MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xu thế hội nhập và phát triển đòi hỏi Giáo dục và Đào tạo phải
đổi mới để đào tạo nên những người lao động có tư duy sáng tạo, có khả
năng giải quyết các vấn đề trong xã hội; mà muốn có tư duy sáng tạo thì
phải rèn luyện cho học sinh biết tư duy, suy luận một cách logic. Như vậy
việc bồi dưỡng và rèn luyện tư duy logic cho học sinh là một nhiệm vụ quan
trọng của nhà trường phổ thông.
1.2. Rèn luyện tư duy logic cho học sinh là một nhiệm vụ lâu dài,
không thể thực hiện trong chốc lát. Vì vậy ngay từ khi mới cắp sách đến
trường, nhà trường phải có nhiều biện pháp để từng bước rèn luyện tư duy
logic cho các em.
Môn Toán được coi là môn học công cô để rèn luyện cho học sinh có
các phẩm chất của người lao động mới. Dạy học Toán nói chung và dạy học
các Yếu tố hình học trong nhà trường tiểu học nói riêng có ý nghĩa rất to lớn
đối với sự hình thành và phát triển tư duy logic cho học sinh.
1.3. Thực tế hiện nay đã có rất nhiều nhà giáo, nhà nghiên cứu với
nhiều công trình nghiên cứu về tư duy nói chung và tư duy logic nói riêng.
Tất cả đều khẳng định sự cần thiết phải phát triển tư duy logic cho học sinh.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu riêng về tư
duy logic và bước đầu rèn luyện tư duy logic cho học sinh thông qua việc sử
dụng hệ thống bài tập có nội dung hình học.
1.4. Mặt khác, thực tế giảng dạy Toán nói chung và dạy học các Yếu
tè hình học nói riêng ở các trường tiểu học hiện nay cho thấy việc rèn luyện
tư duy logic cho học sinh còn chưa được định hướng rõ ràng và cụ thể.
Đứng trước thực trạng đó và xuất phát từ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của
việc rèn tư duy cho học sinh nói chung và tư duy logic cho học sinh tiểu học
nói riêng, chúng tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Xây dựng và sử dụng
1
hệ thống bài tập có nội dung hình học để bước đầu rèn luyện tư duy logic
cho học sinh líp 5”
việc sử dụng hệ thống bài tập có nội dung hình học.
5. Khách thể nghiên cứu
Quá trình rèn luyện tư duy logic cho học sinh líp 5 qua dạy học các bài
tập có nội dung hình học ở các trường tiểu học.
6. Đối tượng nghiên cứu
Tư duy logic của học sinh tiểu học trong dạy học toán có nội dung
hình học ở líp 5.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập có nội dung hình học phù hợp
đồng thời vận dụng được các bài tập đó một cách hợp lý thì bước đầu góp
phần rèn luyện tư duy logic cho học sinh tiểu học và góp phần nâng cao
hiệu quả dạy học toán ở líp 5
8. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp:
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, quan sát, thực tập sư phạm,
tổng kết, rút kinh nghiệm
9. Những đóng góp mới của đề tài
- Đề tài đã xây dựng được hệ thống bài tập (gồm 130 bài) có nội dung
Hình học để bước đầu rèn luyện tư duy logic cho học sinh líp 5;
- Đề tài đã góp phần bổ sung thêm một giải pháp bước đầu rèn luyện
tư duy logic cho học sinh thông qua việc sử dụng hệ thống bài tập trong dạy
học toán ở Tiểu học.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục,
phần nội dung của luận văn gồm có 3 chương.
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
3
Chương II: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập có nội dung
hình học để bước đầu rèn luyện tư duy logic cho học sinh líp 5
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
thức tự học tập, tự phấn đấu, tự rèn luyện, tự vươn lên.
1.1.1.4. Phân loại trình độ tư duy
Có nhiều cách phân loại trình độ tư duy nhưng theo đa số các nhà
nghiên cứu thì trình độ tư duy được phân làm 3 mức độ như sau:
- Thứ nhất là tư duy trực quan - hành động
- Thứ hai là tư duy trực quan - hình ảnh
- Thứ ba là tư duy trừu tượng
Khi xét đặc trưng của tư duy, các nhà tâm lí cho rằng tư duy trừu
tượng gồm 3 thành phần: tư duy phân tích; tư duy logic; tư duy lược đồ
không gian.
