn khốc của Mỹ - Diệm” [176, tr.178, 180]. Các ý kiến trên không dừng lại từng
như con sông chảy qua nhiều phong cảnh khác nhau của lịch sử, và mỗi thời điểm
mà nó đi qua đã tạo nên một sắc thái riêng, mang đến những ý nghĩa đặc biệt đối
với sự tồn vong của dân tộc. Những tác động mạnh mẽ, những ảnh hưởng sâu rộng
vào lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của thơ Việt Nam là một minh chứng
hùng hồn cho sức mạnh của nền thơ ca dân tộc.
Thơ của các nhà thơ lớn có sức mạnh của một tầm tư tưởng lớn, bao quát
khắp nhiều lĩnh vực: khoa học, sử học, chính trị, văn hóa, qn sự… Những tác
phẩm ấy gắn liền với những biến động của thời cuộc, bên cạnh khả năng khơi dậy
những rung động thẩm mỹ, nó cịn dần dà tác động, cảm hóa tư tưởng con người.
Như thể đáp ứng lòng mong mỏi của nhà thơ, hàng triệu triệu độc giả đã lĩnh hội và
lan truyền đi, từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác. Ở phương
Đông lẫn phương Tây đã có những thi phẩm có khả năng chi phối tư tưởng và sinh
hoạt tinh thần của cả một thời đại. Nhiều quyển sách mạnh hơn giáo gươm, nhiều
tác phẩm dấy lên những cuộc cách mạng tinh thần. Paul Bourget khẳng định: “Đời
sống tinh thần trong một xã hội văn minh gồm nhiều nhân tố hợp lại. Văn chương là
một nhân tố ưu đẳng. Quyển sách là một người hướng dẫn quan trọng vô cùng”
[161, tr.53]. Trong ý nghĩa ấy, thơ đã góp phần khơng nhỏ vào sự nghiệp dựng nước
và giữ nước của dân tộc. Nhìn lại truyền thống thơ ca của dân tộc, ta tự hào trước
lấp lánh những hồn thơ minh triết của ông cha – những hồn thơ mạnh mẽ như sóng
cồn, đã tác động vào tư tưởng chúng ta, chỉ cho ta những nẻo vào đời, vực dậy và
hâm nóng trong ta bầu nhiệt huyết tuổi trẻ, cuốn ta vào đại cuộc bằng tinh thần ái
quốc quên thân.
Từ khi văn học thành văn đến hết thế kỷ XX, thơ Việt Nam đã trải qua
nhiều chặng đường phát triển với những thành tựu khác nhau nên sức mạnh tác
động của thơ vì vậy mà cũng thăng trầm. Đơi lúc, thi nhân phải đơn độc tìm đường,
cất lên tiếng thơ lẻ bạn nhưng cũng có lúc thơ ca phát triển thành những phong trào
mạnh mẽ, thậm chí, có nhiều bài thơ tuy khơng biết tên tác giả nhưng vẫn cứ được
giải phóng dân tộc khỏi ách bóc lột của ngoại bang. Đối ngoại, ơng chủ trương
"mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng" bằng những lập luận sắc bén, hào
hùng. Ông giáng lên đầu giặc những địn nặng nề khiến chúng phải kinh hãi, hạ vũ
khí và lui về nước. Đối nội, ông truyền dạy cho nhân dân những bài học nhân nghĩa
ở đời, nêu cao tinh thần khẳng khái trung qn, ái quốc. "Bình Ngơ đại cáo" của
Nguyễn Trãi là tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc Việt Nam, là một áng "thiên
cổ hùng văn" của dân tộc với khí phách dời non lấp bể và chiến công vang dội đất
trời. Tội ác kẻ thù khiến người ta căm phẫn, niềm tự hào của nhà thơ cuốn người ta
tự hào theo, và lòng nhân ái của nhà thơ khiến người ta nể phục. Càng đọc "Bình
Ngơ đại cáo" ta càng thấy gần gũi, yêu mến nhân dân theo tư tưởng thân dân cao cả
của nhà thơ: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo, (…),
Ta mưu phạt tâm cơng, khơng chiến cũng thắng, Nó đã tham sống sợ chết, thực
bụng cầu hịa, Ta coi tồn qn là hơn, để nhân dân nghỉ sức" [169, tr.23]. "Bình
Ngô đại cáo" đã tiếp thêm cho nhân dân ta sức mạnh, niềm tin vào chính nghĩa, vào
tinh thần quật khởi của giống nòi trước thế lực tàn bạo của kẻ thù mà đứng dậy tiến
công.
Sau Nguyễn Trãi, sự nghiệp của các nhà thơ lớn Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương đều có tác động đáng kể đối với công chúng. Nguyễn
Bỉnh Khiêm dùng văn thơ để giáo huấn, truyền thụ đạo lý cho nhân dân khi chứng
kiến sự suy yếu và thối nát của chế độ phong kiến. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm được
viết ra với hy vọng vực lại đạo đức, phong hóa suy đồi để xoay được cái thế thiên
hạ. Người đời sau vẫn chịu ảnh hưởng tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, vẫn nhớ đến
phong vị riêng của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm bởi những lời triết lý và giáo huấn sâu
sắc. Họ ln tìm thấy trong mỗi bài thơ của ông một lẽ biến dịch, tương sinh, tương
khắc; một lời răn dạy; một lời mỉa mai chê trách; một quan niệm nhân sinh... Sức
tác động nhẹ nhàng ấy của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã giúp người ta tự răn mình, tự
dạy mình thành "nhân". Đặc biệt, đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã nâng thơ thành
tiếng kêu thương, thành tiếng nói nói hộ nỗi khổ đau của nhân tình thế thái. Với