1
Bộ giáo dục và đào tạo Bộ nông nghiệp và ptnt
Trờng Đại học Lâm nghiệp
----
-Hà Tây 2002-
GIÔÙI THIEÄU VEÀ TAØI LIEÄU
Tài liệu bạn đang xem được download từ website WWW.AGRIVIET.COMWWW.MAUTHOIGIAN.ORG »Agriviet.com là website chuyên đề về nông nghiệp nơi liên kết mọi thành viên
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chúng tôi thường xuyên tổng hợp tài liệu về tất cả
các lĩnh vực có liên quan đến nông nghiệp để chia sẽ cùng tất cả mọi người. Nếu tài liệu
bạn cần không tìm thấy trong website xin vui lòng gửi yêu cầu về ban biên tập website để
chúng tôi cố gắng bổ sung trong thời gian sớm nhất.
»Chúng tôi xin chân thành cám ơn các bạn thành viên đã g
ửi tài liệu về cho chúng tôi.
Thay lời cám ơn đến tác giả bằng cách chia sẽ lại những tài liệu mà bạn đang có cùng
mọi người. Bạn có thể trực tiếp gửi tài liệu của bạn lên website hoặc gửi về cho chúng tôi
nhân chủ yếu của mất rừng là sự can thiệp thiếu hiểu biết của con ngời. Với
điều kiện sống nghèo đói ngời ta đã khai thác rừng một cách quá khả năng phục
hồi của nó. Ngoài ra, cũng có những nguyên nhân liên quan tới tính không hợp
lý của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hoặc những biện pháp về kinh tế xã hội
thiếu khoa học đã làm gia tăng những tác động tiêu cực đến rừng.
Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng một trong những giải pháp tốt
nhất cho bảo vệ và phát triển rừng là kinh doanh lâm sản ngoài gỗ. Nó cho phép
tạo đợc nguồn thu nhập kinh tế ổn định cho ngời dân miền núi trong khi vẫn
bảo vệ và phát triển đợc rừng. Kinh doanh lâm sản ngoài gỗ đang nhận đợc sự
hởng ứng tích cực của ngời dân miền núi.
Thảo quả là loài cây cho lâm sản ngoài gỗ có thân thảo, sống lâu năm dới
tán rừng. Chiều cao trung bình có thể đạt đến 2-3m. Hạt thảo quả đợc dùng làm
dợc liệu và thực phẩm có giá trị. Trong những năm gần đây thảo quả đã đợc
xuất khẩu ra nớc ngoài với sản lợng hàng trăm tấn mỗi năm. Nó đã trở thành
nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình vùng cao ở các tỉnh Lào Cai,
Yên Bái, Hà Giang.
Thảo quả cũng là loài cây chỉ có thể sinh trởng, phát triển và cho năng
suất cao khi sống dới tán rừng. Do đó, để trồng và phát triển thảo quả đòi hỏi
ngời dân phải bảo vệ và phát triển rừng. Vì vậy, thảo quả đã đợc đánh giá nh
một yếu tố quan trọng vừa góp phần phát triển kinh tế xã hội vùng cao, vừa góp
phần bảo vệ và phát triển rừng. Với nhận thức trên, Nhà nớc đã có chủ trơng
khuyến khích các địa phơng gây trồng thảo quả. Nhà nớc không chỉ tuyên
3
truyền về giá trị kinh tế và sinh thái của thảo quả, mà còn quy hoạch vùng sản
xuất thảo quả, xây dựng các mô hình trình diễn, cho vay vốn gây trồng và cho
phép xuất khẩu thảo quả v.v...
Tuy nhiên, do cha hiểu biết đầy đủ về đặc điểm sinh thái của thảo quả
mà việc gây trồng và phát triển loài cây này đang gặp không ít khó khăn. Trong
a) Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ
Trớc đây, ngời ta coi gỗ là sản phẩm chính của rừng, còn các lâm sản
khác nh song, mây, dầu, nhựa, sợi, lơng thực, thực phẩm, dợc liệu v.v... do
có khối lợng nhỏ lại ít đợc khai thác, nên thờng coi là sản phẩm phụ của
rừng. Ngời ta gọi chúng là lâm sản phụ (minor forest products) hoặc đặc sản
rừng (special forest products). Trong những thập kỷ gần đây, rừng bị tàn phá
mạnh, gỗ trở nên hiếm và sử dụng ít dần, nhiều nguyên liệu khác nh kim loại và
các chất tổng hợp dần dần thay thế gỗ trong công nghiệp và các ngành khác.
