Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
Lời mở đầu
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam có sự phát triển khá
mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trên 7,5% và được
đánh giá là nền kinh tế có tốc độ phát triển đứng thứ hai thế giới. Sự tăng
trưởng này gắn liền với yêu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp, kéo theo nhu cầu cần huy động nguồn vốn rất lớn. Thêm vào đó, năm
2000 đánh dấu sự ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam và cũng là năm mở
đầu cho tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, vấn đề này càng
làm gia tăng hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp nói chung và
công ty cổ phần nói riêng. Như vậy, vấn đề huy động vốn tại các doanh
nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng là sự quan tâm không chỉ của
riêng doanh nghiệp mà còn của những Bộ chủ quản, Cơ quan quản lý Nhà
nước. Giải quyết tốt vấn đề này không những tạo động lực cho doanh nghiệp
tồn tại và phát triển mà còn tạo niềm tin cho các doanh nghiệp cũng như các
nhà đầu tư đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và Thị trường tài chính
Việt Nam nói riêng.
Nhận thấy sự cần thiết của vấn đề trên, đề tài: “ Giải pháp tăng cường
hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp Bưu điện Hà Nội” đã
được lựa chọn để nghiên cứu và thực hiện chuyên đề tốt nghiệp. Chuyên đề
gồm có ba phần như sau:
Chương 1: Vốn và huy động vốn của công ty cổ phần.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công
ty cổ phần xây lắp Bưu điện Hà Nội
1
Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
Chương 1: Vốn và huy động vốn của công ty cổ phần
Bưu điện Hà Nội
việc doanh nghiệp tiến hành thiết lập các mối quan hệ trong kinh doanh, bao
gồm: quan hệ với khách hàng, với nhà cung cấp và với các nhà phân phối, có
thể nói, sẽ không có một tổ chức, cá nhân nào muốn hợp tác với doanh nghiệp
nếu biết doanh nghiệp đó không có vốn.
Thứ hai, vốn giúp quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được
diễn ra liên tục, hay nói cách khác, không có vốn doanh nghiệp sẽ đứng trước
nguy cơ không duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh. Thật vậy, để tạo
ra sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho thị trường, doanh nghiệp phải mua nguyên
vật liệu, nhiên liệu, thuê nhân công, thay thế, mua mới hay sửa chữa máy móc
trang thiết bị, phương tiện và các chi phí khác, doanh nghiệp sẽ phải có tiền
để trả cho những chi phí đó và nguồn chi trả này được lấy từ vốn của doanh
nghiệp. Chính vì vậy mà vốn có vai trò quyết định tính liên tục trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba, vốn là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự tăng
trưởng và phát triển của doanh nghiệp. Sự tăng trưởng và phát triển của doanh
nghiệp thể hiện ở việc tăng qui mô sản xuất, mở rộng thị trường, nâng cao khả
năng cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Để có được
sự tăng trưởng và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn lớn bổ
sung vào nguồn vốn đầu tư cho sản xuất như: mua sắm tài sản cố định và tài
sản lưu động, đầu tư cho các chiến dịch Marketing nhằm quảng bá sản phẩm
và thương hiệu, đầu tư cho nghiên cứu phát triển (nghiên cứu về cải tiến, đổi
mới sản phẩm cũng như nghiên cứu đối thủ cạnh tranh). Đây là những chiến
lược lâu dài và tốn kém nên doanh nghiệp phải lập kế hoạch để có được
nguồn vốn dài hạn đủ lớn.
Thứ tư, doanh nghiệp có qui mô vốn lớn sẽ ít có khả năng bị thâu tóm,
mua lại hay phá sản và dễ dàng hơn trong việc huy động các nguồn vốn trên
thị trường. Thật vậy, một doanh nghiệp đứng trước nguy cơ bị mua lại hay
thâu tóm tức là toàn bộ hay phần lớn tài sản của doanh nghiệp bị nắm giữ bởi
một doanh nghiệp khác, điều này có thể gây ra sự rối loạn trong tổ chức của
không với các khoản tín dụng thương mại và các khoản phải trả, phải nộp.
