Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Danh mục chữ viết tắt
- CBTD: Cán bộ tín dụng
- Cty CP: Công ty cổ phần
- Cty TNHH: Công ty trách nhiệm hữu hạn
- DN: Doanh nghiệp
- DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước
- DNNQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- DNCV: Dư nợ cho vay
- HTX: Hợp tác xã
- NHNo&PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
- NHNN: Ngân hàng Nhà nước
- NHTM: Ngân hàng thương mại
- SXKD: Sản xuất kinh doanh
- TSCĐ: Tài sản cố định
- TW: Trung ương
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, hoạt động cho vay của hệ thống NHTM nước ta
đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế. Là một chi nhánh của
NHNo&PTNT Việt Nam nằm trong hệ thống NHTM quốc doanh, NHNo&PTNT
Hà Tây cũng có những đóng góp tích cực đối với nền kinh tế nói chung và kinh tế
Hà Tây nói riêng. Với đối tượng phục vụ chủ yếu và truyền thống là cho vay là hộ
sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, trong thời gian gần đây ngân hàng còn mở
rộng cho vay đối với các doanh nghiệp. Qua tìm hiểu về thị trường khách hàng
doanh nghiệp của NHNo&PTNT Hà Tây em thấy hiện tại số doanh nghiệp trên địa
bàn tỉnh Hà Tây có quan hệ giao dịch với ngân hàng rất ít, trong số khoảng 3282
doanh nghiệp trên địa bàn chỉ có 776 doanh nghiệp có quan hệ vay vốn của ngân
hàng. Trong khi đó, ở Hà Tây ngày càng có nhiều doanh nghiệp được mọc lên và
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp này ngày càng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương I
Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của
NHTM
1.1. Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1. Khái niệm hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là một quan hệ hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể trong nền kinh
tế với nhau, trong đó chủ thể này chuyển sang cho chủ thể khác quyền sử dụng
một lượng giá trị (có thể dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) trong một thời gian
nhất định, sau thời gian này chủ thể đi vay phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn
ban đầu gồm cả phần dôi dư mà người ta gọi là phần lãi cho chủ thể cho vay. Lãi
cho vay tỷ lệ với số lượng giá trị vay và thời gian vay.
Một trong những chủ thể cho vay trong nền kinh tế là ngân hàng thương mại.
Đây là một tổ chức tài chính quan trọng trong nền kinh tế, là mạch máu của nền
kinh tế, giúp nền kinh tế vận hành một cách thông suốt, hoạt động chủ yếu của
NHTM là đi vay để cho vay.
Cho vay của NHTM là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao cho
khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất
định theo thoả thuận với nguyên tắc khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả gốc
và lãi đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là tài sản lớn nhất của NHTM, hoạt động cho vay của NHTM là
hoạt động có tính chuyên nghiệp nhất, phổ biến nhất, là nghiệp vụ cơ bản nhất
đem lại thu nhập cho ngân hàng. Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ
chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận, chỉ có lãi thu được từ hoạt động cho vay mới
bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn
trôi nổi, chi phí thuế và các chi phí rủi ro đầu tư. Hoạt động cho vay của NHTM
có một số đặc điểm sau:
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.3. Vai trò của hoạt động cho vay đối với NHTM
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Đối với NHTM
Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa tổng giá
trị tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng. Trong hoạt động cho
vay mức độ và quy mô cho vay phải phù hợp với thực lực, khả năng của ngân
hàng đồng thời đảm bảo đầy đủ nguyên tắc và điều kiện cho vay, đảm bảo khả
năng thanh khoản và hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro trong quá trình hoạt
động kinh doanh. Đặc biệt trong điều kiện sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa
các NHTM trên thị trường việc mở rộng hoạt động cho vay là một yêu cầu bức
xúc và đảm bảo được thắng lợi trong cạnh tranh vì việc mở rộng cho vay sẽ đem
lại lợi nhuận cho ngân hàng nhiều hơn và đủ để bù đắp chi phí. Ngoài ra, việc đầu
tư cho vay là hoạt động hết sức quan trọng cả trước mắt và lâu dài. Thực tế cho
thấy, đầu tư cho vay đã làm cho ngân hàng mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động,
tăng thu nhập cho ngân hàng, đồng thời hoạt động cho vay của ngân hàng đã làm
cho các cán bộ ngân hàng nắm bắt nhanh các thông tin kinh tế phục vụ cho hoạt
động khác của ngân hàng mình ngày càng có hiệu quả hơn.