Trong khi đó các "Lâm sản phụ" đợc sử dụng ngày càng nhiều hơn và với
những chức năng đa dạng hơn. Một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy nếu đợc
quản lý tốt thì nguồn lợi từ Lâm sản phụ hoàn toàn không nhỏ, đôi khi còn lớn
hơn cả gỗ. Vì vậy, để khẳng định vai trò của các "Lâm sản phụ" ngời ta đã sử
dụng một thuật ngữ mới thay cho nó là " Lâm sản ngoài gỗ" ("Non- timber forest
products" hay "Non-wood forest products").
Các nhà khoa học đã đa ra những khái niệm khác nhau về lâm sản ngoài
gỗ. Theo Jenne.H. de Beer (1992[45]) Lâm sản ngoài gỗ đợc hiểu là toàn bộ
động vật, thực vật và những sản phẩm khác ngoài gỗ của rừng đợc con ngời
khai thác và sử dụng. Năm 1994, trong hội nghị các chuyên gia lâm sản ngoài
gỗ của các nớc vùng Châu á- Thái Bình Dơng họp tại Bangkok, Thái Lan đã
thông qua khái niệm về lâm sản ngoài gỗ nh nh sau: " Lâm sản ngoài gỗ bao
gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than. Lâm sản
ngoài gỗ đợc khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ. Vì vậy, các
sản phẩm nh cát, đá, nớc, du lịch sinh thái không phải là các lâm sản ngoài
gỗ". Để có một khái niệm chung và thống nhất, hội nghị do tổ chức Nông lơng
5
thế giới tổ chức vào tháng 6/1999 đã đa ra khái niệm về lâm sản ngoài gỗ nh
sau: "Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác
gỗ, đợc khai thác từ rừng, đất có rừng và các cây thân gỗ".
Sau nhiều năm nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ Jenne.H. de Beer
trị. Theo Mendelsohn chính điều này đã làm cho lâm sản ngoài gỗ trớc đây bị
lu mờ và ít đợc chú ý đến.
Các kết quả nghiên cứu đã phác thảo một bức tranh về lâm sản ngoài gỗ
trên thế giới với số lợng khổng lồ các giống loài. Chúng có dạng sống, đặc
điểm sinh thái và giá trị sử dụng vô cùng đa dạng. Tính phong phú của lâm sản
ngoài gỗ có ý nghĩa lớn trong giai đoạn hiện nay. Nó chứng tỏ một tiềm năng
lớn không chỉ cho phát triển kinh tế, mà còn cho việc xây dựng những hệ sinh
thái có tính ổn định và bền vững cao. Đây cũng là cơ sở cho các nhà khoa học
tiến hành những nghiên cứu đầy đủ hơn về lâm sản ngoài gỗ ở mỗi khu vực.
