THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA THỊ XÃ NGHĨA LỘ - Pdf 75

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CỦA THỊ XÃ NGHĨA LỘ
I- Phương pháp nghiên cứu
1- Phương pháp chung
a. Phương pháp duy vật biện chứng
Là phương pháp nghiên cứu đánh giá sự vật hiện tượng kinh tế – xã hội trên
cơ sở nhìn nhận xem xét mọi vấn đề trong mối quan hệ hữu cơ gắn bó và ràng buộc
lẫn nhau trong quá trình tồn tại và phát triển. Phương pháp duy vật biện chứng đã
tạo khả năng cho công tác hạch toán kế toán xây dựng phương pháp thu thập và xử
lý thông tin số liệu ban đầu trên cơ sở đó tìm ra quy luật và xu hướng biến động
của hiện tượng và nguyên nhân của nó để xây dựng hướng và biện pháp giải quyết
tích cực.
b. Phương pháp duy vật lịch sử
Là phương pháp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng kinh tế – xã hội phải dựa
trên quan điểm lịch sử cụ thể, mỗi hiện tượng kinh tế – xã hội đều có quá trình lịch
sử hình thành và phát triển kế thừa nhau và xu hướng của nó trong tương lai. Như
vậy mỗi sự vật hiện tượng kinh tế – xã hội đều mang trong mình cả quá khứ, hiện
tại và tương lai. Vì vậy khi nghiên cứu thực trạng ngân sách Thị xã cần phải nghiên
cứu cả quá khứ, hiện tại và tương lai phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể của
địa phương.
2- Phương pháp nghiệp vụ cụ thể
a. Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu
- Chọn điểm nghiên cứu là phòng Tài chính-Kế hoạch thị xã Nghĩa Lộ-Tỉnh
Yên Bái và các cơ quan đơn vị trên địa bàn. Vì phòng Tài chính-Kế hoạch là cơ
quan trực thuộc UBND thị xã có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính
ngân sách Nhà nước trên địa bàn Thị xã theo Luật ngân sách Nhà nước và sự phân
cấp quản lý ngân sách của Nhà nước.
- Chọn mẫu nghiên cứu tiến hành nghiên cứu hoạt động Thu – Chi ngân sách
Nhà nước tại xưởng mỹ nghệ Xuân Bắc và hoạt động Thu – Chi ngân sách Nhà
nước tại xưởng dệt thổ cẩm Nghĩa Bình và công tác Thu – Chi ngân sách Nhà nước
tại phòng Tài chính – Kế hoạch Thị xã Nghĩa Lộ – Tỉnh Yên Bái. Vì đó là những

nhân dân.
- Hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình và kết quả hoạt động thu và chi ngân
sách Nhà nước.
Ngoài ra trong đề tài chúng tôi còn sử dụng một số chỉ tiêu khác có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu.
II- Khái quát chung về tình hình cơ bản của Thị xã Nghĩa Lộ
1- Điều kiện tự nhiên và khái quát chung về tình hình cơ bản của Thị xã
Nghĩa Lộ
a. Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Thị xã Nghĩa Lộ là một Thị xã được tái lập theo nghị định số 31/CP ngày
15/05/1995 của Thủ tướng Chính phủ được phê chuẩn tại Quốc hội khoá X. Thị xã
Nghĩa Lộ chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/07/1995, Thị xã Nghĩa Lộ nằm ở
phía Tây của Tỉnh Yên Bái:
- Phía Đông giáp xã Nghĩa Lợi và xã Phù Nham thuộc Huyện Văn Chấn.
- Phía Tây giáp xã Nghĩa Sơn thuộc Huyện Văn Chấn.
- Phía Nam giáp xã Nghĩa An thuộc Huyện Văn Chấn.
- Phía Bắc giáp xã Nghĩa Phúc và xã Nghĩa Lợi thuộc Huyện Văn Chấn.
Thị xã nằm ở trung tâm thung lũng Mường Lò là trung tâm kinh tế – chính
trị phía Tây của tỉnh, cách trung tâm huyện Văn Chấn 8km về phía Đông theo quốc
lộ 32B, cách huyện Trạm Tấu 30km về phía Nam. Nhìn chung Thị xã Nghĩa Lộ
năm trong vị trí thuận lợi về nhiều mặt trong khu vực và năm trong quy hoạch phát
triển kinh tế phía Tây của tỉnh Yên Bái.
* Khí hậu – thời tiết
Thị xã Nghĩa Lộ mang nét chung của khí hậu thời tiết vùng đông bắc Băc
bộ, nhiệt độ trung bình cả năm là 22 – 23
o
C, nhiệt độ trung bình mùa đông là
19,5
o

