BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
LƯU THỊ KIM YẾN
ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI NHẬN THỨC VỀ TỰ XỬ TRÍ
HEN PHẾ QUẢN CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2017
SAU CAN THIỆP GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
LƯU THỊ KIM YẾN
ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI NHẬN THỨC VỀ TỰ XỬ TRÍ
HEN PHẾ QUẢN CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2017
SAU CAN THIỆP GIÁO DỤC
tăng sau can thiệp giáo dục: trước can thiệp điểm thái độ là 14,60 ± 2,59 với p(2 1) < 0,001 ; ngay sau can thiệp 16,45 ± 1,77; sau can thiệp 1 tháng 16,61 ± 1,96 với
p(3 - 1) < 0,001. Đối với tự xử trí hen phế quản của người bệnh đều tăng sau
can thiệp giáo dục: trước can thiệp điểm tự xử trí là 2,43 ± 1,33 với p(2 - 1)
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ....................................................................................... v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ............................................................................. vii
ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................................ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ..................................................................................... 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ....................................................................... 4
1.1. Lịch sử về Hen phế quản ................................................................................... 4
1.2. Định nghĩa và mơ tả về Hen phế quản ............................................................... 5
1.3. Tình trạng mắc hen phế quản trên thế giới, Việt Nam và các tác động của
Hen phế quản ........................................................................................................... 9
1.4. Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài .................................................. 13
1.5. Nội dung của giáo dục tự xử trí HPQ của người bệnh theo hướng dẫn GINA
2016 .................................................................................................................... 14
1.6. Địa bàn nghiên cứu .......................................................................................... 15
1.7. Lựa chọn mơ hình can thiệp............................................................................. 15
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................18
2.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................... 18
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu .................................................................... 18
2.3. Thiết kế nhiên cứu ........................................................................................... 18
2.4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu ....................................................................... 19
2.4.1. Cỡ mẫu ......................................................................................................... 19
2.4.2. Phương pháp chọn mẫu ................................................................................ 19
2.5. Phương pháp thu thập số liệu ........................................................................... 20
2.6. Các biến số nghiên cứu .................................................................................... 23
2.7. Khái niệm thang đo, tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá và cách thức đo lường ........ 24
2.8. Xử lý và phân tích số liệu ............................................................................... 25
nhận thức của người bệnh. ...................................................................................... 61
KẾT LUẬN............................................................................................................ 63
KHUYẾN NGHỊ .................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bảng đồng thuận
Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn người bệnh
Phụ lục 3: Bảng thang điểm đánh nhận thức, thái độ, tự xử trí Hen phế quản của
người bệnh
Phụ lục 4: Danh sách người bệnh tham gia vào nghiên cứu
Phụ lục 5: Biên bản bảo vệ luận văn Thạc sĩ
Phụ lục 6: Nhận xét luận văn thạc sĩ của phản biện 1
Phụ lục 7: Nhận xét luận văn thạc sĩ của phản biện 2
