Tiểu luận quản trị marketing - Pdf 74

Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh rất cao giữa các doanh
nghiệp, để giành giật thị phần thì doanh nghiệp luôn đưa ra các chiến lược
marketing xúc tiến mạnh mẽ, trong đó không thể không kể đến quảng cáo. Mục đích
của quảng cáo là để thu hút sự chú ý của khách hàng, thuyết phục họ về những lợi
ích, sự hấp dẫn của sản phẩm nhằm thay đổi hoặc củng cố thái độ và lòng tin tưởng
của người tiêu thụ về sản phẩm của Công ty, tăng lòng ham muốn mua hàng của họ
và đi đến hành động mua hàng. Quảng cáo là một trong những công cụ quan trọng
nhất của hoạt động chiêu thị. Quảng cáo chuyển các thông tin có sức thuyết phục
đến các khách hàng mục tiêu của Công ty. Công tác quảng cáo đòi hỏi sự sáng tạo
rất nhiều. Quảng cáo là một nghệ thuật và ta có thể ưu ái dành cho cái tên là: Nghệ
thuật chiêu dụ khách hàng.
Nhưng nghệ thuật sẽ không còn là nghệ thuật nếu nó bị lạm dụng một cách
quá mức. Quảng cáo đang ngày càng đánh mất đi bản sắc tốt đẹp của nó trong mắt
người tiêu dùng. Hiện nay, quảng cáo xuất hiện ở khắp mọi nơi: trên truyền hình,
FM, internet,trên đường phố, trong siêu thị, sân bóng đá nhưng phần lớn là quảng
cáo lại rất “không đúng lúc - không đúng chỗ - không đúng đối tượng”. Việc quảng
cáo thừa về lượng nhưng thiếu về chất như vậy chỉ làm cho người tiêu dùng cảm
thấy thêm chán ngán mà thôi. Vậy doanh nghiệp đưa ra nhiều quảng cáo để được gì
khi người tiêu dùng đã ngán?. Đề tài mà nhóm chúng tôi thực hiện nhằm tìm lời giải
đáp cho câu hỏi này. Bài tiểu luận được chia làm 3 chương:
Chương I: Khái quát về quảng cáo
Chương II: Quảng cáo để được gì khi người tiêu dùng đã ngán?
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quảng cáo
1
Mục lục
Chương I: Khái quát về quảng cáo Trang
1.1 Định nghĩa 3
1.2 Vai trò của quảng cáo 3
1.3 Chức năng và nhiệm vụ của quảng cáo 4
1.4 Mục tiêu của quảng cáo 5

• Quảng cáo còn là một công cụ hỗ trợ cho các công cụ khác trong maketing-mix.
1.2.2. Đối với nhà phân phối
• Thông tin quảng cáo giúp cho các nhà phân phối bán hàng nhanh hơn, thuận lợi
hơn, giảm chi phí bán hàng do mãi lưc gia tăng nhờ áp lực của quảng cáo.
• Quảng cáo giúp thiết lập quan hệ tốt giữa nhà phân phối và khách hàng.
3
1.2.3. Đối với người tiêu dùng
• Quảng cáo cung cấp những thông tin về hàng hóa, dịch vụ, trang bị cho người
tiêu dùng những kiến thức cần thiết để lựa chọn cho sản phẩm trước khi mua
sắm.
• Giúp người tiêu dùng tiết kiệm thời gian tìm kiếm, mua sắm, và cả tiền bạc.
• Quảng cáo giúp người tiêu dùng nâng cao trình độ nhận thức sản phẩm, dịch vụ
đang lưu thông trên thị trương, nhắc nhỡ thúc đẩy họ thay đổi việc sử dụng sản
phẩm.
1.2.4. Đối với xã hội
• Quảng cáo góp phần tài trợ cho các nội dung giá rẻ và miễn phí trên Internet,
TV, báo chí và các phương tiện truyền thông khác".