4
Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
Vốn ngắn hạn của doanh nghiệp chủ yếu để tài trợ cho tài sản lưu động và
những hoạt động sản xuất kinh doanh có khả năng quay vòng vốn nhanh.
Vốn dài hạn: Là các nguồn vốn có thời hạn từ một năm trở lên. Vốn dài
hạn của doanh nghiệp được cấu thành bởi các nguồn tín dụng dài hạn, nguồn
từ phát hành chứng khoán dài hạn…..Đối tượng tài trợ cho vốn dài hạn là
những người cho vay và chủ doanh nghiệp. Đặc điểm của vốn dài hạn là có
chi phí cao hơn so với vốn ngắn hạn vì độ rủi ro mà các nhà tài trợ phải đối
mặt lớn hơn. Các nguồn vốn dài hạn sẽ được các doanh nghiệp đầu tư vào tài
sản cố định hay các dự án dài hạn. Sở dĩ như vậy là vì nếu doanh nghiệp dùng
vốn ngắn hạn đầu tư vào các tài sản dài hạn thì khi các khoản vốn ngắn hạn
đến hạn trả, doanh nghiệp khó có thể đảm bảo chi trả vì việc bán các tài sản
dài hạn không dễ dàng thậm chí còn không bán được, điều này làm chi phí
của vốn ngắn hạn tăng lên hay vốn ngắn hạn không phát huy được lợi thế đối
với doanh nghiệp.
1.1.2.2 Vốn bên trong và vốn bên ngoài
Căn cứ vào vị trí các nguồn vốn huy động được, vốn của doanh nghiệp
được chia thành hai thành phần.
Vốn bên trong: Là các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động
trong nội bộ doanh nghiệp mình. Nguồn vốn này bao gồm: lợi nhuận giữ lại,
các quỹ như: quỹ đầu tư, phát triển; quỹ khấu hao cơ bản…Đây là nguồn nội
lực của doanh nghiệp, qui mô các nguồn vốn này thể hiện sức mạnh tài chính
cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn bên ngoài: Là các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động
được từ bên ngoài. Các khoản mục cấu thành vốn bên ngoài gồm: vốn huy
động từ phát hành chứng khoán, vốn tín dụng ngân hàng, vốn tín dụng thương
mại….Qui mô của các nguồn vốn này rất lớn và hầu hết các doanh nghiệp đều
khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm được chi phí tìm
kiếm và giảm sự phụ thuộc vào các nguồn vốn bên ngoài. Rất nhiều doanh
nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại, họ đặt ra mục tiêu
6
Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
phải có lượng lợi nhuận giữ lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày
càng tăng.
Phát hành cổ phiếu: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp
có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới, đây là một
trong những nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng của doanh nghiệp. Tùy
vào nhu cầu vốn, chiến lược thu hút đầu tư của doanh nghiệp cũng như nhu
cầu và tâm lý của các nhà đầu tư mà doanh nghiệp lựa chọn phát hành cổ
phiếu thường hay cổ phiếu ưu đãi.
Vay nợ
Ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp còn có nguồn vốn được hình
thành từ các khoản nợ như: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và vay
thông qua phát hành trái phiếu.
Tín dụng ngân hàng: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có được do vay từ
ngân hàng thông qua các hợp đồng tín dụng. Có thể nói, vốn vay ngân hàng là
một trong những nguồn vốn quan trọng nhất với sự phát triển của doanh
nghiệp. Sự hoạt động và phát triển của doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch
vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung
ứng nguồn vốn. Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay
ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh,
đặc biệt là đảm bảo vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của
doanh nghiệp.