1.1.2. Một số vấn đề về tư duy logic
1.1.2.1. Khái niệm
Theo quan điểm của B.A.Ozahecrh thì Tư duy logic là loại tư duy
trong đó yêu cầu chủ thể phải có kỹ năng rót ra các hệ quả từ những tiền đề
cho trước; kỹ năng phân chia những trường hợp riêng biệt và hợp chúng
lại; kỹ năng dự đoán kết quả cụ thể bằng lý thuyết, kỹ năng tổng quát
những kết quả đã thu được
1.1.2.2. Đặc điểm tư duy logic của học sinh tiểu học
Học sinh tiểu học nhất là các líp đầu cấp, thường phán đoán theo cảm
tính riêng của mình nên suy luận thường mang tính chất đơn giản. Khi suy
luận, luận cứ logic của các em còn gắn nhiều với thực tế sống, với quan sát
thực nghiệm. Các em khó chấp nhận các giả thiết có tính chất hoàn toàn giả
định hoặc các dữ kiện mà các em không tin là có thực mặc dù đó là kết quả
5
của một suy luận đúng. Các em còng khó khăn trong việc phân tích các
thuật ngữ hay mệnh đề toán học. Vì vậy ở các líp đầu cấp đôi khi lại thấy
trường hợp học sinh giải bài tập đi đến kết quả đúng nhưng lại không thể
nói lại là mình đã giải như thế nào. Ở giai đoạn cuối tiểu học, học sinh mới
dần dần ý thức được về thao tác nhận thức đưa đến kết quả chứ không phải
chỉ dừng lại ở việc phát hiện kết quả.
Có hai kiểu suy luận thường gặp trong toán học là: suy luận diễn dịch
và suy luận nghe có lý.
Trong toán học, suy luận nghe có lý lại được phân chia thành hai loại:
suy luận quy nạp và suy luận tương tự.
Trong suy luận quy nạp, người ta lại phân chia thành hai loại: quy nạp
hoàn toàn và quy nạp không hoàn toàn.
1.1.4. Vị trí, chức năng của bài tập toán
Bài tập toán có vị trí quan trọng. Nó là phương tiện rất có hiệu quả để
giúp học sinh nắm vững tri thức, phát triển tư duy, hình thành kỹ năng, kỹ
xảo và ứng dụng toán học vào thực tiễn.
Bài tập toán có những chức năng sau :
- Chức năng dạy học: hình thành, củng cố cho học sinh những tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo khác nhau của quá trình dạy học.
- Chức năng phát triển: phát triển năng lực tư duy của học sinh đặc
biệt là rèn luyện những thao tác trí tuệ, hình thành khả năng tư duy toán học.
- Chức năng kiểm tra: đánh giá quá trình dạy - học của giáo viên và
học sinh; đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức và trình độ phát triển tư duy
của học sinh.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Một số hạn chế của học sinh khi học các Yếu tố hình học ở líp 5
- Các biểu tượng hình học trong học sinh còn không được rõ ràng và vững
chắc. Chẳng hạn như khái niệm về hình tròn và đường tròn.
7
- Khi mô tả một hình, học sinh thường không mô tả đầy đủ các dấu hiệu đặc
trưng của một hình, có khi mô tả thừa, cũng có khi mô tả thiếu các dấu hiệu.
- Việc nhận dạng các đối tượng hình học của học sinh đôi khi còn thiếu
hoặc không đúng.
- Có nhiều học sinh còn sai lầm khi thực hiện vẽ hình
- Nhiều học sinh sai khi biểu diễn các hình không gian
- Sai do không hình dung các yếu tố không gian mà lệ thuộc vào trực giác
sinh như sau:
- Mét số không Ýt giáo viên tiểu học còn non yếu về kiến thức hình
học.
- Chưa chó ý đúng mức đến việc khắc sâu các biểu tượng hình học cơ
bản cho học sinh dẫn đến học sinh chưa hiểu được đầy đủ, rõ ràng về các
nội dung hình học.
- Chưa có một hệ thống bài tập đầy đủ, thường xuyên để học sinh
được rèn luyện tư duy logic, các thao tác tư duy, trí tưởng tưởng không
gian.