* Đối với khách hàng vay
Hoạt động cho vay của NHTM là cầu nối trung gian giữa người cung ứng
vốn và người cần vốn cho sản xuất kinh doanh, sinh hoạt đời sống, đồng thời hoạt
động cho vay của NHTM cũng góp phần điều hoà vốn giữa vốn nơi thừa và thiếu
vốn. Vì vậy thông qua hoạt động cho vay của NHTM mà nhu cầu về vốn của
khách hàng vay được đáp ứng. Hơn nữa, nhờ có các khoản vay của ngân hàng mà
khách hàng có thể nâng cao đời sống bản thân và gia đình, có thể hưởng các tiện
ích khi mà khả năng tài chính hiện tại của họ chưa đủ khả năng. Quan trọng hơn
các khoản vay này có thể giúp khách hàng trong những trường hợp chi tiêu cấp
bách. Như vậy, nhờ các khoản vay này mà khách hàng có thể kết hợp được với khả
năng tài chính hiện tại với tương lai từ đó tạo ra một động lực thúc đẩy họ phải cố
gắng trong các hoạt động ở hiện tại.
Cho vay trung hạn: Là những khoản vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5
năm, tài trợ cho tài sản cố định như: mua sắm, cải tiến thiết bị công nghệ, mở rộng
kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô vừa và nhỏ phục vụ đời sống, sản xuất
có thời hạn thu hồi vốn nhanh, mua sắm phương tiện vận tải.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cho vay dài hạn: Là những khoản vay có thời hạn trên 5 năm, tài trợ cho
công trình xây dựng như: nhà máy, xí nghiệp, sân bay, cầu, đường, máy móc thiết
bị có giá trị lớn thời gian sử dụng lâu.
Việc phân loại thời hạn như trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì nhiều
khoản cho vay không xác định được chính xác thời hạn. Các khoản cho vay ngắn
hạn tại các NHTM thường có tỷ trọng cao hơn các khoản cho vay trung và dài hạn
vì khách hàng tìm đến các ngân hàng chủ yếu là ở trong tình trạng thiếu nguồn vốn
đáp ứng nhu cầu về tài sản lưu động. Hơn nữa, các khoản cho vay trung và dài hạn
thường có tỷ trọng cao hơn do rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt và khan hiếm hơn.
* Căn cứ vào tài sản bảo đảm cho vốn vay: Về nguyên tắc, mọi khoản cho
vay của ngân hàng đều có bảo đảm dưới hình thức có hoặc không có tài sản bảo
đảm.
Cho vay có tài sản bảo đảm: Trong hoạt động cho vay của mình, ngân hàng
thường yêu cầu khách hàng có tài sản bảo đảm. Tài sản bảo đảm của khách hàng
phải thoả mãn những yêu cầu nhất định ngân hàng do ngân hàng đề ra. Hình thức
bảo đảm bằng tài sản cho vốn vay có thế là thế chấp tài sản hoặc cầm cố tài sản.
Khi khách hàng đem tài sản ra thế chấp thì khách hàng vẫn có quyền sử dụng để
sinh lời đối với tài sản này, nhưng trong trường hợp tài sản đem ra để cầm cố thì
không được quyền sử dụng tài sản cầm cố đó nữa. Trong cả hai hình thức này
khách hàng không được quyền nhượng, bán hay cho thuê tài sản đó và phải chịu
sự giám sát của ngân hàng.
Cho vay không có tài sản bảo đảm: Là các khoản cho được bảo đảm dựa vào
lòng tin của ngân hàng đối với khách hàng ở khả năng và ý chỉ trả nợ hay còn gọi
là dưới hình thức tín chấp. Ngân hàng chỉ cho vay trong trường hợp khách hàng có
Đây là phương thức cho vay được áp dụng đối với khách hàng không có nhu
cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Mỗi lần
vay khách hàng làm đơn và phương án sử dụng vốn vay nộp ngân hàng. Các khoản
vay này riêng biệt nhau theo các hồ sơ vay vốn khác nhau. Ngân hàng tiến hành
phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn
giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần.
Mức
cho vay
=
Tổng nhu cầu vốn
của phương án, dự án
-
Vốn tự có của
khách hàng tham
gia
-
Vốn khác
(nếu có)
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Theo phương thức này việc cho vay và thu nợ được phân định ranh giới một
cách rõ ràng, dễ nhận biết được khi nào là cho vay khi nào là thu nợ và lãi suất có
thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi. Nhưng đây lại là phương thức gây
không ít phiền hà cho khách hàng và cho cán bộ tín dụng vì thực tế có nhiều khó
khăn trong kiểm soát sử dụng vốn vay của cán bộ tín dụng.