- Về giá trị của lâm sản ngoài gỗ:
Hầu hết mọi ngời đều thừa nhận lâm sản ngoài gỗ nh một yếu tố quan
trọng cho phát triển kinh tế xã hội miền núi. ở Ghana, lâm sản ngoài gỗ có vai
trò cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng,v.v... đồng thời cũng
chiếm gần 90% nguồn thu nhập của các hộ gia đình (Falconer, 1993[49]). Lâm
sản ngoài gỗ cũng là một bộ phận của rừng, nếu lâm sản ngoài gỗ đợc sử dụng
một cách hợp lý thì nó đóng vai trò to lớn trong quá trình phục hồi và phát triển
rừng ở các nớc đang phát triển. Lâm sản ngoài gỗ đợc các nhà nghiên cứu coi
nh một yếu tố góp phần bảo tồn rừng và phát triển bền vững ở miền núi nhiệt
đới (Clark, 1997; Mendelsohn, 1989[71]). Khi nghiên cứu ở lu vực sông Công
gô ở Cameroon, L.Clark kết luận:" Sự phát triển của lâm sản ngoài gỗ là một yếu
tố đóng góp vào sự bảo tồn của hệ sinh thái rừng". Trong nghiên cứu của mình,
Mendelsohn (1989[71]) đã cho thấy ngời ta có thể gặp một đám sản phẩm có
giá trị rất cao. Peter (1989[71]) đã tìm thấy những khu rừng với 5 loài cây có giá
trị kinh tế cao ở vùng Amazon của Peru. Hàng năm chúng cho thu nhập từ 200 -
6000 USD/ha. Myers (1980[67]) ớc lợng khoảng 60% tổng sản phẩm phi gỗ
đợc tiêu thụ bởi ngời địa phơng và không bao giờ tính ra tiền mặt. Rõ ràng là
ngựời dân địa phơng đã đạt đợc lợi ích cơ bản của họ từ những khu rừng kế
cận. Đối với nền kinh tế của một số nớc vai trò của lâm sản ngoài gỗ đã đợc
khẳng định chẳng hạn ở Thái Lan trong năm 1987 đã xuất khẩu lâm sản ngoài
7
Nh vậy, các nghiên cứu đều đa ra nhận định lâm sản ngoài gỗ có một
vai trò to lớn, nó không phải là sản phẩm "Phụ", mà là một trong những sản
phẩm chính của rừng, có ý nghĩa đến quá trình phát triển kinh tế xã hội miền núi
và góp phần vào bảo tồn và phát triển rừng.
Gần đây, những phát hiện mới về tiềm năng của lâm sản ngoài gỗ nh khả
năng phục hồi nhanh, cho thu hoạch sớm với năng suất kinh tế cao và ổn định,
có khả năng kinh doanh liên tục, phù hợp với quy mô hộ gia đình và đặc biệt là
việc khai thác chúng gần nh không tổn hại đến rừng đã thúc đẩy nhiều nhà
khoa học tham gia vào nghiên cứu phát triển lâm sản ngoài gỗ. Phần lớn các
nghiên cứu đều tập trung ở các nớc nhiệt đới, nơi mà tiềm năng về lâm sản
ngoài gỗ phong phú nhất, còn việc khai thác gỗ lại thờng gây tổn hại nhiều nhất
đối với hệ sinh thái rừng.
- Về kiến thức bản địa:
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về kiến thức bản địa liên quan
đến lâm sản ngoài gỗ. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, kiến thức bản địa về gây
trồng, phát triển và sử dụng lâm sản ngoài gỗ của ngời dân là rất quan trọng
trong quá trình quản lý và sử dụng lâm sản ngoài gỗ một cách hợp lý. Bởi vì kiến
thức bản địa là những kết quả nghiên cứu đã đợc đúc kết và thử nghiệm lâu
ngày của ngời dân trên thực địa [69].
Khi nghiên cứu về kiến thức bản địa ở Ghana của Facolner (1997[49]) và
ở Lào của Roost Foppes (1997[63]), tác giả đã khẳng định: kiến thức bản địa là
những kiến thức quí báu, có giá trị trong quá trình gây trồng phát triển và sử
dụng hợp lý tài nguyên lâm sản ngoài gỗ. Tuy nhiên, để nâng cao năng suất và
tính bền vững trong quá trình sử dụng lâm sản ngoài gỗ đòi hỏi cần có sự kết hợp
giữa kết quả nghiên cứu khoa học thực sự với kiến thức bản địa.
Năm 2000 [69], J. Wong cho rằng: cách tiếp cận có hiệu quả nhất để đánh
giá nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đầu tiên là thu nhận kiến thức bản địa.
