ASEAN – THỊ TRƯỚNG LỚN CHO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
I. Tổng quan thị trường các nước ASEAN
II. Không được coi nhẹ thị trường ASEAN
III. ''Form D'' - giấy thông hành vào ASEAN
I. Tổng quan thị trường các nước ASEAN
ASEAN là một thị trường lớn và đầy tiềm năng với số dân 520 triệu; tổng thu nhập khối (GDP) năm 2002
khoảng 570 tỷ USD; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 712 tỷ USD (năm 2001), trong đó thương mại nội
khối năm 2001 là 160 tỷ USD. Đây là khu vực mậu dịch tự do đầu tiên Việt Nam tham gia.
Theo quy định của Hiệp định chung về Chương trình ưu đãi thuế quan (CEPT) cho Khu vực thương mại tự
do ASEAN (AFTA), sáu nước thành viên cũ bao gồm Brunei, Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan và
Singapore sẽ thực hiện lịch trình cắt giảm thuế quan trong vòng 10 năm, từ 01/01/1993 đến 01/01/2003
xuống 0 - 5%, theo đó là bỏ các hàng rào phi thuế quan. Thực tế từ 01/01/2003, riêng Singapore đã giảm
thuế nhập khẩu xuống 0%, còn năm nước khác giảm thuế nhập khẩu xuống 0 - 5%. Gần đây, ASEAN lại
cam kết sẽ giảm thuế nhập khẩu xuống 0% vào năm 2010 đối với sáu nước thành viên cũ và đến năm
2015 - 2018 đối với bốn nước thành viên mới.
Việt Nam là nước thành viên mới, nên theo cam kết bắt đầu từ 01/01/2001 sẽ giảm thuế các mặt hàng có
mức thuế cao xuống còn 20%, sau đó mỗi năm sẽ giảm tiếp để đến năm 2006 mức thuế của phần lớn các
mặt hàng nhập khẩu từ ASEAN xuống còn 0 - 5% và thời gian loại bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu xuống 0%
sẽ áp dụng vào năm 2015. Việc cắt giảm thuế được chia thành từng nhóm. Nhóm thứ nhất, là nhóm danh
mục cắt giảm thuế quan ngay (IL). Đến năm 2002, Việt Nam đã chuyển 5.550 dòng thuế vào IL, chiếm 85%
trên tổng số 6.523 dòng thuế của biểu thuế nhập khẩu (Danh mục hài hòa thuế quan của ASEAN - AHTN
là 8.770 dòng). Nhóm này đến năm 2006 sẽ giảm mức thuế xuống 0 - 5%. Nhóm thứ hai, là danh mục loại
trừ tạm thời gồm 755 dòng thuế (theo AHTN là 1.415 dòng thuế) sẽ chuyển sang danh mục cắt giảm IL từ
01/7/2003 các dòng thuế có mức thuế cao sẽ đưa xuống 20% và giảm dần xuống 0 - 5% vào năm 2006.
Danh mục này bao gồm các nhóm hàng dầu thực vật, bánh kẹo, rau quả chế biến, clinker, xi măng, thiết bị
vệ sinh, giấy báo, giấy in, giấy vệ sinh, hóa chất, mỹ phẩm, kính xây dựng, điện tử, điện lạnh, quần áo,
giày dép.... Nhóm thứ ba, là danh mục nhạy cảm gồm hàng nông sản chưa chế biến, chủ yếu cần bảo hộ
cao, như thịt, trứng gia cầm, động vật sống, thóc gạo lức, đường mía,... Nhóm này có 53 dòng thuế (theo
AHTN là 89 dòng thuế) bắt đầu giảm thuế từ 01/01/2004 và kết thúc vào 01/01/2013 với mức thuế cuối
cùng là 0 - 5%. Riêng mặt hàng đường sẽ kết thúc vào 01/01/2010. Nhóm thứ tư, là danh mục loại trừ
hoàn toàn (GEL) gồm các sản phẩm không cam kết trong AFTA vì lý do an ninh quốc gia, đạo đức xã hội,
sẽ vừa tăng thị phần vừa giảm nhập siêu và tiến tới từng bước cân bằng cán cân thương mại với khu vực
ASEAN.
Trong số các nước ASEAN, chúng tôi xin giới thiệu 2 thị trường mà chúng tôi cho là có tiềm năng nhất đối
với hàng xuất khẩu Việt Nam, gồm Singapore và Campuchia.