* Cho vay theo hạn mức tín dụng
Đây là phương thức áp dụng đối với khách hàng vay mượn thường xuyên,
vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Ngân hàng
cùng với khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong
một khoảng thời gian nhất định. Mỗi lần vay, khách hàng chỉ cần trình bày phương
Theo phương thức này, ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các
dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ
đời sống. Ngân hàng và khách hàng ký hợp đồng tín dụng và thoả thuận mức vốn
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ hạn trả nợ. Ngân
hàng thực hiện giải ngân theo tiến độ thi công của dự án.
Mức cho
vay
=
Tổng nhu cầu
vốn của dự án
-
Vốn tự có của chủ
dự án tham gia
-
Vốn khác
(nếu có)
Thời hạn
cho vay
=
Thời gian
XDCB
+ Thời hạn trả nợ
Thời hạn trả
nợ
=
Mức cho vay
Khấu hao cơ bản dùng để trả nợ + Lợi nhuận + Nguồn khác
* Cho vay hợp vốn
khách hàng phải mở tài khoản thấu chi tại ngân hàng, phải có cam kết chuyển thu
nhập của mình vào tài khoản thấu chi và hoàn toàn chịu trách nhiệm và nội dung
và tính hợp pháp của khoản chi của khách hàng trên tài khoản thấu chi.
1.1.6. Quy trình cho vay của NHTM
Quy trình cho vay được bắt đầu từ khi cán bộ tín dụng tiếp cận hồ sơ khách
hàng và kết thúc khi kế toán viên tất toán thanh lý hợp đồng tín dụng. Quy trình
cho vay của NHTM gồm các bước sau:
Bước1: Cán bộ tín dụng được phân công giao dịch với khách hàng có trách
nhiệm hướng dẫn khách hàng lập và gửi hồ sơ vay vốn. Bao gồm: hồ sơ pháp lý,
hồ sơ kinh tế và hồ sơ vay vốn.
Sau khi nhận được hồ sơ hợp pháp, hợp lệ do khách hàng gửi đến, cán bộ tín
dụng tiến hành thẩm định các điều kiện vay vốn (thẩm định cho vay). Thẩm định
cho vay là nội dung quan trọng nhất trong quy trình cho vay, đó chính là việc thẩm
định các điều kiện vay vốn. Tuỳ theo loại hình khách hàng, loại cho vay, phương
thức cho vay, quy mô dự án, đối tượng cho vay để có nội dung thẩm định thích
hợp. Nội dung cơ bản của thẩm định gồm các nội dung sau:
- Thẩm định năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự
- Thẩm định khả năng tài chính ( Sức khỏe của khách hàng)
- Thẩm định mục đích vay vốn
- Thẩm định phương an, dự án vay vốn
- Thẩm định tài sản là bảo đảm nợ
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bước 2: Trưởng phòng tín dụng hoặc tổ trưởng tín dụng có trách nhiệm kiểm
tra tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ và báo cáo thẩm định do cán bộ tín dụng lập,
tiến hành xem xét, tái thẩm định (nếu cần thiết) hoặc trực tiếp thẩm định trong
trường hợp kiêm làm cán bộ tín dụng, ghi ý kiến vào báo cáo thẩm định, tái thẩm
định (nếu có) và trình giám đốc quyết định
Bước 3: Giám đốc ngân hàng nơi cho vay căn cứ báo cáo thẩm định, tái thẩm
định (nếu có) do phòng tín dụng trình, quyết định cho vay hoặc không cho vay
- Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: Khách hàng phải có tín nhiệm
với ngân hàng, có mức vốn tự có tham gia tối thiểu theo quy định, có dự án đầu tư
hoặc phương án SXKD có hiệu quả, có khả năng trả nợ trong thời hạn cam kết.
Thứ hai: Bảo đảm tiền vay không có bảo đảm bằng tài sản.
Khách hàng được vay vốn của ngân hàng mà không cần tài sản bảo đảm thì
thường khách hàng phải là khách hàng có uy tín đối với ngân hàng, kinh doanh có
lãi hai năm liền kề với thời điểm xem xét cho vay, có dự án hoặc phương án sản
xuất kinh doanh có hiệu quả, có khả năng trả nợ trong thời hạn cam kết, có cam
kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản nếu sử dụng vốn vay không đúng
cam kết trong hợp đồng tín dụng.