Tuy nhiên, khi sử dụng kiến thức bản địa có 3 khó khăn để cung cấp thông tin
đạt mức độ tin cậy trong khoa học, đó là: các thông tin thờng chung chung,
trên thế giới đã cho thấy đợc tiềm năng lớn lao của lâm sản ngoài gỗ ở các
nớc nhiệt đới, đã khẳng định vai trò quan trọng của lâm sản ngoài gỗ trong đời
sống kinh tế - xã hội nông thôn miền núi, coi đây là một trong những yếu tố triển
10
vọng nhất cho bảo tồn và phát triển rừng, góp phần giải quyết mục tiêu quản lý
rừng bền vững của các nớc nhiệt đới. Các nghiên cứu cũng chỉ ra những nguyên
nhân cản trở, những rào cản chính đối với việc quản lý hiệu quả tài nguyên lâm
sản ngoài gỗ ở nhiều nớc là tính chất tự do tiếp cận của lâm sản ngoài gỗ, thị
trờng lâm sản ngoài gỗ cha hoàn hảo. Ngoài ra, việc thiếu những thông tin đầy
đủ đã làm cho nhiều ngời cha nhận thức đầy đủ về giá trị của lâm sản ngoài
gỗ, trong đó có cả những ngời lập chính sách.
Cho đến nay phát triển lâm sản ngoài gỗ đợc xem là một trong những nội
dung của chiến lợc quản lý rừng bền vững theo hớng "Bảo tồn có khai thác".
Tuy nhiên, những chính sách cho phát triển lâm sản ngoài gỗ thực sự là cha
đợc chú ý đúng mức. Biểu hiện của nó mới dừng ở mức nhà nớc cho phép khai
thác lâm sản ngoài gỗ ở hầu hết các loại rừng, kể cả rừng phòng hộ, giảm thuế
với các hàng hoá lâm sản ngoài gỗ, tăng cờng nghiên cứu những kiến thức có
liên quan đến lâm sản ngoài gỗ, tăng cờng phổ cập cho nông dân kỹ thuật khai
thác, chế biến và tiêu thụ các lâm sản ngoài gỗ v.v... Ngời ta nhận thấy còn
thiếu những nghiên cứu đầy đủ về kỹ thuật, chính sách cho phát triển lâm sản
ngoài gỗ, trong đó có chính sách sử dụng tài nguyên, chính sách quản lý cộng
đồng, chính sách thị trờng, chính sách ngân hàng tín dụng, chính sách khoa học
công nghệ, chính sách dân tộc, chính sách về giới v.v... có liên quan đến phát
triển lâm sản ngoài gỗ.
Trong những năm gần đây, xu hớng nghiên cứu của thế giới là các
nghiên cứu nhằm phát triển bất kỳ một sản phẩm nào luôn luôn phải đợc nhìn
nhận toàn diện. Một sản phẩm đợc phát triển không chỉ đợc nghiên cứu đầy đủ
về yếu tố kỹ thuật mà cả yếu tố xã hội. Về kỹ thuật phát triển lâm sản ngoài gỗ,
do tính đa dạng của lâm sản ngoài gỗ, các nghiên cứu kỹ thuật về lâm sản ngoài
sản ngoài gỗ là các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật lấy từ rừng hoặc đất rừng,
nó không bao gồm gỗ, củi, than gỗ và các sản phẩm không có nguồn gốc sinh
vật. Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các nhóm tre nứa, mây song, cây thuốc, cây làm
thực phẩm, gia vị, tinh dầu, dầu béo, nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây
cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các sản phẩm của chúng).v.v..".
Khác với định nghĩa của J.H. de Beer, ở Việt Nam các tác giả đã không xếp củi
và than gỗ vào lâm sản ngoài gỗ trong khi đó khi nghiên cứu ở khu bảo tồn thiên
12
nhiên Kẻ Gỗ, Hà Tĩnh, một số chuyên gia đã xếp củi và than gỗ trong nhóm lâm
sản ngoài gỗ [28].
b) Nghiên cứu phát triển lâm sản ngoài gỗ
- Về đa dạng lâm sản ngoài gỗ và cách phân loại:
Với vai trò quan trọng của lâm sản ngoài gỗ trong thời đại hiện nay, việc
làm trớc tiên để phát triển chúng là cần nghiên cứu xác định và phân loại đợc
toàn bộ lâm sản ngoài gỗ, sau đó tập trung nghiên cứu một số loại lâm sản ngoài
gỗ có thế mạnh ở nớc ta. Các kết quả nghiên cứu cho thấy lâm sản ngoài gỗ ở
Việt Nam rất phong phú đa dạng.