Nguồn phòng Thống kê Thị xã
Nước ta là nước nông nghiệp nên không thể không nói đến đất đai. Vì vậy
đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế được. Nên số
lượng đất đai nhiều hay ít, chất lượng đất tốt hay xấu ảnh hưởng lớn đến sản xuất
nông nghiệp. Thị xã Nghĩa Lộ nằm ở trung tâm thung lũng Mường Lò xung quanh
bao bọc bởi núi đồi, tạo nên cánh đồng Mường Lò rộng thứ hai ở tây bắc sau cánh
đồng Mường Thanh (Lai Châu). Đất đai ở đây tương đối màu mỡ thích hợp cho
sản xuất nông - lâm nghiệp. Địa hình tương đối bằng phẳng.
Qua biểu ta thấy toàn Thị xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 1093,5ha.
Trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm đại đa số với 485,42ha chiếm 44,39%.
Đất lâm nghiệp là 40ha chiếm 3,65%, đất chuyên dùng là 207,65ha chiếm 18,98%,
đất ở là 82.37ha chiếm 7,53%, đất chưa sử dụng là 278.06ha chiếm 25,42%. Nhìn
chung đất đai năm 2006 của Thị xã không có sự biến động lớn, với một Thị xã vẫn
còn sản xuất nông nghiệp là chủ yếu như Thị xã Nghĩa Lộ thì những năm tới cần
có sự hỗ trợ, đầu tư hơn nữa nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng
cao thu nhập cho người dân.
* Dân số lao động
Bảng 2: Tình hình hộ khẩu và lao động của Thị xã năm 2006
Chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng
1. Tổng số hộ hộ 4.390
- Hộ nông nghiệp hộ 3.125
- Hộ phi nông nghiệp hộ 1.265
2. Tổng số dân số người 18.380
- Nam người 9.029
- Nữ người 9.351
3. Tổng số lao động lao động 9.357
- Nam lao động 4.417
- Nữ lao động 4.940
Nguồn phòng Thống kê Thị xã
Nghĩa Lộ là một Thị xã được tái lập có 4 phường: Phường Trung Tâm,

- Y tá người 38
- Dược sĩ người 5
- Nữ hộ sinh người 7
Nguồn phòng Thống kê Thị xã
Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” chính quyền Thị xã
Nghĩa Lộ đã giải quyết tốt các vấn đề “Điện, đường, trường trạm” góp phần xây
dựng và phát triển kinh tế – xã hội của Thị xã theo đúng chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước đề ra.
- Về điện: Toàn Thị xã có 4 trạm biến áp, 12km đường dây cao thế, 22km
đường dây hạ thế và 15km điện chiếu sáng đáp ứng đầy đủ nhu cầu về điện trong
sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn.
- Về giao thông: Thị xã Nghĩa Lộ có tổng số 21,3km đường giao thông trong
đó: Đường quốc lộ 32 chạy qua là 4,3km, đường tỉnh lộ là 2km, đường thị –
phường – xã là 15km. Nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cấp chính
quyền Thị xã và sự đóng góp của nhân dân trên địa bàn, hệ thống giao thông của
Thĩ xã thường xuyên được nâng cấp và xây dựng mới góp phần cho sự giao lưu
văn hoá, phát triển kinh tế – xã hội với các vùng lân cận.
- Về giáo dục: Sự nghiệp giáo dục luôn được cấp chính quyền Thị xã quan
tâm, đầu tư. Vì phát triển giáo dục được coi là chiến lược quốc sách hàng đầu.
Toàn Thị xã có 16 trường học trong đó: Mầm non là 5 trường, tiểu học là 4 trường,
trung học cơ sở là 5 trường, phổ thông trung học là 2 trường có đầy đủ trang thiết
bị giảng dạy và học tập với đội ngũ giáo viên được tiêu chuẩn hoá ở cả 4 cấp đáp
ứng đầy đủ nhu cầu về học tập cho các đối tượng trong độ tuổi đến trường của Thị
xã, góp phần nâng cao dân trí, phổ cập giáo dục, chống tái mù chữ cho nhân dân
trên địa bàn.
- Về y tế: Để đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ
của nhân dân trên địa bàn Thị xã có 1 bệnh viện trung tâm và 4 trạm xá phường với
100 cán bộ làm việc trong đó: Bác sĩ là 33 người, y sĩ là 17 người, y tá là 38 người,
dược sĩ là 5 người, nữ hộ sinh là 7 người có đầy đủ trang thiết bị và kiến thức
chuyên môn đáp ứng nhiệm vụ phòng và chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân

Nghiêp
15.159 21,4 15.710 19,3 16.637 18,7 103,63 105,9 104,76
TM – DV 41.290 58,2 45.373 56,2 50.610 56,3 109,88 111,54 110,71
2.Hoạt động
xã hội
12.639 13.878 16.252 109,80 117,1 113,42
Văn hoá -
TDTT
533 585 620 109,75 105,98 107,86
Y tế 2.080 2.228 2.508 107,11 112,56 109,83
Giáo dục 7.180 7.755 8.635 108 111,34 109,67
AN – QP 2.846 3.310 4.489 116,3 135,61 125,95
Nguồn phòng Thống kê Thị xã
Trong những năm gần đây cùng với tình hình biến động của nền kinh tế
quốc dân nói chung và nền kinh tế Thị xã Nghĩa Lộ nói riêng có nhiều hường phát
triển nhanh theo cơ chế thị trường, cơ câu kinh tế của Thị xã phát triển theo hướng
CN – TTCN, thương mại – dịch vụ, nông – lâm nghiệp. Cụ thể qua 3 năm cơ cấu
các ngành kinh tế biến động như sau :
- Nông – lâm nghiệp : Từ 21,4% năm 2004 giảm xuống còn 18,7% năm
2006
- CN – TTCN : Từ 20,4% năm 2004 tăng lên 24,4% năm 2006.
- Thương mại – dịch vụ: Từ 58,2% năm 2004 biến động nhỏ xuống còn
56,9% năm 2006.
Trên địa bàn Thị xã có 2 doanh nghiệp Nhà nước trực tiếp do Thị xã quản lý
và 5 doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ. Trong
lĩnh vực nông – lâm nghiệp hiện có diện tích đất nông nghiệp là 485,42ha trong đó
cây trồng chủ yếu là sản xuất lúa với năng suất bình quân 10tấn/ha/ năm, giá trị sản
xuất bình quân mới chỉ đạt 31trđ/ha, lương thực quy thóc bình quân đầu người là
260kg/người/năm.
- Văn hoá xã hội:

- Quản lý Nhà nước về tài chính, các loại hình kinh tế theo sự phân cấp quản
lý của tỉnh.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ của Thị uỷ, UBND thị, Sở Tài chính – vật giá
tỉnh Yên Bái giao cho phòng Tài chính – Thương mại Thị xã Nghĩa Lộ có trách
nhiệm xây dựng quy chế hoạt động, làm việc cho lãnh đạo và cán bộ công chức
của phòng phù hợp với tình hình tổ chức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đảm
bảo đúng Luật ngân sách Nhà nước đã ban hành nhằm làm tốt hai chức năng quản
lý về tài chính và tham mưu giúp HĐND, UBND Thị xã về công tác tài chính trên
địa bàn Thị xã.
* Tình hình tổ chức bộ máy quản lý và quy chế hoạt động của phòng Tài
chính – Thương mại Thị xã Nghĩa Lộ được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Hệ thống bộ máy tổ chức quản lý và quy chế hoạt động của phòng
Tài chính – Thương mại Thị xã
Trưởng phòng
Kế toán tổng hợp
Kế toán ngân sách xã, phường
Kế toán quyết toán vốn đầu tư
Phó phòng
- Trưởng phòng: Chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo chung mọi hoạt động
công tác của phòng trước Thị uỷ, HĐND, UBND Thị xã quản lý Thu - Chi ngân
sách trên địa bàn và ngân sách Thị xã, quản lý công tác kế hoạch, quản lý các dự
án.
- Phó phòng: Giúp trưởng phòng về công tác quản lý điều hành chung mọi
hoạt động của phòng. Báo cáo trao đổi thường xuyên về công tác cua rmình trên
lĩnh vực được giao, chịu trách nhiệm cá nhân giải quyết những công việc khi được
đồng chí Trưởng phòng uỷ nhiệm.
- Kế toán tổng hợp: Chịu trách nhiệm trước lãnh đạo phòng trong việc tổng
hợp, đảm bảo xây dựng dự toán kế hoạch Thu – Chi, cấp phát ngân sách chính xác,
kịp thời, đúng chế độ, đúng nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý trong hoạt động tài
chính.

lượng
(người
)

cấu
(%)
05/0
4
06/05 BQ
Tổng số
lao động
8 100 8 100 8 100 100 100 100
Trình độ
ĐH
6 75 6 75 7 87,5 100 116,67 108,33
Trình độ

0 0 0 0 0 0 0 0 0
Trình độ
TC
1 12,5 1 12,5 1 12,5 100 100 100
Trình độ
dưới TC
1 12,5 1 12,5 0 0 100 0 0
Nguồn phòng Tài chính – Kế hoạch
Qua biểu ta thấy số lượng lao động của phòng Tài chính – Kế hoạch Thị xã
Nghĩa Lộ qua các năm vẫn giữ nguyên là 8 người, đó là do yêu cầu công việc của
phòng, trong tổng số lao động thì những người có trình độ đại học chiếm tỷ trong
lớn, chiếm 75% năm 2004; 87,5% năm 2006. Như vậy số lao động tăng là 6 người
năm 2004 lên 7 người năm 2006. Điều này thể hiện sự quan tâm của phòng đến

sự tiến bộ không ngừng của khoa học, tin học ra đời và được áp dụng rộng rãi
trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, trong đó có quản lý ngân sách
Nhà nước. Việc áp dụng tin học vào công tác hạch toán kế toán và quản lý ngân
sách Nhà nước đã góp phần đảm bảo độ chính xác tin cậy kịp thời và nhanh chóng,
lưu trữ và xử lý tính toán được khối lượng số liệu lớn. Điều này cho phép cơ quan
quản lý ngân sách Nhà nước tiết kiệm được nhân lực, thời gian với kết quả tính
toán nhanh, độ chính xác cao, hạn chế được tiêu cực nảy sinh, đồng thời với việc
chuyển và xử lý số liệu nhanh, kịp thời giúp cho cơ quan quản lý ngân sách Nhà
nước chỉ đạo kịp thời công tác Thu - Chi ngân sách Nhà nước, làm cho ngân sách
Nhà nước thực sự phát huy vai trò của mình.
* Khó khăn: Do trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ cấp cơ sở chưa
đồng nhất nên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tài chính trong hoạt động Thu -
Chi ngân sách Nhà nước của Thị xã trong thời gian qua cũng như hiện tại.
c. Nhận xét về đặc điểm, điều kiện cơ bản của địa phương
* Thuận lợi:
Trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân Thị xã Nghĩa Lộ đã vượt qua
nhiều khó khăn thử thách hoàn thành tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội của

Trích đoạn Báo cáo Thu Chi ngân sách Nhà nước tại phòng Tài chính – Kế hoạch Thị xã Nghĩa Lộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status