Phụ lục 8: Biên bản chỉnh sửa luận văn sau bảo vệ
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
EURO (European Monetary Unit)
: Đơn vị tiền tệ châu Âu
GINA (Global Initiative for Asthma )
: Sáng kiến toàn cầu về Hen phế quản
HPQ
Bảng 3.3. Đặc điểm về nghề nghiệp....................................................................... 28
Bảng 3.4. Đặc điểm về hút thuốc lá của người bệnh .............................................. 29
Bảng 3.5. Đặc điểm kiến thức của người bệnh về đặc điểm bệnh HPQ .................. 30
Bảng 3.6. Đặc điểm kiến thức của người bệnh về yếu tố nguy cơ gây ra bệnh HPQ
............................................................................................................. 31
Bảng 3.7. Đặc điểm kiến thức của người bệnh về những triệu chứng thường gặp ở
bệnh HPQ ............................................................................................. 32
Bảng 3.8. Đánh giá kiến thức của người bệnh về triệu chứng của cơn HPQ cấp. ... 33
Bảng 3.9. Đặc điểm các yếu tố có thể cản trở đến việc kiểm soát /điều trị HPQ ..... 34
Bảng 3.10. Thay đổi điểm nhận thức về kiến thức của người bệnh HPQ (n=87) .... 35
Bảng 3.11. Đặc điểm thái độ của người bệnh đi khám bệnh ngay khi có những biểu
hiện nghi ngờ HPQ. .............................................................................. 36
Bảng 3.12. Đặc điểm thái độ của người bệnh đi điều trị khi phát hiện mình bị mắc
HPQ. .................................................................................................... 36
Bảng 3.13. Đặc điểm thái độ của người bệnh trong việc tuân thủ hướng dẫn sử dụng
thuốc trong kiểm soát HPQ. .................................................................. 37
Bảng 3.14. Đặc điểm thái độ của người bệnh trong việc tái khám định kì trong kiểm
sốt HPQ. ............................................................................................. 37
Bảng 3.15. Thay đổi điểm nhận thức về thái độ của người bệnh HPQ (n=87) ........ 38
Bảng 3.16. Đặc điểm về thực hành khi phát hiện bị HPQ của người bệnh.............. 39
Bảng 3.17. Đặc điểm về thực hành khi phát hiện bị HPQ của NB .......................... 39
Bảng 3.18. Đặc điểm về sử dụng loại thuốc xịt của người bệnh HPQ. ................... 41
Bảng 3.19. Đặc điểm về việc dùng thuốc của người bệnh HPQ. ............................ 42
Bảng 3.20. Đặc điểm việc xử trí khi HPQ nặng lên của NB ................................... 43
vi
Bảng 3.21. Thay đổi điểm trung bình về phần thực hành phòng chống bệnh HPQ .....
............................................................................................................. 44
quản đồng thời kéo theo tăng chi phí điều trị, Hen phế quản khơng cịn là vấn đề của
các nước phát triển nữa mà cả các nước đang phát triển và kém phát triển [34]. Tại
Việt Nam độ lưu hành Hen phế quản là 7% chung cả người lớn và trẻ em, số người
tử vong hàng năm không dưới 3000 người nhưng vẫn chưa phải là con số thống kê
đầy đủ nhất, kéo theo chi phí y tế trực tiếp trung bình/ người/ năm là 198 USD [9].
Ngun nhân chính của tăng tỷ lệ tử vong và nhập viện vì Hen phế quản là do
người bệnh khơng tự xử trí cơn Hen phế quản kịp thời hay xử trí khơng đúng cách,
nhưng việc phịng ngừa và tự xử trí đúng cách của người bệnh đối với Hen phế quản
vẫn còn nhiều hạn chế về nhận thức, thái độ và tự xử trí ở người bệnh Hen phế
quản, tuy nhiên 85% người bệnh có thể giảm triệu chứng, giảm tử vong nếu biết
cách phát hiện và tự xử trí Hen phế quản sớm [5]. Vì vậy nếu biết cách tự xử trí Hen
phế quản là vô cùng quan trọng, để giảm tỷ lệ tử vong cũng như tình trạng nặng hơn
của bệnh Hen phế quản thì cần phải có kiến thức và thực hành xử trí đúng, một
trong các hướng dẫn đó là từ tổ chức sáng kiến toàn cầu về Hen phế quản (GINA:
Global Initiative for Asthma) đã hướng dẫn một cách cụ thể nhất cho người bệnh.
GINA được đưa vào Việt Nam từ năm 2000 nhưng chỉ mới tập trung vào phần điều
trị cịn phần hướng dẫn tự xử trí cho người bệnh thì chỉ tới GINA 2014 mới thật sự
cụ thể và rõ ràng để người bệnh có thể kiểm soát Hen phế quản một cách hiệu quả
nhất. Cho tới nay phần lớn các nghiên cứu chỉ tập trung các khía cạnh của điều trị,
vẫn chưa có cơng trình nghiên cứu nào tại Việt Nam cũng như tại các tỉnh thành
giới thiệu một cách đầy đủ và hệ thống về tự xử trí Hen phế quản ở người bệnh.