1.2. Cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM
1.2.1. Sự khác nhau trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân và
khách hàng doanh nghiệp của NHTM
Để phân biệt được hai nhóm khách hàng này ta cần khẳng định sự phân biệt
rõ ràng giữa chúng là không thể thực hiện được. Sự phân biệt này chỉ mang tính
tương đối và ranh giới giữa hai nhóm khách hàng này cũng không rõ ràng đối với
ngân hàng. Tuy nhiên giữa hai nhóm đối tượng này có một số điểm khác nhau cơ
bản sau:
* Đặc trưng về khoản vay
Các khoản vay đối với khách hàng cá nhân thường là các khoản vay có giá trị
nhỏ, nhưng số lượng khoản vay là rất lớn. Chính vì số lượng lớn khách hàng cũng
như số lượng khoản vay là rất lớn nên tính nhạy cảm của nhóm khách hàng này là
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
rất cao, đòi hỏi ngân hàng phải có những chiến lược marketing riêng biệt, cụ thể,
mang lại sự gần gũi, tin tưởng và yên tâm cho khách hàng đến ngân hàng xin vay
vốn.
Đối với các doanh nghiệp do đặc thù riêng có của doanh nghiệp mà các
NHTM phải tổ chức các phòng tín dụng chuyên trách phục vụ. Nhóm khách hàng
này thường có nhu cầu vốn với số lượng lớn và có thể là rất lớn, tuy nhiên số
lệch thời gian giữa chi phí và thu nhập kinh doanh. Thật vậy, giữa thời điểm mua
nguyên vật liệu và thời điểm bán sản phẩm có một thời hạn thay đổi tuỳ thuộc vào
độ dài của hoạt động chế biến và lưu kho của doanh nghiệp. Ngoài ra, việc bán
hàng thường kèm theo thời hạn thanh toán tiền hàng. Vì vậy, các doanh nghiệp
phải có nguồn ngân quỹ thoả đáng để đáp ứng đầy đủ kịp thời các nhu cầu kinh
doanh. Thực tế các doanh nghiệp thường không đủ vốn để bù đắp mọi khoản sử
dụng trong kinh doanh, mặc dù các doanh nghiệp cũng được người cung cấp của
họ dành cho một thời hạn trả chậm khi mua hàng thì các doanh nghiệp vẫn không
đủ ngân quỹ để đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu đó. Vì vậy, các doanh nghiệp thường
phải xin vay ngân hàng để đảm bảo cân bằng ngân quỹ, đáp ứng nhu cầu chi tiêu
của doanh nghiệp. Vì vậy, có thể khẳng định guồn vốn cho vay của NHTM góp
phần hình thành thị trường tài chính đáp ứng nhu cầu vốn cơ bản cho sản xuất, chế
biến lưu thông hàng hoá của doanh nghiệp. Vai trò này của NHTM đối với các
doanh nghiệp thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, cho vay góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp:
Để thực hiện các quyết định đầu tư các chủ doanh nghiệp thường thích sử dụng
vốn vay. Với việc vay vốn chủ doanh nghiệp vẫn nắm chắc quyền kiểm soát doanh
nghiệp, hơn nữa các doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận từ tiền vay lớn hơn
lãi phải trả làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp gia tăng đáng kể. Hơn nữa doanh
nghiệp lại được hưởng một khoản tiết kiệm nhờ lãi vì lãi tiền vay được tính vào
chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ hai, cho vay đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn lưu động phục vụ sản xuất
kinh doanh của doang nghiệp: Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường đặc
biệt trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển các doanh nghiệp phải đáp ứng
được yêu cẩu đổi mới, tức là phải thường xuyên nâng cao trình độ của mình kể cả
kiến thức xã hội, khả năng áp dụng quy trình, công nghệ kỹ thuật mới trong quá
trình sản xuất kinh doanh, chấp nhận sự cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh để
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đem lại hiệu quả kinh tế cao. Đây là một đòi hỏi tất yếu đối với các doanh nghiêp,
Quy trình cho vay là quy trình bắt buộc thực hiện trọng quá trình thẩm định
cho vay, giám sát các khoản vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn. Quy trình cho
vay được cụ thể hoá thành các quy định cho vay bắt buộc, mọi khoản vay phải
thực hiện chặt chẽ theo đúng các quy định này. Quy trình cho vay của ngân hàng
chặt chẽ thì chất lượng khoản vay được đảm bảo nhưng có thể sẽ ảnh hưởng đến
số lượng các khoản vay vì quy trình cho vay chặt chẽ thường có sự rườm rà, phức
tạp, nhiều thủ tục trong quy trình vay, vì thế có thể gây trở ngại cho các doanh
nghiệp đến vay vốn ngân hàng. Một ngân hàng với quy trình cho vay đơn giản,
gọn nhẹ, ít thủ tục sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đến vay vốn
ngân hàng nhiều hơn. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các ngân hàng trong hoạt động mở
rộng cho vay đối với doanh nghiệp là ngân hàng phải tạo lập được một quy trình
cho vay đơn giản, loại bỏ bớt các thủ tục không cần thiết nhưng vẫn đảm bảo chất
lượng khoản vay.
