1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đăk lăk cũng như nhiều đòa phương trong cả nước, trong những năm qua
tùy vào điều kiện thực tế về điều kiện tự nhiện của đòa phương và nguồn lực của
hộ gia đình mà người dân đã thử nghiệm gây trồng và phát triển nhiều mô hình
NLKH khác nhau. Việc canh tác, sử dụng đất theo hướng NLKH trên thực tế đã
và đang có những đóng góp tích cực trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất,
cải thiện môi trường sinh thái và đặc biệt là gia tăng nguồn thu nhập cho người
dân. Hiện tại để nhân rộng các mô hình có triển vọng tại đòa phương thì người
dân và các cơ quan KNL đang có nhu cầu tìm kiếm phương pháp và công cụ đơn
giản, dễ áp dụng để cộng đồng đánh giá các mô hình hiện có, từ đó làm cơ sở
cho việc cải tiến và lan rộng.
Với mục đích vận dụng những điều học được vào thực tế, thực hiện phương châm
học tập gắn liền với thực hành, được sự khuyến khích của khoa Nông Lâm
Nghiệp - Trường Đại học Tây Nguyên, sự hỗ trợ về kinh phí của mạng lưới đào
tạo nông lâm kết hợp Việt Nam ( VNAFE) và sự hướng dẫn khoa học của giáo
viên môn học GVC.Thạc sỹ. Võ Hùng, chúng tôi thực hiện đề tài
" Thử nghiệm
phương pháp đánh giá nhanh các mô hình nông lâm kết hợp tại thành phố Buôn
Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk "
Do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, đề tài này chắc hẳn
sẽ không tránh khỏi những khuyết điểm, rất mong quý thầy cô và các bạn đồng
nghiệp đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn.
1
2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thực tiễn sản xuất tại nhiều nơi trong những năm qua đã cho thấy NLKH
thực sự là một phương thức quản lý sử dụng đất có nhiều lợi thế. Với sự phối hợp
một cách hợp lý của nhiều thành phần cây trồng, vật nuôi làm cho hệ thống có
tác dụng đa chức năng: vừa sản xuất tạo ra nhiều loại sản phẩm cho người gây
trồng, vừa phát huy tác dụng phòng hộ, cải thiện môi trường nhờ vào thành phần
cây gỗ sống lâu năm. Có thể nói NLKH là một trong những phương thức quản lý
phản ánh đúng thực tế, được người dân chấp nhận là việc làm cần thiết. Đó cũng
chính là mục đích mà nghiên cứu này mong muốn đạt được.
3
3. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu cụ thể
Các mô hình NLKH điển hình, quy mô hộ gia đình ở một số xã thuộc
thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
3.1
Tổng quan về khu vực nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trò, kinh tế - xã hội của tỉnh Đăk
Lăk, nằm ởø trung tâm vùng cao nguyên phía Tây của Nam Trung bộ.
Vò trí đòa lý
Trung tâm Thành phố Buôn Ma Thuột nằm ở toạ độ đòa lý:
+ 108
0
03’30” độ vó Bắc
+ 12
0
41’ độ kinh Đông
Phạm vi ranh giới:
+ Phía bắc giáp: huyện Cư Mgar
+ Phía nam giáp: KrôngAna
+ Phía đông giáp: huyện Krông Păk
+ Phía tây giáp: huyện Buôn Đôn và huyện CưJut của tỉnh Đăk Nông
Đòa hình – đòa thế
+ Tổng nhiệt độ năm: 8200 - 8400
0
C với khoảng 2737.8 giờ nắng, tập trung nhiều
nhất vào các tháng mùa khô.
+ Lượng mưa trung bình năm:1773 mm, phân bố không đều, chủ yếu tập trung
vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Đây là nguyên nhân cơ bản gây
nên hiện tượng xói mòn đất của khu vực.
+ Lượng mưa tháng cao nhất : 610 mm ( tháng 9)
+ Lượng mưa tháng thấp nhất: 3 - 4 mm (tháng 2)
+ Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm: 82.4%
+ Độ ẩm trung bình mùa khô: 79%
+ Độ ẩm trung bình mùa mưa: 87%
+ Độ ẩm trung bình tháng cao nhất: 90% ( tháng 9)
+ Độ ẩm trung bình tháng thấp nhất: 71% ( tháng 3)
+ Hướng gió chính: Đông Bắc: Thổi vào mùa khô, thổi mạnh vào các tháng 11
đến tháng 3, làm cho cây xanh thoát hơi nước mạnh . Gió Tây Nam: Thổi vào
mùa mưa, thổi mạnh nhất vào các tháng 4 đến tháng 10, mang hơi gây mưa
nhiều. Tốc độ gió trung bình từ 5 – 6 m/s.
