THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRONG THẬP KỈ 90 - Pdf 73

THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRONG THẬP KỈ 90
2.1. Lực lượng lao động và nhu cầu XKLĐ ở Việt Nam
2.1.1. Khái quát về lực lượng lao động Việt Nam
Với mức tăng dân số tự nhiên hàng năm trên 1,8% ( xem phụ lục 2.1), Việt
Nam là một nước có nguồn nhân lực dồi dào, đứng thứ 12 trên thế giới và đứng thứ
2 trong khối ASEAN
1
. Theo kết quả điều tra dân số 10 năm trở lại đây, dân số
nước ta có:
BIỂU 2.1 : DÂN SỐ NƯỚC TA TRONG 10 NĂM QUA
Đơn vị tính : nghìn người
Tổng số Năm Thành thị Nông thôn
65.611 1991 12.798 52.813
66.894 1992 13.190 53.704
68.189 1993 13.580 54.609
69.510 1994 14.017 55.493
70.771 1995 14.576 56.195
71.985 1996 15.098 56.887
73.166 1997 15.643 57.523
74.335 1998 16.813 57.504
75.504 1999 17.536 57.968
76.597 2000 18.046 58.551
Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê
Đây mới chỉ là con số thống kê trong vòng mười năm trở lại đây, theo dự
báo dân số nước ta sẽ còn tăng tới 100 triệu người vào năm 2020 với tốc độ tăng
1 Nguồn: CIEM - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương: Lao động, việc l m v thu nhà à ập, Kinh tế Việt
Nam, 2001.
dân số hầu như không đổi. Tính riêng năm 2001, tổng số lao động của cả nước ta
ước tính là 38.643.123 người, trong đó, số người trong độ tuổi lao động là
36.725.277 người, chiếm 95% tổng lực lượng lao động của cả nước. So với năm

qua cũng đã đạt đến những thành tựu nhất định. Năm 2001 chúng ta đã xuất khẩu
được 31.500 lao động ra nước ngoài, đặc biệt là XKLĐ gián tiếp thông qua các khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài, tạo việc làm cho khoảng 330.000 người, thu hút
khoảng 1% tổng lực lượng lao động.
Xét về cơ cấu lao động theo khu vực: thì trong vòng 10 năm qua, lao động tại
các thành thị ngày càng tăng cao hơn nhiều so với số lao động tại khu vực nông
thôn. Do việc làm tại các khu vực nông thôn chủ yếu là nông nghiệp, phụ thuộc
vào đất đai canh tác. Đất canh tác bình quân đầu người thấp. Giai đoạn năm 1991 -
1994 lao động nông thôn tăng lên 2 triệu người trong khi đất canh tác giảm xuống
trung bình mỗi năm 2000ha. Ruộng đất bị chia nhỏ, manh mún do quá trình phân
chia ruộng đất đang tiếp tục. Cho tới giai đoạn 1997 - 1999, do quá trình tinh giảm
biên chế trong khu vực Nhà nước và sắp xếp lại nhân lực trong khu vực kinh tế
quốc doanh, hơn nửa triệu lao động dôi dư trở về lao động tại nông thôn. Thêm vào
đó là quá trình đô thị hoá ở nông thôn cũng đang diễn ra khá mạnh, làm đất nông
nghiệp mất dần. Tuy nhiên trong 3 năm gần đây từ năm 1999 đến 2000 số lao động
trong nông nghiệp vẫn tăng thêm 1,7 triệu người trong khi chỉ có trên 750.000 lao
động tăng thêm trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và 1,4 triệu lao động tăng
thêm trong lĩnh vực dịch vụ. Điều này đồng nghĩa với việc thiếu việc làm tương
đối ở khu vực nông thôn đặc biệt là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp (xem phụ
lục 2.4).
Còn tại các khu vực thành thị nhìn chung tỉ lệ thất nghiệp của lực lượng lao
động trong độ tuổi lao động tiếp tục giảm, từ 6,7% năm 2000 xuống còn 6,4% năm
2001. Vấn đề việc làm tại khu vực này luôn diễn ra căng thẳng và cấp bách. Bình
quân thời kỳ 1991 - 2000, mỗi năm nước ta giải quyết được việc làm cho 0,91 triệu
người, trong đó mấy năm giải quyết được khoảng 1,2 triệu người có việc làm
tương ứng với số bổ sung thêm hàng năm của nguồn lao động nước ta.
Như vậy: Nhìn chung nước ta là một quốc gia có nguồn lao động dồi dào,
tốc độ phát triển ở mức cao, lại phân bố không đều, phần lớn tập trung ở khu vực
nông thôn. Chất lượng lao động thấp, đặc biệt là chưa qua đào tạo nhiều. Trong khi
đó nước ta lại đang gặp khó khăn rất lớn trong quá trình tạo việc làm, tạo ra một cơ