* Chất lượng cán bộ tín dụng
Năng lực, trình độ cán bộ tín dụng thể hiện ở trình độ học vấn, kinh nghiệm
nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp của bản thân họ. Việc quyết định cho vay
đúng đắn hoặc sai sót của cán bộ tín dụng có ảnh hưởng đến việc đẩy mạnh hoạt
động cho vay đối với doanh nghiệp. Nếu ngân hàng có đội ngũ cán bộ tín dụng
đầy đủ năng lực, trình độ, đạo đức nghề nghiệp thì trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng nói chung và trong việc đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với các doanh
nghiêp nói riêng sẽ có nhiều thuận lợi và thu được kết quả cao. Ngược lại, cán bộ
tín dụng quan liêu, xét duyệt cho vay không vô tư, thiếu hiểu biết pháp luật, thậm
chí thoái hoá biến chất, báo cáo sai sự thật với cấp trên, đề xuất cho vay sai lầm,
không chung thực sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay và rất dễ để lại
một hình ảnh xấu về ngân hàng mình trong các doanh nghiệp và như vậy sẽ hạn
chế việc các doanh nghiệp đến ngân hàng vay vốn.
Hơn nữa, nếu cán bộ cho vay không có trình độ sẽ không phân tích được
kinh tế tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và sẽ gặp phải
những sai lầm trong các quyết định cho vay. Vì vậy, hiện nay các ngân hàng rất coi
trọng khâu tổ chức đề bạt, đào tạo và đào tạo lại cán bộ, tuyển dụng đúng đắn trình
rủi ro cho ngân hàng và khi rủi ro ấy xảy ra sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng. Như
vậy, hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM có chịu ảnh hưởng bởi
những nhân tố thuộc về doanh nghiệp, các nhân tố đó là:
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Năng lực tài chính của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp đối với
ngân hàng
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở mức vốn tự có của doanh
nghiệp tham gia vào dự án sản xuất kinh doanh, tài sản thế chấp, tài sản đảm bảo.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp cao, lành mạnh thì khả năng trả nợ ngân hàng
được đảm bảo. Uy tín của doanh nghiệp đối với ngân hàng thể hiện ở kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp được ngân hàng ghi nhận là tốt, có hiệu quả,
được ngân hàng xếp vào nhóm khách hàng tốt. Những doanh nghiệp có uy tín với
ngân hàng thì khả năng được vay vốn ngân hàng là cao và thuận lợi.
* Đặc điểm của dự án vay vốn
Dự án vay vốn có khả năng thực thi cao, có khả năng tạo lợi nhuận lớn, ít rủi
ro thì khả năng trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp được đảm bảo do đó ngân hàng
sẵn sàng cho doanh nghiệp vay để đầu tư những dựa án như vậy. Hơn nữa, doanh
nghiệp sử dụng tiền vay đúng đối tượng, đúng mục đích thì mới có giá trị thực tiễn
đem lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội và việc thu nợ gốc và lãi vay sẽ khả
thi. Như vậy, đặc điểm của dự án vay vốn, tính hiệu quả của dự án vay vốn, thời
gian thu hồi vốn của dự án sẽ ảnh hưởng đến hoạt động cho vay đối với doanh
nghiệp của ngân hàng.