Đất đai
: Theo số liệu điều tra phân hạng đất lưu trữ tại sở Đòa chính tỉnh Đăk
Lăk, kết hợp với quan sát thực tế hiện trường nhận thấy đất trong khu vực
nghiên cứu là Đất feralit nâu đỏ phát triển trên đá mẹ Bazan có tầng dày
5
trên 100 cm, không có đá lẫn, đất ẩm, xốp, dễ thoát nước. Đất có phản ứng
chua đến hơi chua với
P
H=4.4 - 5.7. Hàm lượng mùn từ trung bình đến giàu (
2.7 – 4.3%), tỷ lệ sét tương đối cao (>50%), hàm lượng đạm tổng số trung
NLKH.
Cà phê vối (Coffea Canephora Piere) thuộc họ Cà phê - Rubiaceae
Cà phê vối có nguồn gốc từ châu Mỹ, được nhập nội vào Việt Nam năm 1857,
hiện nay đang được trồng tại một số vùng trong nước. cà phê thích hợp với khí
hậu nhiệt đới, có hai mùa mưa và khô rõ rệt, có nhiệt độ bình quân năm từ 20-
23
0
C. Nhiệt độ tối ưu ban ngày là 27,5 - 32,5
0
C, ban đêm là 20 - 20,5
0
C. Nếu
nhiệt độ đạt 36-38
0
C thì cà phê non bò cháy khô, chính vì thế cần có cây che
bóng, chống nóng.
Cà phê yêu cầu lượng mưa lớn (1300-2500mm/năm), phân bố tương đối đều trong
năm, có một mùa khô ngắn 2-3 tháng để cây tạm ngừng sinh trưởng, tập trung
nhựa và phân hoá mầm hoa.
Cường độ ánh sáng tối thích đối với cà phê là 2300-2700 Lux. Ánh sáng quá
mạnh hoặc quá yếu đều làm giảm cường độ quang hợp của cà phê.
Cà phê không chòu được gió mạnh, tốc độ gió vượt quá 2m/s đã ảnh hưởng đến sự
thụ phấn của cây làm giảm năng suất rõ rệt. Chính vì vậy cần phải trồng đai rừng
chắn gió hại cho cà phê. Biện pháp này làm tiết kiệm được lượng nước tưới do
giảm được lượng bốc hơi mặt đất và thoát hơi nước ở cây trồng.
Cà phê là loại cây lâu năm có bộ rễ khoẻ, hệ rễ cám phát triển mạnh, phân bố
chủ yếu ở độ sâu nhỏ hơn 30cm, đòi hỏi đất trồng phải tốt, tầng dày trên 1m,
không có đá lẫn, thoát nước tốt, hàm lượng mùn trên 3%. Đất đỏ Bazan ở Tây
Nguyên rất thích hợp cho việc trồng cà phê.
nhu cầu trồng cây cà phê bò hạn chế, số diện tích cà phê bò giảm sút rõ rệt, đời
sống người dân ngày càng một khó khăn trong khi giá cả các mặt hàng khác như
phân bón, thuốc trừ sâu, lương thực, thực phẩm tăng đến mức cao mà thu nhập cà
phê thì lại thấp nên gây khó khăn cho việc đầu tư thâm canh.
Sầu riêng (Durio zibethinus Murr) thuộc họ gạo - Bombacaceae
8
Sầu riêng có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á, được nhập nội từ Thái Lan vào
Việt Nam, lần đầu tiên trồng ở vùng Tân Quy ( Diên Hoá), hiện nay được trồng
nhiều ở các tỉnh miềm Nam như: Đồng Nai, Tiền Giang, Vónh Long, Bến Tre, An
Giang, Đăk Lăk, Lâm Đồng.
Sầu riêng là loại cây nhiệt đới điển hình, sinh trưởng tốt và cho quả ở độ cao
dưới 800m so với mặt nước biển và vó độ không vượt quá 18 độ vó bắc.
Cây sầu riêng yêu cầu lượng mưa từ 1500-2000mm/năm.