Tín dụng thương mại (tín dụng của nhà cung cấp): Là nguồn vốn được
hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm
hay trả góp. Trong một số doanh nghiệp, nguồn tín dụng thương mại dưới
Đặc điểm của mô hình công ty cổ phần trong hoạt động huy động vốn:
Có thể nói, mô hình công ty cổ phần là cách thức tổ chức doanh nghiệp
có nhiều ưu thế trong đó ưu thế mạnh nhất là khả năng huy động vốn lớn bằng
nhiều phương thức khác nhau hơn hẳn các doanh nghiệp được tổ chức theo
mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư
nhân. Các ưu thế trong huy động vốn của công ty cổ phần là:
8
Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
Một là, công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp mà các cổ đông chỉ
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi
vốn góp, không giống như các thành viên của công ty hợp danh hay chủ
doanh nghiệp tư nhân là phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về các nghĩa vụ của doanh nghiệp. Chính vì vậy, công ty cổ phần có nhiều
thuận lợi hơn trong việc huy động vốn so với hai loại hình doanh nghiệp trên,
các cổ đông của công ty cổ phần sẽ không lo sợ rằng toàn bộ tài sản của mình
có thể bị mất nếu công ty làm ăn thua lỗ, vì thế họ sẽ dễ dàng hơn để quyết
định bỏ vốn đầu tư vào công ty. Điều này tạo khả năng cho các công ty cổ
phần tăng vốn tương đối dễ dàng.
Hai là, công ty cổ phần cũng giống như công ty trách nhiệm hữu hạn là
cá nhân hay tổ chức tham gia góp vốn hay mua cổ phần của công ty chỉ phải
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và tài sản của công ty trong phạm vi số vốn
cam kết góp, nhưng với công ty cổ phần, tổng số vốn góp của các cổ đông
được chia thành các phần bằng nhau với mệnh giá của mỗi cổ phần nhỏ nên
các nhà đầu tư dù có một lượng vốn thấp cũng có thể mua được cổ phần của
công ty và trở thành một trong những chủ sở hữu của công ty. Điều này rất
thuận lợi cho công ty cổ phần trong việc huy động các nguồn tiền nhàn rỗi
trong dân cư cũng như các nhà đầu tư. Khi muốn huy động thêm vốn chủ sở
hữu, công ty cổ phần chỉ cần phát hành thêm cổ phiếu mới và thông qua thị
trường tài chính bán ra công chúng. Còn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn,
(năm 1990).
Bốn là, công ty cổ phần khi đáp ứng đủ các tiêu chuẩn được phép niêm
yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán. Công ty cổ phần được niêm
yết sẽ trở thành công ty đại chúng, các nhà đầu tư cũng như công chúng sẽ
biết đến doanh nghiệp nhiều hơn hay đây chính là một hình thức quảng cáo
cho công ty. Nếu công ty hoạt động có hiệu quả thì việc huy động vốn của
công ty trên thị trường tài chính và từ các ngân hàng thương mại sẽ thuận lợi
hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp không niêm yết trên thị trường chứng
khoán vì công ty làm tăng sự tin tưởng của các nhà đầu tư. Vì thế khi công ty
cần thêm vốn có thể dễ dàng phát hành chứng khoán mới ra công chúng bởi lẽ
10
Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
có nhiều người muốn mua chứng khoán của công ty. Mặt khác, công ty có thể
giảm bớt các chi phí phát hành như chi phí quảng cáo, phân phối chứng
khoán. Ngoài ra, công ty cũng dễ dàng hơn trong việc vay vốn từ các ngân
hàng thương mại vì các ngân hàng sẽ không quá khắt khe trong việc thẩm
định hồ sơ xin vay của công ty vì đã được biết tiếng công ty trên thị trường
chứng khoán, thậm chí nhiều trường hợp công ty không cần có tài sản thế
chấp mà vẫn có thể vay được vốn.
Tóm lại các đặc điểm của công ty cổ phần cho thấy những thuận lợi của
loại hình công ty này trong việc huy động vốn. Công ty cổ phần không những
có khả năng sử dụng các phương thức huy động như các loại hình doanh
nghiệp khác mà đặc biệt công ty cổ phần còn có thể khai thác những phương
thức huy động mà các loại hình doanh nghiệp khác không thể có được, đó là
các hình thức huy động trên thị trường tài chính. Điều này đã khiến công ty cổ
phần thực sự trở nên ưu việt hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác.
1.2.2 Các hình thức huy động vốn của công ty cổ phần
Trong nền kinh tế thị trường, công ty cổ phần cũng như các loại hình
doanh nghiệp khác cần có vốn để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh
mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải
thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày
công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”. Như vậy, hình thức
huy động vốn góp ban đầu của công ty cổ phần là phát hành cổ phiếu dựa trên
số vốn điều lệ tại thời điểm công ty tiến hành đăng ký kinh doanh lần đầu
tiên, phần lớn lượng cổ phiếu chào bán được mua bởi các cổ đông sáng lập
(những người cùng nhau ký hợp đồng sáng lập công ty cổ phần), các nhà đầu
tư bên ngoài thường ít mua những cổ phiếu này vì họ chưa có sự tin tưởng
vào một công ty mới thành lập.
