Đánh giá hiện trạng và định hướng phát triển nông nghiệp bền vững ở quận hà đông hà nội - Pdf 76

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trần Thị Liên

“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở QUẬN
HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI”

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội, năm 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở
QUẬN HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI”
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Sử dụng và Bảo vệ Tài nguyên Môi trường
Mã số: 60 85 15
Người hướng dẫn

PGS.TS Đinh Văn Thanh

Hà Nội, năm 2012
2



Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên………………

33

2.1.1 Vị trí địa lý……………………………………………………………. 33
2.1.2 Địa hình…………………………………………………………….. 34
2.1.3 Tài ngun khí hậu…………………………………………………. 35
2.1.4 Tài nguyên nước……………………………………………………. 36
2.1.5 Tài nguyên đất……………………………………………………… 37
2.2 Đặc điểm Kinh tế - Xã hội........................................................................ 40
2.2.1 Tăng trưởng kinh tế………………………………………………… 40
2.2.2 Dân cư và lao động………………………………………………… 42
2.2.3 Cơ sở hạ tầng………………………………………………………. 44
2.2.4 Hiện trạng môi trường quận Hà Đơng…………………………………. 48
2.2.5 Đường lối chính sách và cơ chế………………………………………. 52
2.2.6 Nguồn vốn…………………………………………………………. 53
2.2.7 Thị trường tiêu thụ................................................................................ 53
2.3 Đánh giá tổng quát những lợi thể và hạn chế của quận Hà Đông .................. 54
2.3.1 Lợi thế…………………………………………………………………. 54
2.3.2 Hạn chế và thách thức………………………………………………… 56
Chương 3: Phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển nông nghiệp trên quan điểm
phát triển nông nghiệp bền vững và định hướng phát triển nông nghiệp
3


bền vững tại quận Hà Đông…………………………………

59

3.1 Biến động quy mô đất nông nghiệp .......................................................... 59

bằng, bền vững giữa các yếu tố môi trường sinh thái với sự phát triển của con
người. Trong xu hướng phát triển đó, phát triển nơng nghiệp bền vững của các
vùng ngoại thành còn mang một ý nghĩa nhân văn độc đáo, đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao cả về vật chất và văn hoá, tinh thần của dân cư đô thị, gắn liền với việc
phát triển nền nông nghiệp sạch và nông nghiệp du lịch- sinh thái, được khai thác
từ những tiềm năng, thế mạnh sẵn có của các vùng ngoại thành.
Nông nghiệp ngoại thành Hà Nội mặc dù chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong cơ
cấu kinh tế Thủ đơ, nhưng được xác định là ngành có vị trí quan trọng trong phát
triển kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hố, hiện đại hố. Vai trị đó khơng chỉ
được thể hiện ở chỗ đáp ứng đáng kể nhu cầu lương thực, thực phẩm cho người
dân Thủ đô, làm đẹp cảnh quan, bảo vệ mơi trường, mà cịn có ý nghĩa to lớn
trong việc mang lại những giá trị tinh thần độc đáo, làm giàu nét đẹp truyền thống
văn hoá người Hà Nội. Trong bối cảnh đơ thị hố và cạnh tranh ngày càng sâu sắc
với các hoạt động phi nơng nghiệp, lợi ích từ các sản phẩm nơng nghiệp thuần tuý
ở các vùng ngoại ô ngày càng thu hẹp. Chính vì vậy, nơng nghiệp ven đơ nói
chung và nơng nghiệp ngoại thành Hà Nội nói riêng chỉ có thể tiếp tục duy trì và
phát triển đúng hướng, phục vụ phát triển đơ thị khi nó được phát triển theo hướng
sản xuất nông nghiệp sinh thái.
Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , là trung
tâm chính trị -hành chính Quốc gia , trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục,
kinh tế và giao dịch quốc tế. Với lợi thế về vị trí địa lí- chính trị, có lịch sử phát
triển lâu đời, Hà Nội ln giữ vai trị quan trọng nhất của đất nước, có sức hút và
tác động rộng lớn đối với Quốc gia và khu vực Bắc Bộ. Hà Nội đồng thời còn là
hạt nhân phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm phía Bắc và Vùng Hà Nội. Trong
xu hướng hội nhập và phát triển, việc nâng cao vai trị vị thế của Thủ đơ Hà Nội
trên trường quốc tế là một nhu cầu tất yếu
. Ngày 29/05/2008 Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam đã ra Nghi ̣quyế t 15/2008 QH12 về viê ̣c điều chỉnh điạ giới
hành chính thủ đơ Hà Nội trên cơ sở sáp nhập Thành phố
Hà Nội cũ với tỉnh Hà

nghiệp bền vững ở quận Hà Đông, Hà Nội” làm hướng đề tài nghiên cứu luận văn
thạc sỹ khoa học.