1.3 Chức năng của quảng cáo
 Thông tin: mục đích của quảng cáo là nhằm thông tin, thu hút và tăng sự ham
muốn mua hàng của người tiêu dùng về lợi ích, sự hấp dẫn, tính tiện ích của sản
phẩm qua những thông số về kỹ thuật, kinh tế của sản phẩm.
 Thuyết phục: qua quảng cáo, nhà sản xuất hướng tới một đối tượng tiêu dùng cụ
thể nhằm mục đích cuối cùng là thuyết phục họ sử dụng sản phẩm –dịch vụ của
mình.
 Nhắc nhở: quảng cáo nhắc nhở người tiêu dùng rằng các sản phẩm – dịch vụ
được quảng cáo vẫn còn có mặt trên thị trường, gợi nhớ lại cho người tiêu dùng
về sản phẩm, dịch vụ đã có trước đó, nhắc nhỡ về hình ảnh, uy tín công ty.
4
Nhiệm vụ của quảng cáo

tốt. Hành động mua sản phẩm trực tiếp có thể gọi điện thoại, gửi thư hoặc
fax đơn đặt hàng, làm cho khán giả hình thành quyết định mua sắm ngay lập
tức.
 Củng cố thái độ.
Doanh nghiệp có sản phẩm hàng đầu trên thị trường áp dụng để giữ thị phần
và doanh số của mình. Những công ty này đưa ra một sản phẩm mới nhưng
mục tiêu chính của họ là làm cho người tiêu dùng luôn nhớ tới tên tuổi của
mình và gắn bó với nhãn hiệu.
1.5 Phương tiện quảng cáo
Quảng cáo đến với công chúng bằng nhiều hình thức. Ta có thể chia quảng
cáo thành các nhóm chính như sau:
- Các phương tiện nghe nhìn: bao gồm truyền hình, trên đài phát
thanh và trên Internet . T rong đó, quảng cáo trên truyền hình là hình thức phổ
biến nhất và có phạm vi tác động rất rộng, lại vừa có thể truyền tải hình ảnh
và âm thanh chân thực đến người xem.
- Các phương tiện in ấn: gồm có báo chí, tạp chí, tờ rơi, niên giám…
mà quảng cáo trên báo chí và tạp chí là hai hình thức được áp dụng nhiều
6
nhất. Quảng cáo bằng báo chí có thể kết hợp cả ngôn ngữ và hình ảnh, có thể
được truyền tay nhau, được lưu giữ hoặc đọc lại.
- Các phương tiện quảng cáo ngoài trời: bạn có thể thấy loại hình
quảng cáo này ở bất cứ đâu, đặc biệt là những nơi có mật độ người qua lại
cao như các công viên, ngã tư, và các đường phố chính. Quảng cáo ngoài trời
gồm: hộp đèn quảng cáo, biển quảng cáo điện tử, áp phích, pa-nô…
- Các phương tiện quảng cáo di động: quảng cáo trên phương tiện
giao thông như xe buýt hay taxi và trên các vật phẩm quảng cáo như áo
phông, mũ, áo mưa, túi xách, ba lô…
- Các phương tiện quảng cáo khác: như quảng cáo ở sân vận động.
Quảng cáo ở sân vận động được đánh giá cao, đặc biệt ở các sân bóng đá,
bởi vì bóng đá là môn thể thao được ưa chuộng và phổ biến nhất thế giới.