2
Tại tỉnh Phú Yên, theo thống kê của Sở Y Tế tỉnh Phú Yên năm 2015 tỉnh Phú Yên
có 843 người bệnh mắc Hen phế quản và có 3 người bệnh tử vong (điều trị nội trú),
đến năm 2016 có 901 người bệnh trong đó tử vong 1 người bệnh (điều trị nội trú) và
3 tháng đầu năm 2017 có 541 người bệnh mắc Hen phế quản tử vong 1 người bệnh
(điều trị nội trú). Các con số trên được tổng hợp gồm người bệnh được chẩn đoán
Hen phế quản điều trị nội trú và ngoại trú chưa có thống kê đầy đủ về người bệnh
Bệnh Hen phế quản (HPQ) được biết đến từ rất lâu trên thế giới khoảng 5000
năm trước đây. Khoảng 300 năm trước công nguyên các nước Trung Quốc, Ai Cập,
Hi Lạp HPQ đã được nói đến trong các tài liệu y văn cổ bởi các nhà y học cổ đại.
Từ năm 2700 trước công nguyên người ta đã sử dụng ma hoàng để chữa bệnh
(Ephdra) đặc biệt là khó thở. Đến năm 400 trước cơng ngun Hypocrat đã đề xuất
và giải thích từ “ Asthma” có nghĩa là HPQ để mơ tả một cơn khó thở kịch phát có
biểu hiện khị khè. Thế kỷ thứ I sau công nguyên Cleusus đã nêu các thuật ngữ như
“Dyspnea” và “Asthma”, đến thế kỷ thứ II Aretanus mô tả rõ hơn về HPQ, ông ta
cho rằng HPQ là một bệnh mạn tính có chu kì, có sự ảnh hưởng từ bên ngoài như
thời tiết thay đổi và là việc gắng sức [11]. Năm 1615, Van Helmont đã thông báo
các trường hợp hen bị ảnh hưởng từ phấn hoa. Đến năm 1698 đã có sự tiến bộ vượt
bậc hơn từ y học triệu chứng khó thở được giải thích là do co thắt phế quản bởi
Jonh Floyer. Năm 1777 J.Cullen đã chú ý tới cơn khó thở về đêm có liên quan đến
thời tiết và di truyền.
Thời kỳ cận và hiện đại
- Năm 1860 nhà nghiên cứu Laennec phát hiện khởi phát cơn hen là do lông
mèo. Năm 1873 Blackley đã nói về hen và một số bệnh do phấn hoa. Vào năm
1914, Widal đưa ra thuyết dị ứng về HPQ. Đặc biệt quan trọng là Hội nghị lần thứ
nhất về HPQ tổ chức năm 1932 đã đánh dấu bước ngoặc mở đường cho nhiều hội
nghị khác và các cơng trình nghiên cứu tiếp theo quan tâm nhiều hơn về HPQ. Sau
hội nghị này (từ năm 1936-1945) người ta đã tìm ra Serotonin, vai trò của
Acetycholin, kháng Histamin và các thuốc điều trị HPQ khác. Sau này người ta
quan tâm nhiều hơn đến cơ chế bệnh lý của HPQ như vai trò của tuyến ức, tế bào
5
lympho B và T từ năm 1962 – 1972 qua nghiên cứu của Burnet, Miller, Roitt.
Ishizaka (1967) phát hiện ra vai trò của IgE trong khởi phát HPQ [11].