2.

Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ phát triển Nông nghiệp bền vững ở quận Hà
Đông, Hà Nội.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững ở một đô thị
đang diễn ra q trình đơ thị hóa mạnh.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển nơng nghiệp ở quận
Hà Đông.
- Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững
- Đề xuất các giải pháp thực hiện phương án quy hoạch phát triển nông
nghiệp ở quận Hà Đông.

4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập và sử lý số liệu thống kê
6


Tác giá đã đi thu thập số liệu thống kê về các điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã
hội, và sự phát triển của ngành nông nghiệp quận Hà Đông. Chủ yếu số liệu
thu thập được thuộc giai đoạn từ năm 2005- 2012.
- Phương pháp khảo sát thực địa và điều tra xã hội học
Tác giả đã tiến hành điều tra khảo sát thực địa để sát thực lại nguồn số liệu
thu thập được, và xem xét tình hình thực tế. Ngồi ra tác giả cịn tiến hành

nông nghiệp Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á lại quan tâm đến tác động của đô thị
7


hố đến nơng nghiệp đơ thị. Trong khi các nhà nghiên cứu Bắc Mỹ (trong những
năm 70 và 80) tập trung đánh giá ảnh hưởng của đơ thị hố đến năng suất và sản
lượng nông nghiệp trên cơ sở nghiên cứu hoạt động của các nông trại trong điều
kiện đô thị hố, thì các nghiên cứu ở Châu Âu và châu Á lại quan tâm nhiều hơn
đến vai trò của nông nghiệp ven đô đối với bảo vệ cảnh quan môi trường. Các
nghiên cứu này đã đi đến kết luận là sự phát triển của nông nghiệp ven đô phụ
thuộc rất lớn vào các chủ trương, chính sách về kế hoạch hố đơ thị (như nghiên
cứu về “Kế hoạch chiến lược phát triển không gian xanh cho các khu vực đơ thị có
mật độ dân cư cao” được trình bày tại hội thảo quốc tế về “Các vấn đề và tương lai
phát triển thành phố sinh thái” tổ chức qua mạng năm 2003.
- Mơ hình vành đai xanh- Greenbelt của Boal (1970)
- “Chuyển dịch cơ cấu- cẩm nang kinh tế phát triển”, tác giả Chenery, năm
1988
-

“Nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu, các chiến lược kinh tế ở các quốc

gia đang phát triển” của Johnston B. F. Kilby P., ấn hành bởi Oxford University
năm 1975
- “Nghiên cứu so sánh về cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế” của
Kuznets năm 1959
- Có một số nghiên cứu khá điển hình liên quan đến nông nghiệp đô thị và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp trong q trình đơ thị hoá ở các quốc gia
như Thái Lan, Trung Quốc và Mỹ như các nghiên cứu của McGee và Greenberg
(1990), của Doras (1996), của Mollard (1997) và của Srijantr (1998) về nông
nghiệp đô thị Bangkok; nghiên cứu của Gale F.H (1999) về các mơ hình nơng

vững
1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp bền vững thường được nhiều người hiểu là nền nơng nghiệp mà
ở đó ngồi việc sản xuất ra nhiều nơng sản thực phẩm có chất lượng cịn phải đi
đơi với bảo vệ và duy trì mơi trường để đảm bảo cho nơng nghiệp có cơ sở phát
triển bền vững. Vì vậy, có thể coi nơng nghiệp bền vững là mơ hình nơng nghiệp
hữu cơ cổ truyền với các u cầu cao về bảo tồn mơi trường sinh thái. Nơng
nghiệp hữu cơ theo quan điểm hiện đại không chỉ gắn liền với việc sử dụng các
chất hữu cơ, mà bao gồm cả mối quan hệ qua lại gắn bó giữa cây và con, giữa sinh
vật với môi trường vô cơ và hữu cơ. Tuy nhiên, nếu chỉ chú ý đến mơi trường sinh
thái thì năng suất nơng nghiệp sẽ thấp. Ở đây cần phải có sự kết hợp giữa yếu tố
sinh thái và yếu tố bền vững.
Trong điều kiện dân số thế giới ngày càng gia tăng, nếu vẫn tiếp tục phát
triển nông nghiệp bền vững theo nội dung của nơng nghiệp hữu cơ trước đây thì
khó có khả năng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về số lượng, chất lượng và
chủng loại nơng sản bởi vì nơng nghiệp trong điều kiện đó chỉ đáp ứng được nhu
cầu về mức độ an toàn của sản phẩm, cân bằng hệ sinh thái, giữ gìn cảnh quan cịn
9