Từ năm 1996 -2000, khi nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ, một số nhà khoa
học tại Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản đã xác định đợc danh lục các loài
lâm sản ngoài gỗ, trong đó có khoảng 40 loài tre nứa, 40 loài song mây, 60 loài
cây có chứa ta nanh, 260 loài cho dầu và nhựa, 160 loài chứa tinh dầu, 70 loài
chứa chất thơm và hàng trăm loài làm thức ăn (Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc
sản, 2000[36]).
Đến năm 2000, theo tài liệu của Viện Dợc liệu, Việt Nam đã phát hiện
đợc 3830 loài cây làm thuốc thuộc 1033 chi, 236 họ và 101 bộ, 17 lớp, 11
ngành thực vật. Con số này đang ngày càng đợc bổ sung nhiều hơn (Trần Công
Khánh, 2000[18]). Đây là những công trình có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để
phát hiện và đánh giá tiềm năng các loài lâm sản ngoài gỗ ở nớc ta, từ đó đề
xuất phơng hớng phát triển lâm sản ngoài gỗ cho từng khu vực một cách khoa
Việt Nam. Mặc dù còn một vài điểm cha thật hợp lý nh: coi shellac (loại nhựa
cánh kiến đỏ đã đợc chế biến) là sản phẩm có nguồn gốc thực vật.
Căn cứ vào danh mục phân loại lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam đã đợc ban
hành, Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản đã dựa vào tính chất của sản phẩm để
đa ra hệ thống phân loại nh sau: lâm sản ngoài gỗ gồm 2 hệ là hệ cây rừng và
hệ động vật rừng. Hệ cây rừng có 4 nhóm: nhóm cây rừng cho nhựa, tinh dầu, ta
nanh; nhóm cây rừng cho dợc liệu; nhóm cây rừng cho nguyên liệu làm các loại
hàng tiểu thủ công và mỹ nghệ; các sản phẩm công nghiệp đợc chế biến từ
nguyên liệu là các loại cây rừng. Hệ động vật rừng gồm 2 nhóm: nhóm động vật
rừng cho da, lông, xơng, ngà, thịt, xạ, mật; nhóm các sản phẩm đợc chế biến
từ nguyên liệu do các loại động vật rừng cung cấp và shellac đợc xếp vào một
14
nhóm riêng [36]. Theo cách phân loại này, thảo quả đợc xếp vào nhóm cây
dợc liệu. Trong khi đó, nhóm cây dợc liệu có rất nhiều loài, có những loài có
giá trị cao, có loài có tiềm năng lớn. Vì vậy, cách phân loại này cha nêu lên giá
trị đầy đủ của từng loại lâm sản ngoài gỗ.
Năm 2001[12] , Vũ Văn Dũng, Hoàng Hữu Nguyên và Trịnh Vỹ đã đề
xuất cách phân loại mới. Theo các tác giả, lâm sản ngoài gỗ đợc chia ra làm 6
nhóm chính bao gồm:
- Nhóm 1: sản phẩm có sợi.
- Nhóm 2: sản phẩm dùng làm thực phẩm.
- Nhóm 3: các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm.
- Nhóm 4: các sản phẩm chiết xuất.
- Nhóm 5: động vật và các sản phẩm động vật không làm thực phẩm và làm
thuốc.
- Nhóm 6: các sản phẩm khác gồm cây cảnh, lá để gói thức ăn và hàng hoá.
Nhìn chung, mỗi cách phân loại đều có những tồn tại nhất định, nhng
chúng đều có ý nghĩa trong nghiên cứu về sự đa dạng, phong phú của lâm sản
ngoài gỗ, về tiềm năng phát triển ngành lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam.