- Tổ chức sáng kiến toàn cầu về HPQ (GINA) được thành lập vào năm 1993
bởi Tổ chức Y tế Thế giới và viện Tim mạch - Phổi - Huyết học Quốc gia Hoa Kỳ
chứng tắc nghẽn và tăng phản ứng phế quản do nhiều yếu tố kích thích và đặc biệt
là do Achetylcholin [11]. Định nghĩa này được nhiều người chấp nhận vì khá rõ
ràng, chi tiết.
- Theo GINA 2016 thì định nghĩa như sau: “HPQ là một bệnh lý đa dạng,
thường có đặc điểm là viêm đường thở mạn tính. Hen được định nghĩa bởi sự hiện
diện bệnh sử có các triệu chứng hơ hấp như khị khè, khó thở, nặng ngực và ho, các
triệu chứng này thay đổi theo thời gian và về cường độ, cùng với sự giới hạn luồng
khí thở ra dao động”[23].
Phân loại và nguyên nhân
- Hen phế quản dị ứng
+ Hen phế quản dị ứng không nhiễm khuẩn: Dị ứng nguyên hô hấp: thường
là bụi nhà, các loại bọ nhà, bụi chăn đệm, các lơng móng các lồi gia súc như chó,
mèo, chuột, thỏ v.v...; phấn hoa, cây cỏ, hay nghề nghiệp trong các xưởng dệt. Dị
ứng nguyên là thuốc Aspirine, kháng viêm không steroide, Pennicilline; trứng, một
số phẩm nhuộm màu và chất giữ thực phẩm.
+ Hen phế quản dị ứng nhiễm khuẩn: Vi khuẩn thường gặp là
streptococcus pyogenes, streptococcus pneumoniae, staphylococcus aureus... Virus:
Thường gặp là virus hợp bào hô hấp, parainfluenza, cúm. Nấm: Như nấm
Cladosporium hay Alternaria, các nấm mốc.
- Hen phế quản không do dị ứng: Di truyền: Tiền sử gia đình, liên quan đến
kháng ngun hịa hợp tổ chức HLA. Gắng sức khi làm việc. Thời tiết đặc biệt là
khơng khí lạnh. Rối loạn nội tiết trong thời kỳ trưởng thành, thời kỳ trước kinh
nguyệt, lúc mang thai, thời kỳ mãn kinh. Yếu tố tâm lý tâm trạng lo âu, mâu thuẫn
cảm xúc, chấn thương tình cảm.
7
Bảng 1.1. Phân loại mức độ HPQ theo GINA 2006 [25]
Mức độ hen
Bậc1
- >= 1 lần/tuần nhưng <1 > 2 lần/ tháng
>=
80% 20-30%
lần/ngày
giá trị lý
- Cơn cấp có thể ảnh
thuyết
hưởng đến hoạt động thể
lực.
Bậc 3
Trung bình
dai dẳng
Bậc 4
Nặng dai
dẳng
- Có hàng ngày
>1 lần/tuần
60-80%
8
- Co thắt phế quản: Do tác động của các chất trung gian hóa học gây viêm và
vai trị của hệ thần kinh tự động gồm hệ cholinergic, hệ adrenergic và hệ không
cholinergic không adrenergic.
- Tăng phản ứng phế quản: Xảy ra sau khi dị ứng nguyên vào cơ thể, qua tác
động của các tế bào gây viêm. Đây là một trạng thái bệnh lý không đặc hiệu cho hen
phế quản.
Triệu chứng lâm sàng cơn HPQ điển hình
- Giai đoạn khởi phát: Cơn hen phế quản thường xuất hiện đột ngột vào ban
đêm, nhất là nửa đêm về sáng; thời gian xuất hiện tùy thuộc vào nhiều yếu tố như
tiếp xúc dị ứng nguyên hô hấp, thức ăn, gắng sức, khơng khí lạnh, nhiễm virus
đường hơ hấp trên, v.v... Các tiền triệu như ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi, nước
mắt, ho từng cơn, bồn chồn v.v... nhưng không phải lúc nào cũng có.