yếu tố năng suất sẽ không đáp ứng được.
Hiện nay nhiều nước đã và đang hướng tới phát triển một nền nông nghiệp
bền vững với các yêu cầu của nông nghiệp sinh thái mà trong đó các thành tựu
khoa học kỹ thuật và công nghệ được áp dụng để tạo ra năng suất cao, đáp ứng
nhu cầu về nông sản. Những đặc trưng của nông nghiệp bền vững, những yêu cầu
của gìn giữ cân bằng sinh thái được coi như những ràng buộc của quá trình ứng
dụng các thành tựu khoa học, cơng nghệ vào sản xuất. Đó chính là sự định hướng
cho nông nghiệp phát triển theo hướng nông nghiệp bền vững nhất là nông nghiệp ở
các vùng ngoại ô như ở quận Hà Đông.
Có khá nhiều khái niệm về nơng nghiệp bền vững, trong đó mỗi định nghĩa

chỉ là những sản phẩm của cây trồng, vật ni mà cịn là mơi trường sinh thái phát
triển hài hoà tạo cơ sở tự nhiên bền vững cho nông nghiệp phát triển ổn định, lâu
bền, cảnh quan sinh thái sạch, đẹp cho cuộc sống con người và bảo vệ gen ngày
càng phong phú trong quá trình đa dạng sinh học.
1.1.2

Một số khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển nông nghiệp bền vững là vấn đề trung tâm của nhiều nước trên thế

giới và nhất là các nước đang phát triển. Để tiếp cận đúng đắn với sự phát triển
bền vững nông nghiệp cần thiết phải nhận thức đầy đủ về phát triển, tăng trưởng
và phát triển bền vững.
Tăng trưởng và phát triển đôi khi được coi là đồng nghĩa, nhưng thực ra
chúng có liên quan với nhau và có những nội dung khác nhau. Theo nghĩa chung
nhất, tăng trưởng là nhiều sản phẩm hơn, còn phát triển khơng những nhiều sản
phẩm hơn mà cịn phong phú hơn về chủng loại và chất lượng, phù hợp hơn về cơ
cấu và phân bổ của cải.
Tăng trưởng là sự gia tăng thu nhập quốc dân và sản phẩm quốc dân hoặc thu
nhập quốc dân và sản phẩm quốc dân tính theo đầu người. Nếu như sản phẩm
hàng hố và dịch vụ trong một quốc gia tăng lên, nó được coi là tăng trưởng kinh
tế. Tăng trưởng cũng được áp dụng để đánh giá cụ thể đối với từng ngành sản
xuất, từng vùng của một quốc gia.
Phát triển bao hàm ý nghĩa rộng hơn, phát triển bên cạnh sự tăng thu nhập
bình qn đầu người cịn bao gồm nhiều khía cạnh khác. Sự tăng trưởng cộng
thêm các thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm
quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đơ thị hố, sự tham gia của các dân tộc
của một số quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi nói trên là những nội dung
của sự phát triển. Phát triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các
tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khoẻ và đảm bảo sự bình đẳng cũng như
quyền cơng dân. Phát triển cịn được định nghĩa là sự tăng bền vững về các chỉ

nhiên, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực lao động…) và giảm cấp mơi trường.
Trong tình hình đó, quan niệm mới về sự phát triển đã được đặt ra, đó là phát triển
bền vững. Phát triển bền vững là quan niệm mới của sự phát triển, nó lồng ghép
các quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn môi trường: đảm bảo
thoả mãn những nhu cầu hiện tại mà vẫn không phương hại đến khả năng đáp ứng
những nhu cầu của tương lai. Các thế hệ hiện tại khi sử dụng các nguồn tài nguyên
sản xuất ra của cải vật chất không thể để cho thế hệ mai sau phải gánh chịu tình
trạng ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên và nghèo đói. Cần phải để cho các thế hệ tương
12


