Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thuế quan Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA” - Pdf 95

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THUẾ QUAN VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP AFTA
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS. Bùi Xuân Lưu
Sinh viên thực hiện: Đặng Việt Anh
Lớp: A2 - CN9

Hà nội - 2003 LỜI NÓI ĐẦU


được tác động của nó đến quá trình sản xuất kinh doanh của mình, hay nói cách
khác là chưa thực sự cảm nhận được những cơ hội cũng như thách thức sẽ phải đối
mặt khi Việt nam thực hiện đầy đủ cam kết cắt giảm thuế quan.
Xin trích lời nhận xét của ông Trần Xuân Thắng, Tổng cục trưởng Tổng cụ
c thuế:
"Về mặt tổ chức và triển khai thực hiện CEPT của Việt Nam thời gian qua có thể
3
nói rằng việc hợp tác thực hiện chưa được hiệu quả, cũn mang tớnh bị động, đối
phó Cho đến nay mới chỉ có các cơ quan cấp Bộ, ngành tham gia vào các lĩnh
vực liên quan đến AFTA, cũn cỏc doanh nghiệp hầu như vẫn đứng ngoài cuộc".
Bên cạnh đó, "để thực hiện cam kết cắt giảm thuế quan của Việt Nam bắt đầu từ
năm 1998, thỡ th
ời gian cũn lại cho cỏc doang nghiệp Việt Nam đổi mới công
nghệ, làm quen dần với môi trường cạnh tranh là quá ngắn ngủi". Trên thực tế
các Doanh nghiệp chưa được cập nhật thông tin từ các Bộ, Nghành tham gia vào
quá trình thực hiện cam kết, đặc biệt là các Doanh nghiệp làm Ngoại thương. Một
cơ hội cho việc mở rộng hợp tác kinh tế của Việt Nam trong khu vực, đồng thời
cũng là một thách thứ
c lớn đối với Việt Nam trong chiến lược phát triển của
ASEAN “ Tầm nhìn ASEAN”, điểm quan trọng là mục tiêu tiến tới khu vực mậu
dịch tự do ASEAN. Ý thức được tình hình cấp thiết trên, tác giả quyết định chọn
vấn đề “ Thuế quan Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA” làm đề tài cho
Khoá luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục đích của Khoá luận

Mục đích củ
a khoá luận là nghiên cứu có hệ thống tình hình thực hiện cam kết cắt
giảm thuế trong khuôn khổ Hiệp định CEPT của Việt nam và những tác động của
việc thực hiện cam kết này đến các Doanh nghiệp làm kinh doanh Xuất nhập khẩu

AFTA
MỤC LỤC
5

Lời nói đầu

CHƯƠNG I
SỰ HÌNH THÀNH KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO
ASEAN
AFTA
1
1.1. Khái quát chung về hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)
1
1.1.1. Sự ra đời của
ASEAN 1
1.1.2. Chức năng và nguyên tắc hoạt động của
ASEAN 4
1.1.3. Cơ cấu tổ chức hợp tác kinh tế của ASEAN
5
1.1.4. Kế hoạch và triển vọng phát triển hợp tác
ASEAN 8
1.2. Toàn cầu hoá và sự ra đời của AFTA
9
1.2.1.

1.4.1. Tiế
n trình thực hiện AFTA của các nước
ASEAN 25
1.4.2. Tiến trình thực hiện AFTA của Việt Nam cho đến
nay 26
1.4.3. Lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể giai đoạn 2001-2006 để thực hiện
AFTA
của Việt Nam
28
7
1.4.4. Cải cách về thuế quan của Việt
Nam 30
1.4.5. Việc thực hiện cam kết cắt giảm thuế của Việt Nam trong giai đoạn từ 1995 -
2003 3
3
1.5. Những thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội
nhập
AFTA 3
5
1.5.1. Những thuận
lợi 39
1.5.2. Những khó
khăn 47
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CAM KẾT
CẮT GẢM THUẾ QUAN TẠI VIỆT
NAM 52
1.6. Một số quan điểm và định hướng của Việt Nam trong hợp tác và hội nhập
với
ASEAN

1.7.2. Về phía doanh
nghiệp 70
1.7.2.1. Những việc cỏc doanh nghiệp cần làm trong tiến trỡnh thực
hiện 70
1.7.2.2. M
ột số giải phỏp cho quỏ trỡnh tổ chức thực
hiện 72
1.7.2.3. Một số giải phỏp cho quỏ trỡnh tổ chức thực
hiện 74
9

Kết luận
Phụ Lục
Tài Liệu tham khảo


đồng hũa bỡnh và thịnh vượng của các nước Đông Nam Á”Cũng theo tuyên bố này, cơ quan hoạch định chính sách cao nhất của ASEAN là
Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN. Hội nghị này được tiến hành ít
nhất 1 năm 1 lần, ở đó những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến hoạt động của
Hiệp hội được bàn đến, kể cả việc tiếp nhận hay kết nạp các thành viên mới. Trong
quá trình hoạt động cơ cấu tổ
chức cũng như chức năng hoạt động được dần dần
hoàn thiện.

Năm nước Đong Nam Á - thành viên sáng lập ra ASEAN là những nước mới giành
được độc lập dân tộc từ ách thống trị của thực dân phương Tây, và phát triển theo
con đường tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, sự sáng lập ra ASEAN vào năm 1967 thúc đẩy
hợp tác kinh tế giữa các nước với nhau, đồng thời tạo ra sứ
c mạnh tập thể để có thể
chống lại sự kỳ thị trong thương mại quốc tế ( vì lúc đó trên thế giói đã hình thành
11
các tổ chức thương mại khép kín, ví dụ như “thị trường chung Châu âu” hay “khu
vực tự do buôn bán”).