Trích lập lợi nhuận không chia:
Qui mô vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần được bắt đầu bằng qui mô
vốn góp ban đầu, qui mô này cần được tăng theo qui mô phát triển của công
ty . Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu công ty cổ phần hoạt
động có hiệu quả thì nguồn vốn chủ sở hữu sẽ có điều kiện thuận lợi để tăng
12
Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
trưởng bằng cách huy động từ lợi nhuận không chia. Với công ty cổ phần,
nguồn lợi nhuận để lại tái đầu tư là phần còn lại của lợi nhuận sau thuế sau
khi đã trừ đi khoản chia cổ tức cho các cổ đông, vì vậy việc huy động nguồn
vốn này được nhiều hay ít phụ thuộc vào chính sách phân phối cổ tức của
công ty cổ phần. Để hình thành được chính sách phân phối cổ tức, công ty cổ
phần phải cân nhắc rất kỹ càng vì nó liên quan đến những vấn đề hết sức
nhạy cảm, nếu công ty không giải quyết tốt thì không những không huy động
được nguồn lợi nhuận giữ lại mà còn ảnh hưởng đến các hoạt động huy động
vốn khác của công ty, đặc biệt là huy động bằng phát hành cổ phiếu thường
mới. Sở dĩ như vậy là vì, khi công ty để lại một phần lợi nhuận sau thuế trong
năm cho tái đầu tư, tức là, công ty không dùng số lợi nhuận đó chia lãi cổ
phần, các cổ động không nhận được cổ tức nhưng bù lại họ có quyền sở hữu
vốn cổ phần tăng lên của công ty và giá trị ghi sổ của các cổ phiếu tăng lên
của công ty, tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó: Một cổ phiếu
của một công ty cổ phần được đánh giá xếp thứ hạng cao trên thị trường, có
tính ổn định về thị giá, đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó tốt thì công ty
cổ phần phát hành cổ phiếu đó không phải thay đổi thường xuyên chính sách
phân phối cổ tức của mình, vì độ rủi ro của cổ phiếu đó thấp hơn các cổ phiếu
khác và các nhà đầu tư dễ dàng chấp nhận bất kỳ chính sách phân phối cổ tức
nào của công ty. Ngược lại, một cổ phiếu được xếp hạng thấp trên thị trường,
không có tính ổn định về thị giá và không tạo ra được sự đánh giá tốt của
công chúng thì công ty phát hành cổ phiếu đó sẽ phải thường xuyên thay đổi
chính sách phân phối cổ tức của mình để thu hút được các nhà đầu tư
Hiệu quả của việc tái đầu tư: Lợi nhuận sau thuế của công ty không chỉ
được dùng chia cổ tức cho cổ đông mà còn dùng vào hoạt động tái đầu tư.
Nếu công ty nhận thấy hiệu quả của việc tái đầu tư từ lợi nhuận để lại không
cao thì chính sách phân phối cổ tức của công ty sẽ là sử dụng phần lợi nhuận
để lại nhiều hơn cho việc chia lãi cổ tức. Điều này khuyến khích các nhà đầu
tư quan tâm nhiều hơn đến cổ phiếu công ty. Ngược lại, nếu công ty nhận
14
Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
thấy rằng việc tái đầu tư mang lại nhiều lợi ích hơn cho công ty thì chính sách
phân phối cổ tức năm nay sẽ là duy trì mức lãi cổ tức như năm trước.
Phát hành cổ phiếu mới:
Huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu là cách huy động vốn đặc
trưng của loại hình công ty cổ phần. Cách này giúp công ty cổ phần có thể
huy động được nguồn vốn chủ sở hữu lớn từ dân chúng và các nhà đầu tư.