Sầu riêng phát triển tốt trên đất thòt pha cát, hoặc đất thòt pha sét, ở Buôn Ma
Thuột sầu riêng phát triển tốt trên đất đỏ Bazan. Nói chung đất có tầng dày, giàu
chất hữu cơ, thoát nước tốt, có mực nước ngầm cao rất phù hợp với cây sầu riêng.
Sầu riêng là loại quả đặc sản nhiệt đới giàu dinh dưỡng, có hương vò đặc biệt,
được nhiều người tiêu dùng ưa thích, những năm gần đây diện tích trồng Sầu
riêng ở các nước Đông Nam Á ngày càng được mở rộng và là một mặt hàng xuất
khẩu có giá trò.
Nguồn
[11].
Tây Nguyên có thế mạnh về cà phê, tuy nhiên những năm gần đây do giá cả cà
phê không ổn đònh và người dân đã trồng xen cây sầu riêng trong vườn cà phê để
phát huy tác dụng phòng hộ và mang lại thu nhập.
Cây Na (Anona squamosa L) thuộc họ Na - Anonaceae
Na là cây ăn quả nhiệt đới trồng phổ biến ở nhiều nơi trong cả nước. Quả Na chủ
10
4. MỤC TIÊU , NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1
Mục tiêu nghiên cứu và giới hạn đề tài
4.1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Thử nghiệm phương pháp đánh giá nhanh các mô hình NLKH có sự tham
gia của người dân .
Đề xuất để cải tiến bảng đánh giá nhanh mô hình nông lâm kết hợp.
Góp phần phản ảnh tình hình sản xuất NLKH với cây trồng chính là cây cà
phê ở thành phố Buôn Ma Thuột.
4.1.2 Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu các mô hình NLKH có triển vọng quy mô hộ gia đình tại
thành phố Buôn Ma Thuột. Thử nghiệm phương pháp đánh giá nhanh kết hợp với
điều tra hiện trường, không nghiên cứu phân tích mẫu đất và phân bố của hệ rễ.
4.2
Nội dung nghiên cứu
Điều tra khảo sát hiện trường thu thập số liệu kinh tế, kỹ thuật gây trồng (năm
trồng, nguồn giống, cự ly, mật độ, phối trí cây trồng...) tình hình sinh trưởng
(đường kính, chiều cao, đường kính tán… ), năng suất sản lượng và giá trò kinh
tế của các sản phẩm thu hoạch của một số mô hình NLKH điển hình tại đòa
phương.
Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh, dùng bảng hỏi để phỏng vấn người dân
và cho điểm, qua đánh giá các mô hình NLKH để đề xuất cải tiến phương
pháp đánh giá nhanh .
Thảo luận với người dân để đưa ra những kiến nghò, hướng giải quyết và nhu
cầu hỗ trợ dòch vụ để phát triển NLKH với cà phê là cây trồng chính ở đòa
phương.
Đất sau khi xử lý thực bì, đào hố thủ công với kích thước 60 x 60 x 60 cm;
bón lót phân hữu cơ (thường là phân bò hoai) kết hợp với phân vô cơ; thời vụ
trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5); tiêu chuẩn cây con đem trồng từ 5-6 tháng tuổi
có chiều cao trung bình 25 cm; có 5-6 cặp lá thật; mật độ trồng 1100cây/ha, cự ly
cây cách cây là 3 x 3m, hàng cách hàng là 3 x 3m; phương thức trồng là kết hợp
với các loài cây thân gỗ sống lâu năm như sầu riêng, tiêu, na và các loài cây
ngắn ngày như đậu, bắp...
Ba năm đầu làm cỏ từ 4-6 đợt/ năm, từ năm thứ tư trở đi làm cỏ từ 3-4
đợt/năm. Hầu hết các hộ điều tra đều có sử dụng kết hợp phân vô cơ và phân hữu
cơ để bón cho cây trồng; phân vô cơ thường bón 2-3 đợt/năm; loại phân vô cơ
thường dùng là phân đơn Urê, Sun phat; hoặc phân phức hợp N-P-K với lượng
phân bón trung bình từ 800-1000kg/ha/năm; tưới nước trong mùa khô từ 3-5
đợt/năm; làm cành được tiến hành hàng tháng nhằm cắt bỏ những cành khô, chồi
vượt và cắt tạo tán sau thu hoạch; phun thuốc phòng trừ sâu bệnh hại trung bình
mỗi năm từ 2-3 đợt để trừ Kiến, Rệp sáp, bệnh Gỉ sắt...