lai được thừa hưởng các thành quả lao động của thế hệ hiện tại dưới dạng giáo
dục, kỹ thuật, kiến thức và các nguồn lực khác ngày càng được tăng cường. Tăng
thu nhập kết hợp với các chính sách mơi trường và thể chế vững chắc có thể tạo cơ
sở cho việc giải quyết cả hai vấn đề môi trường và phát triển. Điều then chốt đối
với phát triển bền vững khơng phải là sản xuất ít đi mà sản xuất khác đi, sản xuất
phải đi đôi với việc tiết kiệm các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường. Các
chính sách mơi trường có thể tăng cường hiệu suất trong sử dụng tài nguyên và
đưa ra những đòn bẩy để tăng cường những cơng nghệ, phương pháp ít gây nguy
hại, không làm giảm cấp môi trường và nguồn lực. Các đầu tư tạo ra nhờ các
chính sách mơi trường sẽ làm thay đổi cách thức sản xuất các sản phẩm và dịch
vụ, có thể có trường hợp đầu ra thấp hơn những lại tạo ra những lợi ích làm tăng
phúc lợi lâu dài của con người. Trong thực tế thu nhập tăng lên, nhu cầu nâng cao
chất lượng môi trường cũng sẽ tăng lên và các nguồn lực có thể sử dụng cho đầu
tư tăng lên. Chương trình mơi trường của Liên hợp quốc (UNEP) đã đề xuất 5 nội
dung của phát triển bền vững bao gồm:
* Tập trung phát triển ở các vùng nghèo đói, nhất là những vùng rất nghèo
mà ở đó con người khơng có lựa chọn nào khác ngồi làm giảm cấp nguồn lực và
mơi trường
* Tạo ra sự phát triển cao về tính tự lập cộng đồng trong điều kiện có hạn về

+ Đối với tài nguyên tái sinh sử dụng ở mức thấp hơn hoặc bằng;
+ Đối với tài ngun khơng tái sinh tối ưu hố hiệu quả sử dụng chúng
bằng giải pháp hợp lý từ các yếu tố đầu vào (phân bón, kỹ thuật canh tác...)
- Phát triển nông nghiệp bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu tăng
trưởng chung của nền kinh tế nhưng khơng làm suy thối mơi trường tự nhiêncon người và đảm bảo trên mức nghèo đói của người dân nông thôn.
- Phát triển nông nghiệp bền vững là đảm bảo an ninh lương thực, tăng cải
tổ kinh tế, khắc phục nghèo đói và tạo điều kiện tăng tốc độ cơng nghiệp hố.
- Phát triển nơng nghiệp bền vững được hiểu là giữ vững tốc độ tăng trưởng
về sản xuất lẫn y tế và giáo dục qua nhiều năm hay thập kỷ.
- Phát triển nông nghiệp bền vững là cực đại hố phúc lợi hiện tại, khơng
làm giảm thiểu các phúc lợi ấy trong tương lai.
- Phát triển nông nghiệp bền vững là hướng phát triển mà trong đó giá trị
của vốn thiên nhiên không bị suy giảm qua thời gian.
Theo tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới của Liên hợp quốc (FAO)
năm 1992 quan niện rằng “Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo
tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng
tăng của của con người cả cho hiện tại và mai sau. Sự phát triển như vậy của nền
nông nghiệp sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài
nguyên , phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp
14


nhận về phương diện xã hội”
Như vậy, trên quan điểm phát triển, sự phát triển nông nghiệp bền vững vừa
đảm bảo thoả mãn nhu cầu hiện tại ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp vừa
không giảm khả năng đáp ứng những nhu cầu của nhân loại trong tương lai. Mặt
khác, phát triển nông nghiệp bền vững vừa theo hướng đạt năng suất cao hơn, vừa
bảo vệ và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo sự cân bằng có lợi về môi
trường.
1.2