- Giai đoạn lên cơn: Sau đó, cơn khó thở xảy ra, khó thở chậm, khó thở kỳ thở
ra xuất hiện nhanh, trong cơn hen lồng ngực bệnh nhân căng ra, các cơ hô hấp phụ
nổi rõ, có thể có tím ở đầu tay chân sau đó lan ra mặt và toàn thân. Nhịp thở chậm,
tiếng thở rít kéo dài. Đứng xa có thể nghe tiếng rít hay sị sè của bệnh nhân. Nghe
phổi có nhiều ran rít và ran ngáy. Cơn khó thở dài hay ngắn tùy theo từng bệnh
nhân.
- Giai đoạn lui cơn: Sau vài phút hay vài giờ, cơn hen giản dần, bệnh nhân ho
khạc đàm rất khó khăn, đàm đặc quánh, có nhiều hạt nhỏ như hạt trai. Lúc này nghe
phổi phát hiện được nhiều ran ẩm, một ít ran ngáy. Khạc đàm nhiều báo hiệu cơn
hen đã hết.
- Giai đoạn giữa các cơn: Giữa các cơn, các triệu chứng trên khơng cịn. Lúc
này khám lâm sàng bình thường. Tuy nhiên nếu làm một số trắc nghiệm như gắng
sức, dùng acetycholine, thì vẫn phát hiện tình trạng tăng phản ứng phế quản [1].
Triệu chứng hen phế quản
- Bệnh nhân có thể có hắt hơi , sổ mũi, ngứa mũi, ngứa mắt, ho khan, buồn
10
người Mỹ mắc bệnh HPQ đây là 7.4% người lớn và 8,6% trẻ em. HPQ ngày càng
tăng kể từ đầu những năm 1980 ở tất cả các độ tuổi, giới tính và các nhóm chủng
tộc. Mỗi năm, bệnh HPQ gây ra hơn 14 triệu lượt tới khám bác sĩ và 439.000 nằm
viện và thời gian nằm viện HPQ trung bình là 3,6 ngày [14].
- Tại Việt Nam: Việt Nam là một trong những nước mắc HPQ với tỷ lệ khá
cao khoảng 5% đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tỷ lệ nhập viện
nghỉ làm việc do HPQ trong năm là 26% (các nước trong khu vực là 15%) và là
nước kiểm soát HPQ tương đối thấp ở châu Á và khu vực Đông Nam Á (7,6%) với
tỷ lệ 2,9% [19],[21].
Tác động tới kinh tế, sức khỏe và cuộc sống, công việc
- Tại Australia đã chi 655 triệu đô (năm 2013) cho HPQ [16]. Tại Mỹ: Chi phí
hàng năm của bệnh HPQ là khoảng 56 tỷ USD. Nhập viện ở lại là phần lớn nhất của
các chi phí. Chi phí gián tiếp, như trả mất khỏi bệnh hoặc tử vong là 5.9 tỷ USD.
Người Mỹ đã chi khoảng 10 tỉ USD một năm để sản xuất các sản phẩm tiêu dùng
trên thị trường cho những người bị bệnh HPQ và dị ứng như máy hút bụi, làm sạch
khơng khí, giường, đồ chơi, sàn, và nhiều hơn nữa. Trong năm 2011 có khoảng 8
triệu phụ nữ bị tấn cơng bởi bệnh HPQ đã có gần 65% các ca tử vong HPQ tổng thể
[14]. Tại châu Âu tổng chi phí trung bình cho mỗi bệnh nhân là 1583 Euro và đã
được chủ yếu là do chi phí gián tiếp (tức là mất ngày và ngày làm việc, không hoạt
động làm việc liên quan đến 62,5%). Dự kiến tổng chi phí trong dân số từ 30-54
tuổi của 11 quốc gia châu Âu là 4,3 tỷ Euro (19,3 tỷ Euro khi mở rộng đến dân số
toàn châu Âu từ 15 tuổi đến 64 tuổi). Tổng chi phí trung bình cho mỗi bệnh nhân
dao động từ 509 Euro (kiểm soát hen suyễn ) đến 2.281 Euro (bệnh khơng kiểm sốt
được) [20]. Tại châu Á: chi phí trực tiếp cho mỗi bệnh nhân hàng năm dao động từ
108 USD cho Malaysia, 1010 USD cho Hồng Kơng. Nhìn chung, tổng mỗi bệnh
nhân chi phí trực tiếp tương đương với 13% của bình qn đầu người tổng sản
phẩm trong nước và 300% chi phí y tế bình quân đầu người [21].