Công ty cổ phần có thể lựa chọn phát hành ra thị trường chứng khoán nhiều
loại cổ phiếu khác nhau, nhưng khi đề cập đến cổ phiếu và phát hành cổ phiếu
công ty cổ phần thường lựa chọn giữa cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu ưu đãi
hay cả hai. Vì vậy, một công ty cổ phần muốn huy động bằng phát hành cổ
phiếu phải hiểu rõ về đặc điểm của từng loại để có sự lựa chọn đúng đắn.
vụ hoàn trả theo kỳ hạn cố định. Điều đó giúp công ty chủ động sử dụng vốn
linh hoạt trong kinh doanh mà không lo “gánh nặng” nợ nần.
Thứ ba, việc phát hành thêm cổ phiếu thường mới ra công chúng làm
tăng thêm vốn chủ sở hữu của công ty, từ đó làm hệ số nợ giảm và tăng thêm
mức độ vững chắc về tài chính của công ty. Với tác động đó làm tăng khả
năng vay vốn và mức độ tín nhiệm cho doanh nghiệp.
Thứ tư, trong một số trường hợp cổ phiếu thường được bán ra dễ dàng
hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu (tức là những chứng khoán có lợi tức
cố định). Cổ phiếu thường có thể lôi cuốn hấp dẫn một số nhóm người đầu tư
nhất định, bởi lẽ cổ phiếu thường hứa hẹn mang lại lợi tức cao hơn cổ phiếu
ưu đãi và trái phiếu, mặt khác cổ phiếu thường tạo cho nhà đầu tư một rào
chắn tốt hơn so với đầu tư vào trái phiếu để chống đỡ với lạm phát không dự
kiến được, bởi lẽ cổ phiếu thường đại diện cho quyền sở hữu trong công ty,
đầu tư vào cổ phiếu thường cũng có nghĩa là đầu tư vào một tài sản thực trong
công ty. Thông thường, trong thời kỳ lạm phát cổ phiếu thường không bị mất
giá như trái phiếu.
Mặc dù việc phát hành cổ phiếu thường có nhiều ưu thế như vậy song
phương thức huy động này cũng có những hạn chế, ràng buộc mà công ty cổ
phần phải cân nhắc kỹ lưỡng:
16
Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
Một là, cổ phiếu thường bị giới hạn lượng cổ phiếu tối đa mà công ty
được phép phát hành gọi là vốn cổ phiếu được cấp phép. Đây là một trong
những quy định của Ủy ban chứng khoán Nhà nước nhằm quản lý và kiểm
soát chặt chẽ hoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán. Thông thường,
một công ty có thể phát hành một lần hoặc một số lần trong giới hạn số cổ
phiếu đã được cấp phép phát hành. Như vậy, công ty cổ phần muốn tăng vốn
cổ phần thì trước hết phải được Đại hội cổ đông cho phép sau đó phải hoàn tất
các thủ tục quy định khác, điều này nhiều khi làm lỡ mất cơ hội huy động vốn
doanh. Thông thường, trong điều lệ công ty cổ phần ở nhiều nước đều ghi
quyền này của cổ đông. Việc áp dụng quyền ưu tiên đặt mua cho các cổ đông
là nhằm bảo vệ quyền lợi của các cổ đông hiện hành.
Phát hành cổ phiếu thường mới để tăng vốn chủ sở hữu bằng việc chào
bán cho người thứ ba. Công ty có thể áp dụng hình thức huy động này cho
người thứ ba là người có quan hệ mật thiết với công ty như: người quản lý
công ty, người lao động trong công ty, các đối tác kinh doanh. Việc phát hành
cổ phiếu như vậy, một mặt giúp cho công ty tăng được nguồn vốn kinh doanh
mặt khác tăng cường được mối quan hệ lợi ích và tạo sự gắn bó chặt chẽ hơn
giữa công ty và người thường xuyên có quan hệ với công ty.
Phát hành rộng rãi cổ phiếu thường mới ra công chúng. Để tăng thêm
vốn đầu tư, công ty có thể lựa chọn con đường phát hành rộng rãi cổ phiếu
mới ra công chúng bằng việc chào bán công khai.
Ngoài cổ phiếu thường mới công ty cổ phần còn có thể phát hành cổ
phiếu ưu tiên để huy động thêm vốn chủ sở hữu.