xuất nào đặc biệt là nông nghiệp, như sự phân bố cây trồng chịu sự chi phối lớn
bởi điều kiện nhiệt ẩm của môi trường, đặc biệt là đối với nền nông nghiệp
nhiệt đới ở nước ta, nếu thiếu nước cây trồng sẽ không phát triển bình thường
được, năng xuất cây trồng giảm.
* Tài nguyên đất.
Đất đai là đầu vào quan trọng của bất kỳ quá trình sản xuất nào dù là sản
xuất nơng nghiệp, là địa bàn trên đó con người tiến hành các hoạt động sản xuất
nông nghiệp, đất đai vừa là tư liệu sản xuất, vừa là đối tượng lao động, năng
suất nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn vào việc sử dụng đất đai và các biện
pháp canh tác đúng đắn áp dụng cho từng khu vực.
b, Điều kiện kinh tế - xã hội.
* Trình độ phát triển kinh tế.
Trình độ phát triển kinh tế ảnh hưởng nhiều tới sự phát triển ngành nơng
nghiệp. Ở những địa phương có trình độ phát triển kinh tế cao sẽ tạo điều kiện
cho sự phát triển của các ngành sản xuất nông nghiệp.
* Dân số và lao động.
Lao động là yếu tố đầu vào của bất kỳ ngành sản xuất nào, mặc dù ngày
nay con người đã tạo ra nhiều máy móc để thay thế cho con người trong một số
công đoạn sản xuất. Dân số và lao động thể hiện qua các đặc trưng về số lượng,
chất lượng, trình độ văn hố, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động.
Để tiến hành sản xuất cần phải có một đội ngũ lao động đơng đảo, có trình độ
chun mơn và tay nghề cao.
* Cơ sở vật chất hạ tầng.
Các yếu tố cơ sở vật chất hạ tầng như điện, cung cấp nước, giao thông,
các cở sở dịch vụ ngân hàng, thông tin liên lạc là những yếu tố bổ trợ cho sự
phát triển các ngành kinh tế. Các ngành kinh tế sẽ không thể phát triển nếu như
hệ thống cơ sở hạ tầng không được đầu tư một cách đồng bộ.
* Chủ chương và chính sách của Nhà Nước.
Đây là nhân tố có tính chất định hướng, quyết định đến sự phát triển và
16

hội theo lãnh thổ bao gồm hai hình thức chủ yếu: tổ chức nền sản xuất xã hội và tổ
chức môi trường sống của con người, trong đó hình thức thứ nhất giữ vai trò quyết
định.
17


Cùng với ngành công nghiệp, TCLTNN với tư cách là việc tổ chức ngành sản
xuất vật chất, ngành kinh tế then chốt đang được quan tâm nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội.
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là một hệ thống liên kết khơng gian
của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên cơ sở các quy
trình kỹ thuật mới nhất, chun mơn hố, tập trung hoá, liên hợp hoá và hợp tác
hoá sản xuất cho phép sử dụng có hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về các
điều kiện tự nhiên, kinh tế, nguồn lao động và đảm bảo năng suất lao động xã hội
cao nhất. [21]
Như vậy, TCLTNN thể hiện một số đặc điểm nổi bật sau đây:
- Phân công lao động theo lãnh thổ cùng với việc kết hợp các điều kiện tự
nhiên, kinh tế và lao động là cơ sở để hình thành các mối liên hệ qua lại theo
khơng gian (lãnh thổ).
- Trong TCLTNN, khía cạnh ngành và khía cạnh lãnh thổ kết hợp chặt chẽ,
qua lại với nhau.
- Các đặc điểm không gian của sản xuất nông nghiệp được xác định bởi tính chất
của việc khai thác và sử dụng các điều kiện sản xuất hiện có.
- Hiệu quả kinh tế và năng suất lao động là tiêu chuẩn hàng đầu của TCLTNN.
TCLTNN luôn thay đổi, phù hợp với các hình thái kinh tế- xã hội. Trong điều
kiện hiện nay, TCLTNN gắn liền với khoa học công nghệ, với q trình cơng
nghiệp hố, hiện đại hố. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa
học cơng nghệ, nhiều hình thức TCLTNN đã và đang xuất hiện, mang lại hiệu quả
cao về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
1.3.2