- Giáo viên đưa ra quá nhiều bài tập đòi hỏi tính toán theo công thức
mà Ýt khi đưa ra những bài tập đòi hỏi phải suy luận.
- Mét số giáo viên còn chưa biết khai thác các nội dung dạy học hình
học để có thể xây dựng bài tập và rèn luyện tư duy logic cho học sinh.
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của việc rèn luyện tư duy logic
cho học sinh tiểu học; xuất phát từ vị trí, ý nghĩa của bài tập toán học và giải
bài tập toán trong việc bồi dưỡng, rèn luyện tư duy logic cho học sinh; đồng
thời trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết những ưu điểm và hạn chế của thực
trạng rèn luyện tư duy logic cho học sinh hiện nay, chúng tôi đã xây dựng
và đề xuất biện pháp sử dụng hệ thống bài tập có nội dung Hình học nhằm
bước đầu rèn luyện tư duy logic cho học sinh líp 5.
CHƯƠNG 2
9
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG
HÌNH HỌC ĐỂ BƯỚC ĐẦU RÈN LUYỆN TƯ DUY LOGIC CHO
HỌC SINH LÍP 5
2.1. Những căn cứ để xây dựng bài tập rèn luyện tư duy logic cho học
sinh líp 5
2.1.1. Căn cứ vào mục tiêu dạy học
2.1.2. Căn cứ vào đặc điểm toán học
2.1.3. Căn cứ vào yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
vuông, … vẫn được trình bày dưới dạng sơ giản nhất (mô tả) để các em
bước đầu có những vốn hiểu biết về các khái niệm toán học và tiếp tục học
ở những bậc học cao hơn.
- Loại bài tập loại này có tác dụng củng cố khái niệm; các quy tắc toán
học. Qua việc nhận biết và thể hiện các khái niệm, các quy tắc tính toán các
em có thể tích luỹ được những kiến thức ban đầu, những kiến thức nền tảng.
Đó là cơ sở đầu tiên và là cơ sở rất quan trọng để thực hiện các phép suy
luận toán học.
a. Dạng 1: Bài tập vẽ hình
Ví dô: Vẽ và tìm tất cả các tam giác được tạo thành từ một điểm ngoài
đường thẳng và 4 điểm trên đường thẳng.
b. Dạng 2: Bài tập nhận dạng hình
Ví dô: Trong các hình vẽ sau, hình vẽ nào thể hiện chính xác đường
cao của tam giác
c. Dạng 3: Bài tập xếp hình
11
H×nh A
H×nh B H×nh C
Ví dô: Với 10 hình lập phương cạnh 1cm em có thể xếp được bao
nhiêu hình hộp chữ nhật có kích thước khác nhau ?
2.4.1.2. Bài tập có nhiều cách giải
- Loại bài tập này có nhiều đối tượng, quan hệ có thể khai thác theo nhiều
khía cạnh khác nhau. Trên cơ sở đó người giải có thể đưa ra nhiều giải pháp
khác nhau để giải quyết yêu cầu của bài toán.
- Tác dụng: bồi dưỡng cho học sinh năng lực xem xét một đối tượng hay
mét quan hệ toán học dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Đồng thời thông qua
việc giải bài tập loại này cũng hình thành cho các em quan điểm biện chứng
khi xem xét, phân tích một sự vật, hiện tượng, một đối tượng toán học.
a. Dạng 1: Bài tập vẽ hình
Ví dô: Cho một hình thang vuông có đáy lớn bằng 3 m, đáy nhỏ và
minh nên khi giải đòi hỏi học sinh phải thông qua dự đoán để phát hiện ra
yêu cầu của bài toán hay nói chính xác là điều cần phải làm sáng tỏ.
- Những bài tập loại này đặt học sinh trước một tình huống có vấn đề làm
cho học sinh có nhu cầu, hứng thó huy động kiến thức, kỹ năng để tìm tòi
phát hiện và rót ra kết luận của bài tập. Những bài tập này có tác dụng làm
cho học sinh phát huy trí tưởng tượng và linh hoạt trong cách giải quyết vấn
đề, đồng thời giúp học sinh phát hiện và chứng minh những giả thuyết có
thể xảy ra.
a. Dạng 1: Bài tập vẽ hình
Ví dô: Cho một đường tròn.