Để thực hiện được mục tiêu tạo được việc làm cho một bộ phận lớn dân cư
và giảm sự nghèo khổ, Chương trình việc làm quốc gia được hình thành trên cơ sở
xây dựng một hệ thống các chương trình việc làm trong một số lĩnh vực có khả
năng thu hút nhiều lao động, mở rộng và phát triển các ngành nghề mà thị trường
có nhu cầu và có định hướng giải quyết việc làm trên một số vùng trọng điểm có
yêu cầu bức bách trong đó có nhu cầu giải quyết mở rộng XKLĐ. Cụ thể là:
* Tiếp tục mở rộng Chương trình đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài
thông qua các chương trình, dự án việc làm ngoài nước. Người lao động ở khắp
mọi miền đất nước có thể tham gia Chương trình quốc gia giải quyết việc làm theo
nhiều cách: tham gia các kế hoạch phát triển KT - XH của đất nước, các dự án đầu
tư của nước ngoài; tự tạo việc làm, tham gia các dự án nhỏ tạo việc làm mới từ
Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, theo học tại các trung tâm dịch vụ việc làm, tại
các trường dạy nghề, mở các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ từ nhỏ đến
lớn....Người được hưởng lợi ích của Chương trình quốc gia giải quyết việc làm,
trước hết là người lao động.
Lịch sử hình thành và phát triển của XKLĐ đã chứng minh XKLĐ là một
hoạt động kinh tế không thể tách rời khỏi sự phát triển đất nước của nhiều quốc
gia. Có thể nói, trong Chương trình việc làm quốc gia, XKLĐ giữ một vị trí rất
quan trọng, nếu không nói là chủ yếu trong chiến lược giải quyết việc làm.
Chương trình việc làm quốc gia đã và đang được thực thi nhằm mục tiêu tới
năm 2010 xoá hết đói nghèo. Hàng tỷ đồng đã chi cho Chương trình này nhằm
giúp đỡ người lao động vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm. Điểm mạnh
của XKLĐ là ở chỗ đây là một biện pháp xoá đói giảm nghèo có hiệu quả, đồng
thời tạo ra việc làm và vốn cho người lao động. Đầu tư cho XKLĐ không lớn mà
người lao động lại nhanh chóng có được việc làm với thu nhập cao. Người đi
XKLĐ vừa có điều kiện giúp gia đình họ thoát khỏi đói nghèo, lại vừa có vốn và
tay nghề để tự tạo việc làm sau khi về nước.
2.2. Thực trạng XKLĐ Việt Nam
Việc XKLĐ của nước ta về cơ bản bắt đầu hình thành từ năm 1980. Trong
thời gian qua do tình hình chính trị quốc tế biến động gắn liền với sự biến động của