Năm 1999, khi nghiên cứu ở Vờn quốc gia Ba Vì, D.A Glimour và
Nguyễn Văn Sản (1999[15]) kết luận: lâm sản ngoài gỗ là nguồn thu nhập quan
trọng đối với cuộc sống của ngời dân nông thôn. Tác giả cho rằng một trong
những nguyên nhân mất rừng, làm suy thoái đa dạng sinh học có nguồn gốc từ
đời sống khó khăn của ngời dân, lâm sản ngoài gỗ bị sử dụng không hợp lý, cạn
kiệt. Một trong những giải pháp có hiệu quả để giải quyết vấn đề đời sống khó
khăn của ngời dân mà vẫn bảo tồn và phát triển rừng bền vững ở nớc ta là phát
triển tài nguyên lâm sản ngoài gỗ.
Năm 2001, trong quá trình thực hiện dự án "Sử dụng bền vững lâm sản
ngoài gỗ " tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ và vùng đệm Vờn
Quốc gia Ba Bể các nhà nghiên cứu kết luận rằng: phát triển lâm sản ngoài gỗ là
một trong những hớng đi đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng mục tiêu nâng
cao chất lợng sống cho ngời dân, từ đó xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh
tế xã hội trong khu vực (Lê Thạc Cán và các cộng tác viên, 2001[7]).
Ngoài những đóng góp vào thu nhập nhằm cải thiện cuộc sống của ngời
dân miền núi, lâm sản ngoài gỗ còn đợc đánh giá là một yếu tố góp phần bảo
16
tồn rừng và phát triển bền vững ở miền núi nhiệt đới. Nhiều loài lâm sản ngoài
gỗ có nguồn gốc từ các dây leo, cây bụi, cây thảo, cây ký sinh hay phụ sinh sống
dới tán rừng, nên việc khai thác chúng một cách hợp lý sẽ không làm phá vỡ
cấu trúc của rừng. Do đó rừng kinh doanh lâm sản ngoài gỗ vẫn duy trì đợc vai
trò bảo vệ môi trờng và đa dạng sinh học của rừng .
Việc phát triển gây nuôi các loài động, thực vật thuộc nhóm lâm sản ngoài
gỗ đang có nguy cơ bị tiêu diệt cũng đợc coi là một hình thức bảo tồn ngoại vi
(exsitu) đáng khích lệ. Các kết quả trồng hàng vạn cây sâm ngọc linh ở huyện
Trà Mi (Quảng Nam), trồng cây hoàng liên ở Sa Pa (Lào Cai), nuôi hơu sao ở
Hà Tĩnh, nuôi nai ở Châu Sơn (Buôn Ma Thuật), nuôi trăn và cá sấu ở đồng bằng
sông Cửu Long đã thể hiện sự kết hợp giữa bảo tồn và phát triển bền vững. Một
trong những khó khăn nhất của công tác bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam hiện
- Về kiến thức bản địa:
Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã cho thấy ở Việt Nam tồn tại một
hệ thống kiến thức bản địa phong phú về lâm sản ngoài gỗ, trong đó có cả những
kiến thức về gây trồng, khai thác, chế biến, sử dụng và thị trờng. Tuy nhiên, do
đa số kiến thức bản địa đợc lu truyền bằng lời nói nên chúng thờng tản mạn,
mất dần cùng với sự suy thoái của tài nguyên lâm sản ngoài gỗ. Đến nay những
nghiên cứu về kiến thức bản địa liên quan đến lâm sản ngoài gỗ còn rất hạn chế.
- Về kỹ thuật gây trồng, thu hái và chế biến lâm sản ngoài gỗ:
Để hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật liên quan đến xây dựng mô hình
kinh doanh lâm sản ngoài gỗ có hiệu quả, năng suất cao và ổn định, không chỉ sử
dụng kiến thức bản địa mà cần dựa trên một số nghiên cứu một cách có cơ sở
khoa học với các biện pháp tiên tiến, hiện đại.
ở nớc ta, vào những năm 1950-1960, các nhà khoa học đã cố gắng
nghiên cứu nhằm tạo đợc mô hình phát triển lâm sản ngoài gỗ có hiệu quả kinh
tế cao và ổn định. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung một số loài cây
dợc liệu, cây đặc sản có giá trị cao nh thông, quế, trúc, thanh kao, sa nhân
[36]. Đây là các công trình nghiên cứu về hệ thống các biện pháp kỹ thuật làm
cơ sở cho việc gây trồng và phát triển lâm sản ngoài gỗ. Tuy nhiên các công
trình chủ yếu tập trung nghiên cứu về một số loài cây có giá trị cao lúc đó. Vẫn
18
còn nhiều loài lâm sản ngoài gỗ giá trị cao nhng cha đợc nghiên cứu đầy đủ,
trong đó có giẻ, trầm hơng, thảo quả v.v...