Cổ phiếu ưu tiên
Cổ phiếu ưu tiên là loại cổ phiếu có quyền nhận được thu nhập cố định
theo một tỷ lệ lãi suất nhất định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty.
Người chủ của cổ phiếu này có quyền thanh toán lãi trước các cổ đông
thường. Phần lớn cổ phiếu ưu đãi của các công ty phát hành đều là cổ phiếu
ưu đãi tích lũy. Điều đó có nghĩa là nếu trong một năm nào đó công ty gặp
18
Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
khó khăn trong kinh doanh thì có thể tuyên bố hoãn trả lợi tức cổ phần ưu đãi
và số lợi tức đó được tích lũy lại hay nói cách khác được cộng dồn lại và
chuyển sang kỳ tiếp theo.
Việc huy động bằng phát hành cổ phiếu ưu đãi có những lợi thế sau:
Thứ nhất, một trong những lợi thế quan trọng của cổ phiếu ưu đãi với
công ty phát hành là mặc dù phải trả cổ tức cố định nhưng khác với trái phiếu,
Tín dụng ngân hàng:
Ngân hàng là một trung gian tài chính luôn gắn liền với hoạt động của
doanh nghiệp từ việc lập tài khoản để thực hiện thanh toán hộ doanh nghiệp,
đến tư vấn tài chính, giúp doanh nghiệp phát hành chứng khoán…nhưng quan
trọng nhất là ngân hàng là nhà tài trợ lớn cho doanh nghiệp và hình thành
phương thức huy động vốn từ ngân hàng của các doanh nghiệp nói chung và
công ty cổ phần nói riêng.
Về mặt thời gian, vốn vay ngân hàng có thể được phân loại theo thời hạn
vay, bao gồm: vay dài hạn (thường tính từ 5 năm trở lên), vay trung hạn (từ 1
đến 5 năm), vay ngắn hạn (dưới 1 năm), việc phân loại vốn vay ngân hàng
theo thời gian như trên là không hoàn toàn giống nhau giữa các nước và cũng
có thể khác nhau giữa các ngân hàng thương mại.
Về tính chất và mục đích sử dụng, ngân hàng cũng có thể phân loại vốn
vay thành các loại như: Cho vay đầu tư tài sản cố định, cho vay đầu tư tài sản
lưu động, cho vay để thực hiện dự án. Các ngân hàng thương mại buộc phải
phân chia các khoản vay như trên nhằm phân loại rủi ro, có nghĩa là các
khoản vay khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau, từ đó định ra lãi suất phù
hợp. Ví dụ: Các khoản vay dài hạn có lãi suất cao hơn vay trung hạn, vay
trung hạn có lãi suất cao hơn vay ngắn hạn vì độ rủi ro của vay dài hạn lớn
hơn vay trung hạn và càng lớn hơn vay ngắn hạn. Công ty cổ phần muốn huy
động vốn từ ngân hàng thương mại phải ký với ngân hàng hợp đồng tín dụng
với các điều khoản kèm theo.
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm, nhưng nguồn vốn này
cũng có những hạn chế nhất định. Đó là các hạn chế về điều kiện tín dụng,
kiểm soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn (lãi vay).
20
Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
Điều kiện tín dụng: Các doanh nghiệp muốn vay vốn tại các ngân hàng
thương mại cần đáp ứng được các yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân
linh hoạt trong kinh doanh; hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng các quan
hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền. Các điều kiện ràng buộc cụ thể có
thể được ấn định khi hai bên ký hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói
chung. Tuy nhiên, cần nhận thấy tính rủi ro của quan hệ tín dụng thương mại
khi quy mô tài trợ quá lớn. Chi phí của việc sử dụng các nguồn tín dụng thể
hiện qua lãi suất của các khoản vay, đó là chi phí lãi vay, sẽ được tính vào giá
thành sản phẩm hay dịch vụ. Khi mua bán hàng hóa trả chậm, chi phí này có
thể “ẩn” dưới hình thức thay đổi mức giá, tùy thuộc vào quan hệ và thỏa
thuận cụ thể giữa các bên.
Phát hành trái phiếu:
Trái phiếu là một công cụ mà các công ty cổ phần sử dụng song song với
cổ phiếu để huy động vốn trên thị trường tài chính.