5.1.2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây sầu riêng
Trong quá trình điều tra nhận thấy sầu riêng được trồng xen với cây cà phê
với cự ly cây cách cây từ 7-9m, hàng cách hàng từ 9-12m trong đó cũng có những
trường hợp người dân tận dụng khoảng trống hay đường biên của lô để trồng nên
số cây và hàng trồng cũng rất dao động.
Các mô hình được điều tra thì sầu riêng bắt đầu cho bói. Việc gây trồng sầu
riêng có thể là đồng thời hoặc sau khi cà phê được trồng từ 1-2 năm. Kích thước
13
hố trồng là 80 x 80 x 80cm; lượng phân cho mỗi hố 5-10kg phân hữu cơ hoặc
phân chuồng hoai, 0.4-0.5kg phân lân trộn đều với đất để phòng ngừa mối, tiêu
chuẩn cây con xuất vườn từ 6-8 tháng tuổi có từ 4-6 cặp lá thật; phương thức
trồng là trồng bằng cây con có bầu; trồng vào đầu mùa mưa ( tháng 5).
Trên các mô hình điều ra có hai loại giống sầu riêng đòa phương và sầu
riêng DONA-SR1. Đối với sầu riêng đòa phương vấn đề chăm sóc thường được
phân bón 0.8 kg/cây/năm. Làm cỏ, tỉa cành, phun thuốc phòng trừ sâu bệnh kết
hợp với chăm sóc cà phê.
5.2 Kết quả phân tích SWOT các mô hình nông lâm kết hợp
SWOT là chữ viết tắt của 4 từ tiếng Anh: S-Strengths, W-Weakness, O-
Opportunities, T- Threats. SWOT là một công cụ phân tích vấn đề đưa ra 4 điểm
nói trên. Mục đích của công cụ này là giúp cho việc:
+ Nhận ra được tình huống hiện tại (điểm mạnh, điểm yếu), đây là điểm
mang tính chất chủ quan, nội tại.
+ Đánh giá được chiều hướng có thể xảy ra trong tương lai(nguy cơ, trở
ngại), thường có tính chất khách quan do tác động từ bên ngoài.
Đây là một trong những công cụ dùng để phân tích vấn đề, rất có hiệu quả
trong việc phát hiện nguyên nhân và tìm kiếm giải pháp giải quyết vấn đề.
Sau khi gặp chủ hộ, nói rõ lý do, mục đích của đề tài và được sự chấp nhâïn
của chủ hộ chúng tôi sử dụng công cụ phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập thông
tin về mô hình của họ và kết quả được tổng hợp ở bảng sau: Bảng 1: Phân tích SWOT của các mô hình NLKH
15
S (Điểm mạnh).
Có vốn đầu tư sản xuất
Đất đai tốt
Có nay đủ phương tiện, công cụ
cần thiết phục vụ sản xuất.
Tận dụng các phế phẩm sau thu
hoạch, để làm phân xanh ,vật
liệu giữ ẩm cho cà phê.
Được đi tham dự các cuộc thi
Các loại quả sau khi thu hái thường
bò hỏng khi chưa kòp mang đi tiêu
thụ do ép giá vì chưa có các thiết bò
bảo quản sơ bộ.
Giá cả nông sản thường xuyên
biến động
Chưa được sự quan tâm của cơ
quan khuyến nông khuyến lâm
Thông tin sự biến đổi giá cả thò
trường
Dòch vụ thu mua sản phẩm của nhà
nước chưa kòp thời, nên sản phẩm
nông sản thường bò tư thương ép
giá vào vụ chính Qua bảng phân tích trên cho phép rút ra một số điểm cần quan tâm để giúp
các hộ có điều kiện phát triển, mở rộng các mô hình của mình và sản xuất một
cách có hiệu quả hơn:
Đưa tiến bộ kỹ thuật trồng các loại cây trồng, chăm sóc và chế biến sản phẩm
cho cộng đồng.
16
Các ngân hàng cần quan tâm cho các hộ nông dân vay vốn để mở rộng sản
xuất.
Cung cấp thông tin về giá cả và nơi tiêu thụ hàng hóa, có chính sách trợ giá
cho những sản phẩm của nông dân
Nhà nước cần đầu tư xây dựng các xí nghiệp chế biến nông lâm sản để mua
sản phẩm cho nông dân.