Nhìn chung cho đến nay còn rất ít các nghiên cứu hớng vào tìm hiểu kỹ
thuật gây trồng lâm sản ngoài gỗ ở dới tán rừng - cơ sở quan trọng cho bảo tồn
rừng bằng phát triển lâm sản ngoài gỗ.
- Về thị trờng lâm sản ngoài gỗ:
Thị trờng là một trong những thành tố quan trọng có ý nghĩa quyết định
đến việc kinh doanh và phát triển lâm sản ngoài gỗ. Năm 2001[28], khi thực hiện
dự án " Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam", nhà nghiên cứu thị
triển sản phẩm ngoài gỗ. Những chính sách khuyến khích khai thác sản phẩm
ngoài gỗ của rừng đợc thể hiện chủ yếu trong các Luật bảo vệ và phát triển
rừng và những các văn bản có liên quan đến Chính sách giao đất, khoán rừng.
Nội dung chủ yếu nhất của các chính sách đó là cho phép ngời dân đợc khai
thác lâm sản ngoài gỗ của các khu rừng, kể cả rừng do họ gây trồng hay nhận
khoán bảo vệ. Văn bản mới nhất là Quyết định của Thủ tớng chính phủ về đổi
mới tổ chức và cơ chế quản lý lâm trờng quốc doanh, ban hành ngày 16 tháng 9
năm 1999. Trong đó có quy định bên nhận khoán đất lâm nghiệp và rừng của
lâm trờng quốc doanh đợc hởng sản phẩm phụ (lâm sản ngoài gỗ) thu hái từ
rừng, đợc quyền đầu t trồng cây nông lâm kết hợp, xen ghép với cây rừng để
tăng thu nhập cải thiện đời sống. Việc cho phép tự do khai thác các lâm sản
ngoài gỗ một cách không khoa học, không có những quy định cụ thể của chính
sách nhà nớc, của quy định cộng đồng về quyền lợi và nghĩa vụ trong quá trình
khai thác lâm sản ngoài gỗ là một trong những nguyên nhân làm cạn kiệt nhanh
chóng tài nguyên lâm sản ngoài gỗ. Phần lớn những chính sách có liên quan đến
lâm sản ngoài gỗ cha tác động tích cực đến bảo tồn và phát triển nguồn tài
nguyên này.
20
2.2. Thảo quả và những nghiên cứu phát triển
2.2.1. Những nghiên cứu về thảo quả - một loài cây lâm sản ngoài gỗ giá trị
cao
a) Trên thế giới:
Thảo quả là loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị dợc liệu và giá trị kinh tế
cao đã đợc con ngời biết đến từ lâu. ở Trung quốc, thảo quả đợc gây trồng và
sử dụng cách đây hàng trăm năm. Nhng những nghiên cứu về thảo quả còn rất
hạn chế. Kết quả nghiên cứu thảo quả ban đầu đợc trình bày trong cuốn sách
về công dụng và giá trị của một số loại cây dợc liệu do các nhà y học của Trung
Quốc biên soạn và xuất bản vào đầu thế kỷ 19 (Thân Văn Cảnh, 2001[8]).
Năm 1968[8], một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam, Trung Quốc
400 tấn sang Trung Quốc và Thái Lan. Đây là công trình nghiên cứu tổng kết về
vai trò thảo quả đối với con ngời, xã hội cũng nh tình hình sản xuất buôn bán
và dự báo thị trờng, tiềm năng phát triển của thảo quả.
Năm 1996[75], Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc
tại viện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách " Bản thảo
bức tranh màu Trung Quốc". Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc ở
Trung Quốc, một trong số đó là thảo quả. Nội dung đề cập là:
- Tên khoa học.