ưa chuộng nhất, đông người xem nhất, có khả năng thu được lợi nhuận nhanh và
nhiều nhất. Chính vì thế, quảng cáo trên truyền hình được xem là phương tiện đạt
hiệu quả nhanh nhất với nhà sản xuất, là nguồn thu lớn và chủ yếu đối với các đài
truyền hình. Có những đoạn phim quảng cáo trên truyền hình có hình ảnh, lời nói
minh họa cho các sản phẩm được trau chuốt, chọn lọc, slogan độc đáo. Nhờ vậy,
nhiều sản phẩm chiếm được tình cảm của người xem, một phần lớn nhờ vào phim
quảng cáo ấn tượng. Mọi người vẫn còn nhớ đoạn quảng cáo chai bia Sài Gòn với
8
câu: Có thể bạn không cao, nhưng người khác vẫn phải ngước nhìn. Các em nhỏ rất
thích mẩu quảng cáo về sữa tươi của Vinamilk, vì hình ảnh các chú bò ngộ nghĩnh,
bài hát vui nhộn. Quảng cáo vẫn còn sức hút với khán giả nếu nó được đầu tư dàn
dựng một cách sáng tạo, công phu .
Những đài truyền hình lớn như VTV, HTV, BTV... đạt doanh thu quảng cáo
cao ngất ngưởng. Trước đây thời lượng quảng cáo của VTV phân bố rộng khắp,
nhưng nay được chọn lọc dồn vào những giờ nhất định, tập trung nhất là vào giờ
vàng trên kênh VTV1 và VTV3. Vấn đề đáng bàn nhất với quảng cáo trên truyền
hình hiện nay, chính là thời lượng phát sóng. Pháp lệnh quảng cáo (Chương 2, Điều
10) về quảng cáo rất rõ: “Báo hình được quảng cáo không quá 5% thời lượng của
chương trình, trừ kênh chuyên quảng cáo; mỗi đợt phát sóng đối với một sản phẩm
quảng cáo không quá 8 ngày, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định; mỗi
ngày không quá 10 lần; các đợt quảng cáo cách nhau ít nhất 5 ngày; không quảng
cáo ngay sau hình hiệu, trong chương trình thời sự”. Hầu hết nhà đài đều vi phạm
quy định về quảng cáo.
Theo quy định, quảng cáo chiếm 5% thời lượng phát sóng. Nhưng quy định này
không rõ ràng nên nhà đài vẫn có thể “lách” được. Đối với những đài truyền hình
lớn, phát sóng 24/24 giờ thì 5% dành cho quảng cáo là thời lượng không nhỏ.
Hình 2.2 BẢNG GIÁ QUẢNG CÁO GIỜ VÀNG TRÊN VTV
THỜI GIAN
DIỄN GIẢI
GIÁ QUẢNG CÁO (Đơn vị tính: VNĐ/TVC)

nhằm quảng bá thương hiệu, sản phẩm một cách sai sự thật. Các hãng sữa, "đao
10
phủ" đối với ngân quỹ của các ông bố, bà mẹ trẻ, thường có đợt tăng giá mới.
Trước đó, một trong những lý do được đưa ra nhằm bảo vệ việc tăng giá là họ
bỏ công sức, tiền của nghiên cứu, tạo ra loại sữa được bổ sung nhiều DHA,
vitamin, khoáng chất.. tốt cho sự phát triển thể chất, trí tuệ con em chúng ta. Dĩ
nhiên, họ không quên quảng cáo cho những "thành tựu " này. Nhưng hàm lượng
DHA, vitamin, khoáng chất... có đúng như họ quảng cáo? Nhiều khảo sát cho
thấy không có bằng cứ kiểm định hoặc thấp hơn nhiều chỉ số in trên vỏ hộp.
Hình 2.4 : Danh sách các nhãn hiệu xếp theo thứ tự theo chi phí tiếp thị, xây
dựng thương hiệu năm 2009
1 Trà thảo mộc Dr.Thanh 15,3 triệu USD
2 Nhãn hiệu Best Buy (Mỹ) 14,1 triệu USD
3 Nhãn hiệu 8798 - dịch vụ nhắn tin 11,7 triệu USD
4 Nước uống Number 1 O độ 10 triệu USD
5 Nhãn hàng bột giặt Omo (Tập đoàn Unilever) 9,8 triệu USD
 Về phía người tiêu dùng
 Phần lớn quảng cáo chỉ phát vào những giờ, những chương trình có đông
người xem nhất như: chương trình ca nhạc, chiếu phim, vì thế tần suất
các phim quảng cáo trở nên dày đặc, khiến người xem phải chờ đợi lâu.
Khán giả bực mình vì đang xem phim phải ngừng giữa chừng 2 đến 3 lần
vì quảng cáo. Với những bộ phim hay, được nhiều người xem chú ý,
những tập càng về sau, thời lượng quảng cáo gần bằng với thời lượng
một tập phim. Nhiều chương trình, người xem rất khó chịu vì những hàng
11
chữ chạy dưới mà nội dung chẳng ăn nhập gì với chương trình đang phát
sóng!
 Những phim Việt Nam chiếu khung giờ vàng (20-22h) như Chạy án, Cô
gái xấu xí, Những người độc thân vui vẻ… thời gian gần đây thu hút khá
nhiều sự quan tâm của người xem. Tuy thế, phần quảng cáo trong phim