Cần khuyến khích các hộ nông dân đầu tư phát triển thêm chăn nuôi kết hợp
17
Giá trò hiện tại của chi phí CPV (Cost Present Value)
CPV=
∑
=
+
n
t
ti
Ct
0
)^1(
trong đó Ct là chi phí năm thứ t.
Giá trò hiện tại ròng NPV (Net Present Value) là hiệu số giữa giá trò thu nhập
và chi phí thực hiện sau khi đã chiết khấu. Hay nói cách khác nó là lợi nhuận
được quy về giá trò đồng tiền ở thời điểm hiện tại. Công thức như sau:
NPV=BPV-CPV=
∑
=
+
−
n
t
ti
CtBt
0
)^1(
Nếu NPV>0: Kinh doanh bảo đảm có lãi, phương án được chấp nhận.
)^1(
Chỉ tiêu này chính là hệ số sinh lãi thực tế. Nó phản ánh về mặt chất lượng
đầu tư. Tức là nó cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được mấy đồng thu
nhập (các khoản thu và chi đã được đưa về mặt bằng thời gian hiện tại). Phương
án nào có BCR lớn thì được chọn:
Nếu BCR > 1 : Phương án kinh doanh có lãi.
Nếu BCR < 1 : Phương án kinh doanh thua lỗ.
18
Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR (The Internal of Return) là tỷ lệ lãi suất giả đònh, giả
thuyết cho rằng nếu vay với một tỷ lệ lãi suất i = IRR thì chương trình đầu tư
hòa vốn, khi đó NPV = 0.
Để tính được IRR ta chọn hai tỷ lệ chiết khấu i
1
và i
2
với điều kiện hiện tại
hóa đồng tiền ròng thì i
1
cho giá trò hiện tại ròng là một số dương và i
2
cho giá trò
hiện tại ròng là một số âm. Tính tỷ lệ thu hồi nội bộ theo công thức sau:
IRR= i
1
+( i
2
- i
1
)1lg(
IRR
in
+
+
Từ số liệu thu thập, đã tính toán tổng hợp có được bảng kết quả sau
Bảng 2: Hiệu quả kinh tế các mô hình NLKH
Stt Họ tên hộ/ Mô Hình Chỉ tiêu kinh tế
19
Đòa phương NPV(đồng) BCR
(đ/đ)
IRR(%) T
(năm)
1 Dương Văn Hùng
Thôn1 - Hoà Thuận
Cà phê - Sầu riêng
(DONA) - Tiêu
34306389 1.28 30.32 6.97
2 Lê Luyến
Thôn 4 - Hoà
Thuận.
Cà phê - Sầu riên
g
- Bắp
20859664 1.23 28.32 7.28
3 Nguyễn Văn
- Na
25226280 1.32 28.38 5.53
Qua bảng kết quả tính toán các chỉ tiêu kinh tế thấy rằng:
20
NPV dao động từ 8 đến 34 triệu đồng so với một quảng thời gian kinh doanh
rất dài từ 8 đến 10 năm, sau khi đã trừ mọi chi phí số tiền thu lại là chưa cao so
với số tiền bỏ ra đầu tư.
Chỉ tiêu kinh tế BCR là tỷ lệ thu nhập chi phí BCR là thương số giữa toàn
bộ thu nhập so với toàn bộ các chi phí sau khi đã chiết khấu đưa về giá trò hiện
tại của 8 hộ kinh doanh dao động từ 1,11 đến 1,32 tức là người dân bỏ ra 1,0 đồng
vốn chỉ thu lại 1,11 đến 1,32 tuy có lợi nhuận nhưng còn rất thấp. Chỉ tiêu kinh tế
BCR phản ánh chất lượng đầu tư. Theo kết quả điều tra cũng như tính toán trên
thực tế chất lượng đầu tư của các hộ làm kinh tế NLKH ở thành phố Buôn Ma
Thuột có trình độ thâm canh cao. Nhưng thực tế độ rủi ro là râùt lớn do sự biến
động của giá cả thò trường, cây ăn quả phụ thuộc chu kỳ sai quả…vì vậy BCR
còn thấp.