Trái phiếu là giấy chứng nhận việc vay vốn của công ty cổ phần (người
phát hành) với người cho vay (người sở hữu tái phiếu). Trái phiếu quy định
trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi của tổ chức phát hành cho người sở hữu trái
phiếu khi đến thời điểm đáo hạn. Trái phiếu là loại chứng khoán dài hạn, có
lãi suất cao và ít rủi ro cho các nhà đầu tư hơn cổ phiếu, phát hành trái phiếu
có thể giúp công ty cổ phần huy động được nguồn vốn lớn trong thời gian
ngắn. Công ty cổ phần có thể lựa chọn những loại trái phiếu sau để huy động
vốn trên thị trường tài chính:
Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại trái phiếu này thường được sử dụng
nhiều nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp. Lãi suất được ghi ngay trên
mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó. Như vậy, cả doanh
nghiệp và người giữ trái phiếu đều biết rõ mức lãi suất của khoản nợ trong
suốt thời gian tồn tại của trái phiếu. Việc thanh toán lãi cũng thường được quy
định rõ, trả một lần hay hai lần trong năm.
Trái phiếu có lãi suất thay đổi: Là loại trái phiếu có lãi suất thay đổi theo
mức lãi suất trên thị trường. Tuy gọi là lãi suất thay đổi nhưng thực ra loại
22
Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần xây lắp
Bưu điện Hà Nội
Hai là, chi phí phát hành trái phiếu thấp hơn so với cổ phiếu thường và
cổ phiếu ưu đãi bởi lẽ trái phiếu có mức độ rủi ro thấp hơn, nó thu hút đông
đảo công chúng đầu tư nên chi phí quảng cáo và phân phối thấp hơn.
Ba là, khi phát hành trái phiếu, người chủ sở hữu doanh nghiệp không bị
phân chia quyền kiểm soát doanh nghiệp cho những trái chủ.
Bốn là, lợi tức trái phiếu được xem như chi phí và được trừ vào thu nhập
khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp.
Năm là, việc tăng vốn bằng phát hành trái phiếu giúp doanh nghiệp có
thể chủ động điều chỉnh cơ cầu vốn một cách linh hoạt hơn nhất là doanh
nghiệp phát hành trái phiếu có thể mua lại. Khi thị trường có biến động bất lợi
buộc doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô kinh doanh, doanh nghiệp có thể chủ
động giảm vốn bằng việc mua lại trái phiếu trước hạn.
Những bất lợi khi phát hành trái phiếu mà doanh nghiệp nói chung và
công ty cổ phần nói riêng có thể gặp phải là:
Thứ nhất, doanh nghiệp có nghĩa vụ trả lợi tức cho trái chủ đúng kỳ hạn
dẫn đến doanh nghiệp phải chịu rủi ro nếu tình hình kinh doanh và tái chính
của doanh nghiệp thiếu sự ổn định có thể dẫn đến tình trạng không đủ nguồn
tài chính để trang trải lợi tức.
Thứ hai, việc tăng vốn bằng cách phát hành trái phiếu có thể dẫn tới hệ
số nợ của doanh nghiệp ở mức cao, mặc dù điều đó có thể đưa lại cho doanh
nghiệp đạt mức doanh lợi vốn chủ sở hữu cao, nhưng đồng thời cũng làm tăng
độ rủi ro đe dọa sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, các nhà đầu tư sẽ
đánh giá thấp giá trị doanh nghiệp, làm giảm giá cổ phiếu của công ty.
Thứ ba, phát hành trái phiếu là vay nợ có kỳ hạn trả, do đó doanh nghiệp
phải bố trí việc trả nợ vay đúng kỳ hạn, nếu doanh nghiệp có tình hình kinh
doanh chưa ổn định thì khả năng thanh toán của công ty bị ảnh hưởng.
Thứ tư, sử dụng trái phiếu là sử dụng nợ trong thời gian dài vì thế tác
động đến sự hoạt động của doanh nghiệp là không ổn định, có lúc là đòn bảy
24
sẽ buộc các doanh nghiệp phải hoạt động hiệu quả để tồn tại, từ đó cũng nâng
25