a) Hộ gia đình (nơng hộ)
Nhìn chung ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, người ta thừa nhận “hộ” là
“gia đình” và “kinh tế hộ” là “kinh tế gia đình”. Hộ là một đơn vị kinh tế- xã hội
tự chủ cùng một lúc thực hiện nhiều chức năng mà ở các đơn vị kinh tế khác
khơng thể có được. Hộ là một tế bào của xã hội với sự thống nhất của các thành
viên có cùng huyết tộc, mà mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm
tăng thu nhập, đảm bảo sự tồn tại. Hộ còn là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng.
Hộ gia đình là hình thức vốn có của sản xuất nhỏ, tồn tại phổ biến ở các nước
đang phát triển thuộc châu Á, trong đó có Việt Nam. Các thành viên trong hộ gia
đình có mối quan hệ gắn bó về huyết thống cũng như về kinh tế, cùng chung sống
trong một mái nhà, cùng tiến hành sản xuất và có chung một nguồn thu nhập. Các
đặc điểm cơ bản của hộ gia đình là:
- Về đất đai, quy mơ canh tác nhỏ bé, biểu hiện rõ tính chất tiểu nơng. ở ấn Độ
bình qn diện tích đất canh tác < 2ha/hộ, ở Philippin < 3ha, ở Việt Nam từ 0,5ha (ở
miền Bắc), đến 0,6- 1ha ở đồng bằng sông Cửu Long. Ở nước ta, hộ gia đình khơng
có quyền sở hữu ruộng đất mà chỉ có quyền sử dụng.
- Về vốn, đại bộ phận rất ít, quy mơ thu nhập nhỏ, khả năng tích luỹ thấp làm
hạn chế khả năng đầu tư tái sản xuất. Vật tư được mua phục vụ cho sản xuất từ
tiền bán nông phẩm.
- Về lao động, chủ yếu sử dụng lao động gia đình. Sức lao động của nơng hộ khơng
phải hàng hố, mà là tự phục vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của gia đình.
19


- Kỹ thuật canh tác và công cụ sản xuất ít biến đổi, mang nặng tính truyền
thống.
- Quy mô sản xuất (đất đai, vốn, lao động) rất nhỏ bé.
Đối với các nước đang phát triển, hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong
việc bảo tồn xã hội, phát triển kinh tế nông thôn, là cơ sở đảm bảo cho kinh tế tập
thể tồn tại và thúc đẩy nông thôn q độ tiến lên một trình độ cao hơn: nơng thơn

sản xuất đa canh), tập trung vào những nông sản có lợi thế so sánh và khả năng
sinh lợi cao hơn và vào việc thâm canh (đầu tư tương đối lớn về vốn, công nghệ,
lao động... trên một đơn vị diện tích).
- Các trang trại đều có th mướn lao động (lao động thường xuyên và lao
động thời vụ).
Ở Việt Nam, trang trại mới phát triển từ đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, song
đã tạo ra những biến chuyển mới trong nông nghiệp, nông thôn, tạo điều kiện để
nông nghiệp nước ta chuyển nhanh sang sản xuất hàng hố. Hiện nay, cả nước có
trên 51,5 nghìn trang trại với các loại hình khác nhau như trang trại nơng nghiệp,
trang trại lâm nghiệp, trang trại nông- lâm nghiệp, trang trại lâm- nông- dịch vụ...
Về quy mô của trang trại, lớn nhất là 1.000ha và nhỏ nhất từ 2 đến 3ha. [24]
Trang trại có vai trị to lớn trong sản xuất nơng nghiệp ở các nước phát triển
bởi vì phần lớn nông phẩm cung cấp cho xã hội được sản xuất ra từ các trang trại.
Còn tại các nước đang phát triển, vai trị tích cực và quan trọng của trang trại thể
hiện rõ nét ở cả ba mặt: kinh tế (phát triển cây trồng vật ni có giá trị hàng hố
cao, tạo nên vùng chun mơn hố, tập trung hàng hoá...), xã hội (tạo thêm việc
làm, tăng thu nhập cho người lao động) và môi trường (sử dụng hiệu quả tài
nguyên đất, trồng rừng và bảo vệ rừng, cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái).
c) Hợp tác xã nơng nghiệp (HTXNN)
Hợp tác xã nơng nghiệp là hình thức phổ biến trong nền nông nghiệp thế giới ở
cả các nước phát triển và đang phát triển, tuy tên gọi có thể khác nhau như hợp tác
xã (các nước Tây Âu, Bắc Mỹ, Đông Nam á), nông trại tập thể (LB Nga, các nước
Đông Âu), công xã nhân dân (Trung Quốc).
HTXNN là một tổ chức kinh tế do nông dân tự nguyện lập ra với nguồn vốn
hoạt động do chính họ góp cổ phần và huy động từ các nguồn khác, nhằm duy trì,
phát triển kinh tế hộ gia đình và tăng nhanh tỷ suất hàng hố, đạt hiệu quả kinh tế
cao cho các chủ trang trại.
HTXNN là đòi hỏi tất yếu của nơng dân vì trong cơ chế thị trường có nhiều
thành phần, có cạnh tranh để tồn tại và phát triển, địi hỏi các hộ gia đình, các chủ
trang trại phải hợp tác với nhau trên các lĩnh vực cần thiết để đấu tranh bảo vệ lợi