1. Singapore
Trong thời gian qua, Singapore là đối tác thương mại lớn vào hàng thứ hai của Việt Nam. Các hoạt động
thương mại song phương phát triển từng năm một và đã tăng gấp đôi kể từ năm 1993 đến nay. Trị giá
thương mại song phương năm 2000 là 3,7 tỉ USD, và trong nửa đầu năm 2001 đã tăng 21,2% so với cùng
kỳ năm trước, trong đó phần xuất khẩu của Singapore cho Việt Nam tăng 27,4%, phần nhập khẩu của
Singapore từ Việt Nam tăng 7,1%. Như trên đã trình bày, Singapore là một trung tâm thương mại và hậu
cần quốc tế mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, có thể sử dụng hải cảng, không cảng và hệ
thống kho chứa hàng để xuất hàng cho thị trường quốc tế. Trong khi đó tại Việt Nam, các hải cảng ở miền
Bắc, đặc biệt là Hải Phòng, được sử dụng để cung ứng hàng hoá cho các thị trường ở Đông Á như Nhật
Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.
Gần đây, khi thị trường chứng khoán Việt Nam hình thành và có những bước tiến vững chắc, và nhất là
với sự ra đời của thỏa hiệp thương mại song phương Việt-Mỹ, thêm nhiều công ty Singapore bắt đầu tìm
hiểu khả năng kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam, góp phần đưa mối quan hệ giao thương giữa hai nước
lên một tầm mức mới.
Trong xu thế hợp tác và phát triển hiện nay, đa số các quốc gia ngày càng xoá bỏ dần những rào cản kinh
tế để tạo điều kiện cho thương nhân trong nước tham gia tích cực vào công tác xuất khẩu, đồng thời giúp
các thương nhân nước ngoài dễ dàng tiếp cận với thị trường nước mình. Với tư thế một nước ASEAN dẫn
đầu về mặt phát triển kinh tế, Singapore đã vận dụng một bộ máy quản lý thương mại hữu hiệu để đạt
những mục tiêu đề ra.
Với sự phát triển không ngừng của nền công nghệ điện tử, Singapore chủ trương áp dụng những tiến bộ
mới trong khoa học kỹ thuật vào lãnh vực xuất nhập khẩu, với những cải tiến sau:
Ø Thương mại không giấy tờ (paperless trading): Bằng việc thiết lập hệ thống TradeNet, Singapore đã
cách mạng hoá các thủ tục quản lý thương mại nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng, tạo điều kiện dễ
dàng cho các hoạt động thương mại. TDB đang nghiên cứu với khu vực tư nhằm giảm thiểu hay xoá bỏ
những thủ tục giấy tờ phức tạp trong thương mại quốc tế.
Ø Thương mại điện tử: TDB chú tâm đến việc xây dựng một số dự án về thương mại điện tử nhằm kết
lạc nhân, hàng rau quả và nước uống công nghiệp.
Ø Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam năm 2002: S$ 3.729,2 triệu. Các mặt hàng nhập khẩu chính của
Việt Nam là: xăng dầu, hóa chất, nguyên liệu thuốc lá, máy móc thiết bị và phụ tùng, nguyên liệu cho
ngành công nghiệp, phân bón, hàng tiêu dùng khác…
Theo đánh giá của ông Toh Hock Ghim, Đại sứ Singapore tại Việt Nam, hai mặt hàng của Việt Nam có
triển vọng trên thị trường Singapore là hàng thủ công và đồ gỗ. Bên cạnh đó, các mặt hàng nông sản, hải
sản, hàng hoá sử dụng trong gia đình, do có truyền thống sản xuất đạt chất lượng yêu cầu nên trong
tương lai, Singapore vẫn có thể tiếp tục nhập khẩu từ Việt Nam. Một điểm không kém phần quan trọng mà
các doanh nhân Việt Nam cũng không thể bỏ qua, đó là do vị trí địa lý và nhiều thế mạnh về kinh tế,
Singapore đang là một trung tâm thương mại quốc tế và hậu cần của khu vực. Nhiều nước trong khu vực
đã sử dụng các thương cảng, phi cảng và nhà kho của Singapore để xuất khẩu sản phẩm của họ cho thị
trường thế giới. Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để tận dụng những thế mạnh đó của Singapore,
người bạn hàng lớn của các doanh nhân Việt Nam, hầu đẩy mạnh các hoạt động giao thương của mình
với thế giới bên ngoài.