1.2.3.3. Các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài:
* Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng. Nếu
điều kiện tự nhiên thuận lợi, ít bị thiên tai sẽ tác động tích cực tới hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Giao thông đi lại cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay
doanh nghiệp của ngân hàng. Thật vậy, nếu ngân hàng nằm trên tuyến đường giao
thông thuận lợi cho việc đi lại đối với các doanh nghiệp thì sẽ thu hút được nhiều
thông thoáng sẽ bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp nói chung và ngân
hàng nói riêng, ngăn chặn được những tiêu cực xảy ra trong xã hội như tham
nhũng, buôn lậu, hụi họ, số đề, cờ bạc..., và sẽ khuyến khích được sự phát triển
của các doanh nghiệp và ngân hàng.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng các quan hệ pháp luật của NHTM với
các pháp nhân, thể nhân rất phong phú, đa dạng, phức tạp. Vì vậy hoạt động cho
vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của hệ thống
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
pháp luật hiện hành đặc biệt là các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động ngân
hàng.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương II
Thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh
nghiệp tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Tây
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các doanh
nghiệp ở Hà Tây
2.1.1. Điều kiện tự nhiên của Hà Tây
Hà Tây với diện tích 2192 km
2
, liền kề và bao quanh thủ đô Hà Nội về phía
tây và phía tây nam. Phía đông của Hà Tây là tỉnh Hưng Yên. Phía bắc, tây bắc
giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ. Phía tây giáp với tỉnh Hoà Bình. Phía nam là
tỉnh Hà Nam. Tỉnh Hà Tây ở về phía tây của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hà Tây nằm
cạnh khu kinh tế tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - hạt nhân kinh tế
miền Bắc. Đó chính là môi trường thuận lợi để tạo đà thúc đẩy kinh tế Hà Tây phát
triển.
Hà Tây được sông Đà, sông Hồng bao quanh địa bàn tỉnh từ phía tây bắc
xuống phía đông nam. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh có những sông lớn như sông Đáy,
NHNo&PTNT Hà Tây đã nhận thức đầy đủ định hướng kinh doanh của
NHNo&PTNT Việt Nam và thường xuyên bám sát mục tiêu phát triển kinh tế của
Tỉnh, đề ra nhiều giải pháp kinh doanh phù hợp và đã đạt được nhiều thành công
như ngày hôm nay.
2.1.3. Khái quát về các doanh nghiệp ở Hà Tây
* Doanh nghiệp nhà nước
Tính đến 31/12/2006 toàn tỉnh có 82 DNNN trong đó có 26 doanh nghiệp
đang có quan hệ vay vốn NHNo&PTNT Hà Tây, giảm so với đầu năm là 6 doanh
nghiệp,tỷ trọng DNNN có quan hệ tín dụng với NHNo&PTNT là 31,7% so với
tổng DNNN có trên địa bàn. Số lượng DNNN trên địa bàn tỉnh ngày càng giảm
(năm 2004 toàn tỉnh có 95 DNNN) do quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp và quá
trình cổ phần hoá chuyển sang công ty cổ phần. Hiện tại các DNNN hầu như đang
trong tình trạng khó khăn, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thấp, thua lỗ. Tình
trạng này đã gây khó khăn cho việc thu hồi nợ của ngân hàng đối với những doanh
nghiệp đã có quan hệ vay vốn của ngân hàng. Ví dụ như: Công ty Xây dựng công
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trình giao thông 116 hiện tại nợ NHNo&PTNT Hà Tây 34.176 triệu đồng, Công ty
Xuất nhập khẩu may thêu Hưng Thịnh hiện tại nợ 33.346 triệu đồng.
Trước tình trạng hoạt động kinh doanh của khối các DNNN làm ăn gặp khó
khăn như vậy ngân hàng vẫn phải giữ quan hệ với các doanh nghiệp này để giữ
chân khách hàng bởi vì trong tương lai các DNNN sẽ cổ phần hoá chuyển sang
công ty cổ phần hạch toán độc lập, làm ăn có hiệu quả hơn.
* Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Số lượng các DNNQD trên địa bàn tỉnh ngày càng nhiều, năm 2005 toàn tỉnh
có 2164 doanh nghiệp, đến 31/12/2006 đã có tới 3200 doanh nghiệp và chủ yếu là
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong số 3200 doanh nghiệp, hiện có 750 doanh nghiệp
có quan hệ vay vốn NHNo&PTNT Hà Tây. Đây là thành phần kinh tế đang phát
triển mạnh đã có đóng góp lớn vào quá trình phát triển kinh tế của Hà Tây nhưng
trình độ quản lý còn hạn chế, vốn tự có thấp, sức cạnh tranh yếu, sổ sách kế toán