nhiều người bệnh trong số các trường hợp tử vong có thể tránh được nếu được chăm
12
sóc và điều trị kịp thời [14]. Tại Australian có 389 người tử vong do HPQ trong
năm 2013 (0,3% của tất cả các trường hợp tử vong) tỷ lệ tử vong là 1,5 trên 100.000
dân [16].
Tình hình kiểm sốt HPQ
Một cuộc khảo sát năm 2012 của 2686 người dân Úc từ 16 tuổi trở lên bị bệnh
HPQ thấy rằng trên 45% những người bị HPQ hiện tại không được kiểm sốt tốt.
Hơn một nửa của nhóm này khơng được sử dụng một ống hít để ngăn ngừa bệnh,
hoặc sử dụng nó thường xuyên [17]. Một khảo sát y tế thế giới tiến hành trong 2002
- 2003 ước tính rằng 3- 6% của 4,2 tỷ dân của châu Á - Thái Bình Dương bị mắc
HPQ, nghiên cứu về thực trạng kiểm sốt Hen phế quản châu Á - Thái Bình Dương
44% số người được hỏi thì có ít nhất một lần cấp cứu đến cơ sở y tế để điều trị bệnh
HPQ ở trong năm [19]. Ngoài ra, tỷ lệ tử vong cao nhất do HPQ là ở các nước châu
Á - Thái Bình Dương mặc dù giá cả thuốc phải chăng được đánh giá cao hiệu quả
trong việc quản lý bệnh HPQ được đưa ra từ năm 1990, phần lớn các bệnh nhân trên
toàn thế giới bao gồm cả trong các nước châu Á - Thái Bình Dương khơng kiểm
sốt tốt HPQ [24]. Nhìn chung 7,6% số bệnh nhân được khảo sát có bệnh HPQ đã
được kiểm sốt tốt, với tỷ lệ cao nhất ở Singapore (14%) và thấp nhất ở Ấn Độ (0%)
và Trung Quốc (2%), những bệnh nhân hen khơng kiểm sốt tốt sử dụng nhiều
thuốc HPQ, nhiều lần cấp cứu hoặc nhập viện do HPQ gây ra [24]. Tại Việt Nam
hầu hết các trường hợp có triệu chứng dai dẳng nặng hơn so với các nước trong khu
vực, tỷ lệ người bệnh HPQ được kiểm soát ở Việt Nam là 2,9% tương đối thấp so
với các nước Đông Nam Á và châu Á [19].
Tổ chức GINA
Tổ chức Sáng kiến toàn cầu về HPQ (GINA) được thành lập vào năm 1993
bởi Tổ chức Y tế Thế giới và viện Tim mạch, Phổi và Huyết học quốc gia Hoa Kì
để phát triển một chiến lược tồn cầu để quản lý và ngăn ngừa bệnh HPQ. Mục tiêu
HPQ [33].
+ Rajanandh và cộng sự (2014) đã làm nghiên cứu về “Tác động của các dược
sĩ cung cấp giáo dục bệnh nhân về kiến thức, thái độ, thực hành và chất lượng cuộc
sống trong HPQ của bệnh nhân ở một bệnh viện miền Nam Ấn Độ” với 297 NB.