Thời gian hoàn trả vốn của hầu hết các hộ kinh doanh trung bình từ 5 đến 8
năm, đây là thời gian khá dài bởi vì đầu tư kinh doanh cây cà phê đòi hỏi vốn
đầu tư ban đầu cao để mua sắm các thiết bò máy móc, vật tư phân bón giống cây
trồng, thuốc bảo vệ tực vật, công chăm sóc, bên cạnh đó thời gian cho thu hoạch
của cây dài ngày là rất dài, trung bình từ 3 đến 5 năm, giá cả thường biến động,
năng suất thấp bởi các cây ăn quả đang ở giai đoạn cho bói…
5.4. Phân tích mối quan hệ giữa diện tích tán cây thân gỗ và năng suất cây
cà phê
Vấn đề trồng cây thân gỗ kết hợp trong vườn cà phê có hay không ảnh
hưởng và ảnh hưởng đến mức độ nào đến năng suất cà phê thu hoạch, cho đến
nay vẫn còn là vấn đề chưa thống nhất. Trên thực tế ở các vườn cà phê thường có
các hàng hoặc đai rừng chắn gió được trồng trên các đường lô, trong lô việc có
2
)
Năng suất
cà phê (tấn
nhân / ha)
1 Lê Luyến Sầu riêng 95 8 4522 4,2
2 Dương Văn
Hùng
Sầu riêng
DONA
120 3,8 1368 4,5
Sầu riêng 100 6 3 Nguyễn
Kiểu
Na 40 3,9
3480 3,0
4 Ytăng Êban Sầu riêng
DONA
70 7 2478 4,0
Sầu riêng 75 7,1 5 Toàn Eakao
Na 120 4,2
4571 3,0
Kết quả trên cho thấy tổng diện tích tán lá cây thân gỗ lớn hay nhỏ chi
phối đến năng suất cà phê là chưa rõ ràng. Như vậy năng suất cà phê còn phụ
thuộc vào mức độ thâm canh, các yếu tố tự nhiên khác chứ không phải chỉ phụ
22
thuộc vào diện tích tán cây thân gỗ. Qua kinh nghiệm người dân và quan sát thực
tế nhận thấy so với vườn cà phê độc canh thì việc có trồng kết hợp cây thân gỗ
đã có tác động tích cực trong việc hạn chế xói mòn rửa trôi đất, giảm lượng bốc
giá
Chỉ báo cụ thể
ph-ơng
pháp/ công
cụ đánh giá
Điểm
Sử dụng bề mặt đất, khả năng
che phủ mặt đất trong năm
Quan sát
Thời gian kết hợp giữa cây
ngắn ngày và dài ngày (Cả
chu kỳ, luân canh: Tốt; Cả
chu kỳ, quảng canh: TB; Kêt
hợp thời gian đầu: Kém)
Phỏng vấn
Sử dụng hợp lý các tầng đất
Quan sát/
đo đếm
Sử dụng hợp lý không gian
Quan sát/
đo đếm
Sử dụng phân bón (Hữu cơ:
Tốt; Kết hợp cả hai: TB; Vô
cơ: Kém)
Phỏng vấn
Phỏng vấn,
quan sát,
đo đếm
Về sinh thái/ môi tr-ờng
Mức độ bảo tồn đa dạng loài,
nguồn gen và sử dụng cây bản
địa
Phỏng vấn,
quan sát,
đo đếm
Mức độ sinh tr-ởng cây dài
ngày
Phỏng vấn,
quan sát,
đo đếm
Về khả
năng sinh
tr-ởng
Sự phù hợp của cây ngắn ngày
với cây dài ngày (ánh sáng,
đất, n-ớc)
Phỏng vấn,
quan sát,
đo đếm 24
T¹o ra viƯc lµm Pháng vÊn
VỊ X· héi
§a d¹ng hãa s¶n phÈm
Pháng vÊn,
quan s¸t,
th¶o ln
N¨ng st c©y dµi ngµy
Pháng vÊn,
®o ®Õm
N¨ng st c©y ng¾n ngµy
Pháng vÊn,
®o ®Õm
Thêi gian thu håi vèn (D-íi
3 n¨m: Tèt; 3 - 7 n¨m: TB;
Trªn 7 n¨m: KÐm)
Pháng vÊn
HiƯu qu¶ kinh tÕ - l·i (Thu
trõ Chi) (Chia 3 møc theo
mỈt b»ng thu nhËp trong
vïng)
Pháng vÊn,
tÝnh to¸n
VỊ kinh tÕ
§é rđi ro Pháng vÊn