cuộc đổi mới theo tinh thần nghị quyết của Đảng, chủ trương phát triển và mở rộng
hợp tác lao động với các quốc gia có nhu cầu sử dụng lao động, nước ta đã và đang
đẩy nhanh hơn nữa quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, hội nhập với thị trường
lao động thế giới. Tại hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện công tác XKLĐ của Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội, đồng chí Bộ trưởng đã phát biểu: “Khi thực
hiện đường lối mở cửa, từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, lao động Việt
Nam có nhiều ưu thế nhất là trình độ văn hoá, tay nghề khéo léo và giá cả lao động
tương đối rẻ so với các nước trong khu vực. Với ưu thế này, khả năng đưa lao động
Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đặc biệt là ở khu vực Châu Á -
Thái Bình Dương như Hàn Quốc, Bắc Phi, Trung Đông sẽ ngày càng tăng...
Chương trình XKLĐ phải gắn chặt với tạo việc làm trong nước bằng cách dành ít
nhất 50% ngoại tệ thu được để bổ sung vào quỹ Quốc gia giải quyết việc làm trong
nước và giải quyết việc làm cho lao động khi trở về nước”.
Trong vòng mười năm qua rất nhiều chỉ thị, văn bản, chính sách, nghị định,
thông tư đã được ban hành mà tiêu biểu là :
Các nghị định 370/HĐBT ngày 9 tháng 11 năm 1992 của Hội đồng Bộ
trưởng ban hành quy chế về việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài.
Bộ luật lao động nước XHCN Việt Nam ngày 23 tháng 6 năm 1995 qui định
một số điều luật về việc XKLĐ. Đây là văn bản pháp lý cao nhất về vấn đề tạo việc
làm cho người Việt Nam ở ngoài nước.
Nghị định số 07/CP ngày 20 tháng 01 năm 1996 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều khoảng của bộ Luật Lao động về đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc có thời hạn tại nước ngoài (Đây là nghị định thay thế nghị định
370/HĐBT)
5 Nguồn: Chỉ thị số 41-CT/TW, ng y 22/9/1999.à
Nghị định số 152/2000/NĐ - CP ngày 20 tháng 9 năm 2000 của chính phủ
qui định việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm có thời hạn ở nước
ngoài. Đây là văn bản pháp lý hiện hành, thay thế Nghị định số 07/CP. Nghị định
qui định rõ: “Chính phủ khuyến khích các cơ quan, các tổ chức và người Việt

Công đoàn: 1 doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp: 2 doanh nghiệp);
Doanh nghiệp tư nhân: 3 (Công ty TNHH Đỉnh Vàng - Hải Phòng, Công ty TNHH
Quốc Dân - Hà Nội, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Thuận Thảo - TP Hồ
Chí Minh)
Trong tổng số 159 doanh nghiệp có giấy phép này đã có 106 doanh nghiệp
ký được hợp đồng (trong năm 2001 có 79 doanh nghiệp kí được hợp đồng). Có 19
doanh nghiệp được cấp giấy phép từ năm 2000 trở về trước vẫn chưa có hợp đồng.
Các lĩnh vực mà doanh nghiệp nước ta tham gia chủ yếu là làm dịch vụ cung ứng
lao động, nhận thầu, khoán xây dựng công trình, liên doanh liên kết chia sản phẩm
ở nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài hay đầu tư đưa lao động đi tu nghiệp tập
nghề ở nước ngoài sau một thời gian trở về làm việc cho các doanh nghiệp Việt
Nam. Thời gian qua các công ty như công ty VINACONEX, công ty LOD, công ty
OLECO, VIETRAXIMEX, SULECO, SOVILACO, TRACIMEXCO, TRACODI,
Tổng công ty xây dựng Sông Đà, công ty COALIMEX, INTERSERCO, INLACO
SAIGON, VITRASCHART và TRAENCO... đã tham gia hoạt động và mang lại
những thành quả nhất định, ngoài ra còn có một số các công ty xây dựng của ta
trúng thầu trong việc làm đường ở Lào, xây nhà ở Arâp Xêút...
2.2.2.2. Kết quả đạt được
Mặc dù sau năm 1991, số lao động xuất khẩu sang thị trường các nước Đông
Âu giảm sút đáng kể, hoạt động XKLĐ của nước ta cũng vẫn đang ngày một gia
tăng với số lượng lao động đi sang nước ngoài cao, tốc độ tăng trưởng tương đối
vững chắc năm sau cao hơn năm trước.
BIỂU 2.2 : SỐ LƯỢNG LAO ĐỘNG ĐƯỢC XUẤT KHẨU TỪ NĂM
1992 ĐẾN NĂM 2001
Đơn vị tính : người
Năm Số lao động được đưa đi XKLĐ
1992 1.022
1993 810
1994 3.960
1995 9.230