- Một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản.
- Công dụng và thành phần hoá học của thảo quả.
Nhìn chung, nội dung có liên quan đến thảo quả trong cuốn sách đề cập
tơng đối ngắn gọn, nó cho biết một số đặc điểm cơ bản về tỷ lệ thành phần các
chất chứa trong thảo quả nhng đề cập rất ít đến đặc điểm sinh thái cũng nh
biện pháp kỹ thuật gây trồng và phát triển thảo quả.
Năm 1999, trong cuốn " Tài nguyên thực vật của Đông Nam á" [68] L.S.
de Padua, N. Bunyapraphatsara và R.H.M.J Lemmens đã tổng kết các nghiên
cứu về các cây thuộc chi Amomum trong đó có thảo quả. ở đây tác giả đã đề cập
đến đặc điểm phân loại của thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh
vật học và sinh thái học của thảo quả. Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân
Downloadằ
22
giống, trồng, chăm sóc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán
thảo quả trên thế giới.
b) Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ẩm và là một trong những
nơi phân bố tự nhiên của thảo quả. Từ lâu đời, nhân dân ta đã biết tìm kiếm và
khai thác thảo quả để làm thức ăn, thuốc chữa bệnh và coi thảo quả là cây
"truyền thống". Theo tài liệu của Pháp, thì công trình đầu tiên đề cập đến thảo
quả là công trình nghiên cứu về hệ thực vật Đông dơng của Lecomte et al [64]
Lào Cai đã phối hợp với các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản
tiến hành tổng kết các kinh nghiệm gây trồng, thu hái và chế biến bảo quản thảo
quả trong nhân dân. Sau gần 2 năm điều tra thu thập, tổng hợp kết hợp với một
số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nớc, bản hớng dẫn kỹ thuật tạm thời gây
trồng thảo quả ra đời. Nội dung bản hớng dẫn là: xác định tên khoa học loài
thảo quả phân bố trong địa phơng, mô tả một số đặc điểm sinh vật học, sinh
thái học cơ bản, kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc và thu hái. Đây là bản
hớng dẫn kỹ thuật về gây trồng và thu hái thảo quả ở nớc ta. Do chủ yếu là
tổng kết kinh nghiệm trong nhân dân và kế thừa một số kết quả nghiên cứu trong
nớc và trên thế giới cho nên các biện pháp kỹ thuật nh chọn vùng trồng, điều
kiện lập địa trồng, nhân giống, chọn giống, trồng v.v... còn không cụ thể, vẫn
mang tính chất định tính. Các căn cứ để xác định điều kiện lập địa trồng thích
hợp, thời vụ trồng, mật độ trồng v.v. ..để nâng cao năng suất và tính ổn định của
mô hình trồng thảo quả còn nhiều thiếu sót nên hiệu quả của mô hình thử
nghiệm còn thấp và cha đảm bảo tính bền vững. Vì vậy, thực chất bản hớng
dẫn kỹ thuật này chỉ là tạm thời cần nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện.
Trong công trình "Vấn đề nghiên cứu và bảo vệ tài nguyên thực vật và
sinh thái núi cao Sa Pa", các tác giả Lã Đình Mỡi, Nguyễn Thị Thuỷ và Phạm
Văn Thính (1995) đã phân loại lâm sản ngoài gỗ theo hệ thống sinh thái và
thống kê đợc tập đoàn đông đảo thực vật có giá trị làm thuốc ở địa phơng. Các
tác giả đa ra một số loài cây làm thuốc có thế mạnh của khu vực không chỉ có
giá trị sử dụng mà còn có giá trị xuất khẩu, tăng thu nhập nh hoàng liên, thảo
quả, cỏ xớc,v.v...Trong đó cần đặc biệt chú trọng phát triển cây thảo quả.
Cũng trong giai đoạn này xuất hiện một số công trình nghiên cứu về cây
thuốc, trong đó có trình bày một số thông tin về thảo quả nh
công trình " Bảo
Downloadằ
24
vệ nguồn cây thuốc thiên nhiên" (1990[33]) của Nguyễn Tập, " Những cây
Downloadằ