cáo, bởi vì họ muốn đưa sản phẩm của mình tới mọi đối tượng khách hàng. Mỗi sản
phẩm hoặc dịch vụ luôn có một đối tượng khách hàng mục tiêu, có những sản
phẩm, dịch vụ có nhiều hơn một đối tượng khách hàng, có khi dành cho đại chúng
(không phân biệt tuổi tác, giới tính, thu nhập, tầng lớp). Nhưng dù gì thì trong mỗi
một đối tượng khách hàng lại có rất nhiều điểm khác nhau: họ ở những nơi khác
nhau, họ có những thói quen khác nhau, những nơi họ thường xuyên đến khác nhau,
kiểu quan sát của họ khác nhau, cách tiếp nhận thông tin khác nhau, tính cách khác
nhau.
Để thông điệp của sản phẩm hoặc thương hiệu tiếp cận được với khách hàng
tiềm năng, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều hình thức quảng cáo thông qua nhiều
phương tiện thông tin đại chúng khác nhau. Bởi, quảng cáo trên truyền hình dù
được phủ sóng khắp nơi cũng sẽ không đến được với những người không dành thời
gian cho tivi, quảng cáo trên báo dù phát hành cả nước cũng sẽ không tiếp xúc được
với những ai không dành thời gian đọc báo, quảng cáo trên radio dù phủ nhiều kênh
cũng sẽ không “lọt tai” những ai không có thói quen nghe đài, hay các hình thức
quảng cáo ngoài trời cũng có những hạn chế về vị trí và tần số xuất hiện… Vì vậy,
hầu hết các doanh nghiệp ngày nay đều sử dụng kết hợp nhiều kênh truyền thông
khác nhau với mục tiêu tăng cường tiếp cận khách hàng, giới thiệu về sản phẩm,
dịch vụ của mình, thông tin về các đặc điểm và lợi ích của sản phẩm cũng như thúc
13
đẩy khách hàng mua sắm. Ví dụ như: các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm tiêu
dùng thịnh hành như bột giặt, dầu gội đầu, sữa tắm…liên tục quảng cáo trên rất
nhiều phương tiện đại chúng với mật độ hết sức dày đặc. Khi “phủ sóng” nhiều
kênh quảng cáo như vậy, các doanh nghiệp vừa muốn tăng cơ hội tiếp cận khách
hàng tiềm năng, vừa muốn tác động liên tục đến khách hàng. Họ có thể thấy quảng
cáo trên đường đi làm, nghe quảng cáo khi đi taxi, xem quảng cáo khi đọc báo, nhìn
quảng cáo khi đi thang máy, thấy quảng cáo khi đi ăn… Những nghiên cứu của
Viện Gallup (Hãng nghiên cứu thị trường lớn nhất của Mỹ): Vào năm 1965, chỉ cần
chạy một quảng cáo tivi 3 lần trong 3 ngày liên tục vào giờ cao điểm trên một kênh
truyền hình quốc gia, thì có thể đạt được mức độ nhận biết thương hiệu của nhóm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status