d) Nông trường quốc doanh (NTQD)
Như một hình thức phổ biến ở các nước XHCN, nơng trường quốc doanh là cơ
sở kinh doanh nông nghiệp trên quy mô lớn về đất đai nhằm cung cấp nông sản
cho thị trường trong nước hoặc cho xuất khẩu.
NTQD có những đặc điểm sau đây:
- Là xí nghiệp nơng nghiệp của nhà nước, thuộc thành phần kinh tế quốc
doanh.
- Quy mơ đất đai lớn (tới vài trăm nghìn ha), được trang bị cơ sở vật chất kĩ
thuật tốt, có hướng chun mơn hố rõ, khả năng cơ giới hố cao.
22


- Mỗi nơng trường có bộ máy riêng về quản lí và điều hành sản xuất kinh
doanh. Lao động làm việc trong nông trường được gọi là công nhân nông nghiệp,
được hưởng lương do nhà nước trả.
Ở Việt Nam, NTQD được thành lập chủ yếu ở vùng trung du, trên các cao
nguyên hay là vùng mới khai hoang. Các NTQD hiện nay có sự thay đổi về hình
thức và chức năng. Nhiều nơng trường đã giao khốn đất đai, vườn cây, đồi rừng
cho các hộ gia đình.
1.3.3.2

Thể tổng hợp sản xuất lãnh thổ nơng nghiệp (TTHSX-LTNN)

TTHSX-LTNN là một hình thức cao của TCLTNN, trong đó áp dụng rộng rãi
phương pháp cơng nghiệp và vì thế, nơng nghiệp có điều kiện kết hợp với công
nghiệp chế biến và các hoạt động dịch vụ.
TTHSX-LTNN là sự kết hợp chặt chẽ giữa các xí nghiệp nơng nghiệp với các
xí nghiệp cơng nghiệp có mối liên hệ qua lại với nhau trên một lãnh thổ và bằng
các quy trình cơng nghệ tiên tiến cho phép sử dụng có hiệu quả nhất vị trí địa lí,
các điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội sẵn có để đạt năng suất lao động xã hội cao

Thực chất, đây là những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp tương đối đồng nhất về
các điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, được hình thành với mục đích phân bố hợp
lí và chun mơn hố đúng đắn sản xuất nơng nghiệp trên cơ sở sử dụng đầy đủ và
có hiệu quả nhất các điều kiện sản xuất của các vùng trong cả nước cũng như
trong nội bộ từng vùng.
Việc phân chia các vùng nông nghiệp có ý nghĩa to lớn nhằm phân bố hợp lí
cây trồng, vật ni sao cho phù hợp với các điều kiện sinh thái nông nghiệp, điều
kiện kinh tế- xã hội và hình thành các vùng chun mơn hố nơng nghiệp sản xuất
hàng hố.
Vùng nơng nghiệp là một bộ phận lãnh thổ của đất nước bao gồm những lãnh
thổ có sự tương đồng về:
- Điều kiện sinh thái nông nghiệp (điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước...).
- Điều kiện kinh tế- xã hội (số lượng, chất lượng và sự phân bố dân cư, lao
động nông nghiệp, kinh nghiệm và truyền thống sản xuất).
- Trình độ thâm canh, cơ sở vật chất kĩ thuật nông nghiệp, chế độ canh tác.
- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm chuyên mơn hố.
Ở Việt Nam hiện nay có 7 vùng sinh thái nông nghiệp làTrung du và miền núi
Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
1.3.3.4 Nông nghiệp đô thị.
Khái quát về nông nghiệp đô thị:
Vận dụng quan niệm về nông nghiệp đô thị của FAO (1996), UNDP
(1999), RUAF foundation (1999), Luc J.A Mougeot (2002)... vào điều kiện
cụ thể của Việt Nam, chúng ta có thể hiểu: nông nghiệp đô thị là một
ngành sản xuất ở trung tâm, ngoại ô và vùng lân cận đô thị, có chức năng
24


trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và
các sản phẩm khác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, các sản phẩm

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status