Hãy lấy 6 điểm trên một đường tròn, nối các điểm đó bởi các đoạn
thẳng tô bởi mực xanh hoặc mực đỏ. Bằng cách vẽ đó có tồn tại hay không
1 tam giác mà 3 cạnh cùng được vẽ bởi một màu mực?
b. Dạng 2: Bài tập cắt ghép hình
13
Ví dô: Cho miếng bìa hình tam giác có diện tích là 185,4 cm
2
. Chỉ cắt
bởi một nhát kéo thẳng bạn có thể được một tấm bìa hình tứ giác có diện
tích là 164,8 cm
2
được không?
c. Dạng 3: Bài tập nhận dạng hình
Ví dô: Cho tam giác ABC. Hai điểm D và E lần lượt là các trung điểm
của các cạnh BC và AC. Đoạn AD và BE cắt nhau tại G. Nối C với G . Có
thể
tìm thấy trong bài 2 cặp tam giác mà mỗi cặp có diện tích gấp nhau hai lần
không?
d. Dạng 4: Bài tập xếp hình
cm. Bạn có thể cắt ra và ghép lại để được:
a. Mét hình vuông
b. Mét hình chữ nhật có chiều dài gấp đôi chiều rộng
c. Dạng 3: Bài tập nhận dạng hình
Ví dô: Cho hình vẽ bên:
Em hãy cho biết hình đó có bao nhiêu:
a. Hình tam giác
b. Hình tứ giác
d. Dạng 4: Bài tập xếp hình
Ví dô: Có 3 loại que với số lượng và độ dài các que nh sau:
16 que có độ dài 1 cm; 20 que có độ dài 2 cm; 25 que có độ dài 3 cm. Hái
a. Có thể xếp tất cả các que đó thành mét hình chữ nhật được không?
b. Có thể xếp tất cả các que đó thành mét hình vuông được không?
e. Dạng 5: Bài tập có liên quan đến chu vi, diện tích và thể tích các hình
hình học
Ví dô: Cho hình chữ nhật ABCD. Trên cạnh AB lấy hai điểm M, N
sao cho AM = MN = NB. Hãy chứng tỏ:
a. S. AMCD = S. NBCD
b. S. ANCD = S. MBCD
2.4.1.5. Bài tập có các yếu tố logic
15
A M N B
CD
- Nội dung: các đối tượng và quan hệ của bài tập liên quan chặt chẽ với các
yếu tố logic; khi giải toán đòi hỏi người giải phải có kiến thức nhất định về
logic học. Đây là dạng bài tập phát triển tư duy logic cho học sinh gắn liền
với phát triển ngôn ngữ toán học. Thông qua những bài tập toán có thể rèn
luyện cho học sinh hiểu đúng và biết vận dụng các thuật ngữ toán học, các
từ nối, các ký hiệu toán học. Nhờ đó mà học sinh có thể trình bày bài giải
bác bỏ vấn đề này mà học sinh nắm được bản chất của vấn đề và hình thành
thãi quen dùng cơ sở kiến thức để bảo vệ ý kiến, để khẳng định những vấn
đề đúng và bác bỏ những vấn đề sai.
Ví dô: Léc nhận xét như sau: tất cả các hình như : hình vuông, hình
chữ nhật, hình bình hành, hình thang đều là những hình tứ giác.
Theo em, Léc nhận xét như vậy có đúng không ? Tại sao ?
2.4.2.3. Bài tập suy luận logic
- Các bài toán suy luận logic là các bài toán khi giải không cần tính toán
cồng kềnh mà đòi hỏi người giải phải biết vận dụng những tri thức đã có để
suy diễn, lập luận đưa đến kết luận cần tìm.
- Các bài toán suy luận logic có tác dụng bồi dưỡng năng lực phân tích các
yếu tố đã cho trong bài toán. Điều quan trọng nhất là phải chú ý đến những
chi tiết trong giả thiết để từ đó có những giải pháp nhanh nhạy, thông minh.