Ngoài ra, Singapore còn là thị trường xuất nhập khẩu hoàn toàn tự do, 96% hàng hóa xuất nhập khẩu
không có thuế (thuế suất = 0); Chính phủ không sử dụng những rào cản như biện pháp hạn chế thương
mại; cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu (như thanh toán, trọng tài thương mại,
cảng khẩu …) rất thuận lợi cho nhà xuất nhập khẩu.
2. Campuchia
Thông tin chung thị trường
Campuchia là nước đang phát triển theo hướng kinh tế thị trường. GDP năm 2001 ước tính khoảng 3,2 tỷ
USD), đạt 257 USD bình quân đầu người, nằm ở mức thấp nhất trên thế giới.
Ø Diện tích : 181.035 km
2
Ø Dân số : 12 triệu người
Ø Kim ngạch xuất nhập khẩu: 2.759 triệu USD (năm 2002)
Ø Kim ngạch xuất khẩu: 1.420 triệu SUD (năm 2002). Các mặt hàng xuất khẩu chính của Campuchia:
may mặc và da giày (đạt 1.250 triệu USD năm 2002).
Ø Kim ngạch nhập khẩu: 1.339 triệu USD (năm 2002)
Với một cơ sở hạ tầng lạc hậu xuống cấp, công nghiệp nghèo nàn, nền kinh tế Campuchia chủ yếu dựa
dự kiến tăng 35% cho năm 2001-2002 nếu không có sự kiện 11-9. Lượng khách du lịch đến Campuchia
trong năm 2001 thực tế chỉ tăng 16% so với năm 2000. Tổng Cục Du lịch hy vọng số du khách tới
Campuchia sẽ tăng và đạt mức 1 triệu người vào năm 2003. Ngành du lịch được coi là một trong những
ngành có triển vọng nhất đối với nền kinh tế Campuchia, với tiềm năng lớn cả về thu hút ngoại tệ và thu
nhập. Ngành này đang được luật đầu tư ưu đãi.
Công nghiệp: Sự tăng trưởng công nghiệp đã chiếm ưu thế bởi việc tăng các xí nghiệp may mặc. Hàng
xuất khẩu dệt may sang thị trường Mỹ tăng 43%, từ 515 triệu USD năm 1999 tới 736 triệu USD năm 2000;
xuất khẩu sang Mỹ đạt 793 triệu USD năm 2001. Hàng xuất khẩu may mặc của Campuchia đạt 1,1 tỷ năm
2001, tăng 13 % so với năm 2000 trong đó lượng xuất khẩu sang Liên minh Châu Âu tăng chiếm 38%.
Xây dựng cũng là một ngành chủ lực trong lĩnh vực công nghiệp, chiếm 1/3 các hoạt động công nghiệp
mặc dù năm 1999 chỉ tăng ở mức 4,9%. MEF dự kiến lĩnh vực này sẽ tăng 12% trong những năm tới. Tuy
nhiên số dự án được phê chuẩn cho năm 2001 giảm 5% so với năm 2000. Việc nhập khẩu xi măng trong
11 tháng đầu năm 2001 tăng 8% so với cùng kỳ năm 2000, sắt nhập khẩu giảm 8%, điều này phản ánh
khả năng yếu kém của Chính phủ trong việc thu thập thông tin thị trường. Xi măng chiếm 90% giá trị vật
liệu xây dựng nhập khẩu năm 2001. Tuy nhiên những dự án về xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng văn
phòng, nhà ở và khôi phục lại công trình cũng cần cho phát triển lĩnh vực này.
Quan hệ thương mại Campuchia - Việt Nam
Trước năm 1999 hàng Việt Nam chiếm khoảng 4-10% thị phần Campuchia, hiện nay có nhiều doanh
nghiệp Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường Campuchia. Theo đánh giá của Tổng Lãnh sự quán
Campuchia thị phần hàng Việt Nam đã chiếm từ 45-50%. Hàng và sản phẩm dịch vụ của Việt Nam càng
ngày càng phong phú và đa dạng như hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, xây dựng hạ tầng, năng lượng,
điện và điện tử .v.v.
Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam với Campuchia