tại các thị trường nước ngoài tăng 9570 người, cao nhất từ trước tới giờ, mang lại
một nguồn ngoại tệ hơn 1 tỉ đô la Mĩ cho quốc gia, tạo thêm nhiều công ăn việc
làm cho lao động trong nước. Nhận thức được rõ vai trò của XKLĐ trong năm
2001, nước ta đã xuất khẩu được 31.500 lao động sang thị trường các nước, tạo
bước tăng đáng kể trong hoạt động kinh tế quốc gia. Và theo thống kê của Cục
quản lý lao động với nước ngoài, chỉ tính riêng 5 tháng đầu năm 2002 này, số lao
động xuất khẩu của nước ta đã tăng vọt lên 41.200 người, cao hơn cả tổng số lao
động đi làm việc ở nước ngoài của các năm trước gần đạt mục tiêu đề ra của Đảng
và Nhà nước cho XKLĐ toàn năm 2002. Xét tổng quát số lao động đưa đi làm việc
tại nước ngoài 5 năm từ 1997 đến 2001 ta có là 96.680 người tăng gấp 3,8 lần so
với thời kì 1992 đến 1996. Thu nhập bình quân của mỗi lao động đi xuất khẩu đạt
trung bình 400 USD/ tháng. Số ngoại tệ thu về cho ngân sách nhà nước thời kì
1997 - 2001 ước tính hàng năm đạt khoảng 220 triệu USD chưa kể số lao động hết
hợp đồng hiện đang sinh sống, hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh ở Liên
Xô cũ và các nước Đông Âu. Nếu tính cả những người này thì số tiền chuyển về
nước hàng năm của lao động nước ta sẽ lên tới 1,25 tỷ USD
6
.
Phân tích riêng tình hình năm 2001 có thể thấy rõ, đây là năm đầu tiên cả
nước triển khai thực hiện Nghị định số 152/CP/2000 của Chính Phủ. Đây cũng là
năm thị trường tiếp nhận lao động nước ngoài có những thay đổi cơ bản về nhu
cầu, chất lượng, và cơ cấu. Đó là sự đòi hỏi ngày càng cao về trình độ tay nghề,
ngoại ngữ, ý thức kỉ luật, sự hiểu biết và tôn trọng pháp luật, phong tục tập quán
cũng như các quy định quốc tế. Điều này trở thành các tác động tích cực đối với
nước ta trong quá trình thực hiện nhiệm vụ XKLĐ. Không bỏ lỡ thời cơ, Đảng và
6 Nguồn: Số liệu của Cục quản lý lao động với nước ngo i.à
Nhà nước trong năm qua đã chỉ đạo sâu sát cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các
Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp xuất khẩu được hơn 3 vạn lao động đạt
125% so với kế hoạch Chính phủ giao và đạt 105% kế hoạch do Bộ Lao động -
Thương binh xã hội giao tăng 44,3% so với năm 2000. Trong đó có: 18.500 lao

Thuyền viên tàu cá 9.000
Chuyên gia giáo dục, y tế và nông nghiệp 1.500
Các nghề khác và lao động phổ thông 29.640
Tổng số 89.140
Nguồn: Cục quản lý lao động nước ngoài, năm 2001.
Số liệu trong biểu cho thấy, tuy có nhiều thay đổi nhưng lao động nước ta
xuất sang các nước khác vẫn chủ yếu là lao động phổ thông hoặc lao động có trình
độ thấp. Đa số họ làm các nghề về xây dựng, dệt may, đánh cá, chỉ có một số ít là
làm các nghề đòi hỏi trình độ cao như chuyên gia giáo dục y tế và nông nghiệp,
mộc, vận tải biển.
Tới năm 2001 cơ cấu ngành nghề này đã có thay đổi tuy chưa đáng kể. Các
nghề làm thuyền viên đánh cá, may mặc, điện tử tăng cao với số người tham gia
ngày càng đông. Chỉ tính riêng lĩnh vực thuyền viên đánh cá có 5500 người chiếm
khoảng 30% so với lao động trên biển, thêm vào đó còn xuất hiện một số ngành
nghề mới như giúp việc nội trợ, xây dựng phần mềm và lập trình viêc quốc tế...
Đây mới chỉ là con số ít chưa đáng mừng, do vậy trong những năm tới để có thể
duy trì và mở rộng hơn nữa mối quan hệ bạn hàng với các quốc gia trên thế giới và
trong khu vực, Việt Nam còn cần phải nâng cao hơn nữa công tác đào tạo trình độ
và ngành nghề cho người lao động và chuyên gia.
2.2.4. Cơ cấu xuất khẩu lao động theo các thị trường xuất khẩu
Từ năm 1992 đến nay, ngoài các thị trường chủ yếu cũ mà chúng ta đã có từ
trước như thị trường Liên Xô, thị trường các nước Đông Âu, Irak... thị trường lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status