Do vậy, cùng là một bài tập nhưng nếu chú ý khai thác các chi tiết nhỏ nhất,
gây bất ngờ nhất, người giải sẽ tìm ra được cách giải nhanh nhất và thông
minh nhất.
a. Dạng 1: Bài tập vẽ hình
Ví dô: Cho hình tam giác ABC. Trên AB lấy điểm M sao cho AM bằng
AB. Nối CM ta được hình tam giác CAM. Hãy tìm điểm N trên cạnh AC
sao cho diện tích hình tam giác NBC bằng diện tích hình tam giác CAM.
17
b. Dạng 2: Bài tập cắt ghép hình
Ví dô: Minh và Hà dùng những mảnh bìa hình vuông có độ dài cạnh
là 1 cm để ghép thành hình vuông. Biết rằng hình vuông của Minh ghép
nhiều hơn hình vuông của Hà là 20 mảnh. Nếu dùng tất cả các mảnh đã
ghép để cùng ghép thành một hình chữ nhật thì Minh và Hà sẽ có một hình
chữ nhật có chiều dài và chiều rộng là bao nhiêu ?
c. Dạng 3: Bài tập nhận dạng hình
Ví dô: a. Trên các hình sau, mỗi hình có bao nhiêu hình tam giác ?
d. Dạng 4: Bài tập xếp hình
bản chất. Từ đó giúp các em bước đầu rèn luyện thao tác khái quát hóa.
2.4.3.1. Dạng 1: Bài tập vẽ hình
Ví dô:
1. Từ 1 điểm ngoài đường thẳng và 3 điểm trên đường thẳng ta vẽ được bao
nhiêu hình tam giác?
2. Từ 1 điểm ngoài đường thẳng và 4 điểm trên đường thẳng ta vẽ được bao
nhiêu hình tam giác?
3. Từ 1 điểm ngoài đường thẳng và 5 điểm trên đường thẳng ta vẽ được bao
nhiêu hình tam giác?
4. Từ 1 điểm ngoài đường thẳng và n điểm trên đường thẳng ta vẽ được bao
nhiêu hình tam giác?
2.4.3.2. Dạng 2: Bài tập nhận dạng hình
Ví dô: Hoa vẽ một hình tam giác. Sau đó qua các đỉnh của tam giác đó
Hoa kẻ 3 đoạn thẳng chúng cắt nhau tạo thành tam giác mới. Qua các đỉnh
của tam giác mới Hoa lại kẻ 3 đoạn thẳng và cứ tiếp tục làm như thế. Sau
một số lần vẽ không rõ là bao nhiêu lần, Hoa đếm được tất cả có 196 hình
tam giác. Hỏi Hoa đếm đúng hay sai ?
2.4.3.3. Dạng 3: Bài tập xếp hình
Ví dô: Hoa có một số tam giác có 3 cạnh bằng nhau với hai màu:
trắng và xám, với chiều dài cạnh là 1 cm. 3 tam giác xám và 1 tam giác
trắng có thể được xếp thành 1 tam giác đều cạnh 2 cm. 6 tam giác xám và 3
tam giác trắng có thể xếp thành một tam giác đều có cạnh là 3 cm.
19
a. Cần bao nhiêu tam giác màu xám và bao nhiêu tam giác màu trắng để
xếp tam giác đều có cạnh 6 cm?
b. Nếu muốn xếp một cách tương tự như vậy để tạo nên tam giác đều có
cạnh 10 cm thì cần bao nhiêu tam giác màu xám và bao nhiêu tam giác
màu trắng?
c. Nếu muốn xếp tam giác đều cạnh 20 cm thì cần bao nhiêu tam giác
màu trắng?
- Sau đó thực hiện vẽ hình (điểm, đoạn thẳng,...) và đối chiếu với các yêu
cầu của bài tập.
2.5.2.2. Phương pháp giải các bài tập cắt ghép hình
- Bước 1: xác định hình cần cắt có diện tích là bao nhiêu (gồm bao nhiêu ô
vuông)
- Bước 2: tìm và xác định hình dạng (cạnh, góc) hình cần ghép (dùa vào
nguyên tắc diện tích của hình mới bằng diện tích của hình cho trước)
- Bước 3: Chia và ghép hình thích hợp theo yêu cầu của đầu bài
- Bước 4: Kiểm tra các yêu cầu của bài toán xem có phù hợp hay không
2.5.2.3. Phương pháp giải các bài tập nhận dạng hình
- Bước 1: tính số hình có được theo yêu cầu của đề toán ở trường hợp đơn
giản
- Bước 2: chỉ ra quy luật đếm số hình (thường là dùa vào quy luật của dãy
số). Từ đó đề xuất cách đếm số các hình của hình đó.
- Bước 3: đối chiếu với yêu cầu của bài.
2.5.2.4. Phương pháp giải các bài tập xếp hình
- Bước 1: Xác định hình cần xếp là hình gì? Có đặc điểm như thế nào?
- Bước 2: Tìm mối liên hệ giữa số lượng các que/ hình, đặc điểm các que/
hình với hình cần xếp được.
- Bước 3: Ghép và kiểm tra lại theo yêu cầu của bài
21
2.5.2.5. Phương pháp giải các bài tập có liên quan đến chu vi diện tích thể
tích các hình hình học
a. Bước 1: đọc kỹ đề bài
b. Bước 2: tóm tắt đề toán bằng các sơ đồ, hình vẽ hoặc các kỹ hiệu, ngôn
ngữ ngắn gọn: bước này giúp ta nắm vững các điều kiện đầu bài đã cho,
mối liên hệ giữa chúng và điều đầu bài yêu cầu ta thưc hiện.
c. Bước 3: suy nghĩ tìm cách giải
d. Bước 4: Giải bài toán. Bước này thực hành ngược chiều với các bước ở
trên.
- Trc khi ging dy thc nghim, chỳng tụi cho hc sinh lm bi kim tra
số 1.
- Sau ú ging dy thc nghim trờn 3 tit:
+ Tit 90: Hỡnh thang
+ Tit 91: Din tớch hỡnh thang
+ Tit 92: Luyn tp
- Cui cựng chỳng tụi cho hc sinh lm bi kim tra số 2.
3.2.2. Kt qu thc nghim
3.2.2.1. Cỏc bỡnh din ỏnh giỏ
- ỏnh giỏ v mt nh tớnh, bao gm:
+ K nng rút ra cỏc h qu t nhng tin cho trc;
+ K nng phõn chia nhng trng hp riờng bit v hp chỳng li;
+ K nng d oỏn kt qu c th bng lý thuyt;
+ K nng tng quỏt nhng kt qu ó thu c. + Kỹ năng tổng quát
những kết quả đã thu đợc.
- ỏnh giỏ v mt nh lng, bao gm:
Kt qu lm bi kim tra ca hc sinh thc nghim v hc sinh i
chng c chỳng tụi chia lm 4 mc nh sau:
- Mc 1: Gii (Bi lm t t 9 n 10)
23
- Mức 2: Khá (Bài làm đạt từ 7 đến 8)
- Mức 3: Trung bình (Bài làm đạt từ 5 đến 6)
- Mức 4: Yếu (Bài làm đạt từ 1 đến 4)
3.2.2.2. Thống kê kết quả thực nghiệm
3.2.2.3. Nhận xét về kết quả thực nghiệm sư phạm
Trên cơ sở những kết quả đã thu được, chúng tôi rót ra kết luận nh sau:
- Hệ thống bài tập rèn luyện tư duy logic cho học sinh líp 5 thông qua
dạy học các Yếu tố hình học mà chúng tôi đề xuất để dạy cho học sinh thực
nghiệm là hoàn toàn hiệu quả và có tính khả thi. Nh vậy có thể sử dụng rộng
rãi trong việc rèn luyện tư duy logic cho học sinh tiểu học.
Giả thuyết của luận văn là chấp nhận được và các nhiệm vụ của luận
văn đề ra đã được hoàn thành.
Những nội dung đã trình bày trong luận văn có thể là tài liệu tham
khảo cho giáo viên các trường tiểu học và sinh viên khoa tiểu học các
trường Cao đẳng và Đại học trong cả nước.
Vấn đề rèn luyện tư duy logic cho học sinh là một vấn đề lâu dài
thông qua dạy học nhiều nội dung toán học nói riêng và nhiều môn khoa
học nói chung. Trên đây chỉ là một trong những giải pháp bước đầu rèn
luyện tư duy logic cho học sinh và cũng chỉ giới hạn ở dạy học các Yếu tố
hình học ở líp 5.
25