Về mặt khách quan, sự kiện này chứng tỏ sự thay đổi về chất của quá trình chuyển
đổi của các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, từ chỗ là mục tiêu, đối tượng phân
biệt của chủ nghĩa đế quốc trở thành chr thể của các mối quan hệ quốc tế
. Mặc dù
những mục tiêu, nhiệm vụ đưa ra trong Tuyên bố Băng Cốc còn mập mờ, các điều
mục chưa được cụ thể hoá, cơ cấu tổ chức còn lỏng lẻo, thiếu rõ ràng, nguyên tắc
hoạt động còn chung chung, nhưng sự ra đời của ASEAN đã đặt nền móng thể chế
– pháp lý cho sự hình thành và triển khai các cơ chế hợp tác cũng như mở rộng kết
nạ

(triệu
người)
(triệu
USD)
Brunõy
Campuchia
Inđôxia
Lào
Malaixia
Mianma
Philipin
Thỏi Lan
Singapo
Việt Nam
5.765
181.000
1.919.400
236.000
329.749
676.552
300.000
514.000
618
329.566
0,3144
10,91
199,87
4,83
21,70
46,40

25.228,0
57.624,4
124.991,9
9.185,0
1.877,38
1.039,6
41.664,0
706,0
78.558,1
1.817,2
38.581,0
61.361,6
132.393,9
11.792,0
Tổng số 4.492.650 497,77 353.434,38 369.790,78 1.8.2. Chức năng và nguyên tắc hoạt động của ASEAN

Với chức năng, ASEAN được thiết lập nhằm thúc đẩy sự hợp tác mang tính toàn
diện, sâu sắc trên mọi lĩnh vực chính trị, ngoại giao, an ninh, văn hóa - xó hội, khoa
học kỹ thuật và phát triển kinh tế của mười nước thành viên. Điều đó tạo ra đặc thù
của liên kết khu vực này so với các tổ chức kinh tế quốc tế
như WTO, APEC,
ASEM, cũng như so với nhiều liên kết quốc tế khác trên thế giới hiện nay. Tuy
nhiên, các hoạt động hợp tác kinh tế - thương mại trong ASEAN với các chương
trỡnh hợp tỏc lớn vẫn là nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong các hoạt động

i và nhất trí tuyệt đối.
 Nguyờn tắc bỡnh đẳng (equality): thể hiện trên hai mặt, thứ nhất là các nước
ASEAN không kể lớn nhỏ hay giàu nghèo đều bỡnh đẳng với nhau trong nghĩa
14
vụ đóng góp cũng như chia sẻ quyền lợi; thứ hai, hoạt động của tổ chức ASEAN
được duy trỡ trờn cơ sở luân phiên cho các nước thành viên theo vần A, B, C.
 Nguyờn tắc 6 - X: được thỏa thuận tháng 2/1992, theo nguyên tắc này, một dự
án hoặc kế hoạch chung của ASEAN nếu từ hai nước trở lên chấp nhận thực
hiện thỡ cứ tiến hành trước dự án chứ không
đợi tất cả các nước thành viên khác
thực hiện mới tiến hành
 Ngoài ra trong quan hệ giữa các nước ASEAN cũn cú một số nguyờn tắc, tuy
khụng thành văn, song được mọi người tôn trọng và áp dụng như: nguyên tắc có
đi có lại, thân thiện không đối đầu, không tuyên truyền tố cáo nhau qua các báo
chí, giữ gỡn đoàn kết ASEAN và giữ bản sắc chung của Hiệp hội

1.8.3. Cơ cấu tổ chức h
ợp tác kinh tế của ASEAN

Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Ministers - AEM): là cơ
cấu điều hành và hoạch định hợp tác cáo nhất trên lĩnh vực kinh tế của ASEAN.
AEM họp chính thức mỗi năm một lần, nhưng AEM có thể họp không chính thức
khi cần thiết nhằm chỉ đạo các mặt hợp tác kinh tế trong ASEAN. AEM có trách
nhiệm báo cáo công việc lên cho những người đứng đầu chính phủ các nước
ASEAN tạ
i các Hội nghị Cấp cao. Được sự phân công của Chính phủ, Bộ trưởng
Thương mại Việt Nam tham dự các AEM.
Hội đồng AFTA (Khu vực Mậu dịch Tự do - ASEAN Free Trade Area): được
thành lập theo quyết định của Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ tư ngày
28/1/1992 tại Singapore để theo dõi, phối hợp và báo cáo việc thực hiện Chương

mại - đầu tư trong khối như: Hội nghị thượng đỉnh ASEAN (ASEAN Summit), Hội
nghị Bộ
trưởng chuyên ngành, Tổng thư ký và Ban thư ký ASEAN, Các cơ chế hợp
tác với các nước thứ ba

16
Sơ đồ : Cơ cấu thể chế hợp tác kinh tế ASEAN

1.8.4. Kế hoạch và triển vọng phát triển hợp tác ASEAN

Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN không chính thức lần thứ hai ngày 15/12/1997,
một kế hoạch tổng quát cho hợp tác ASEAN đến năm 2020 đã được đưa ra, kế

 Tăng cường và mở rộng hợp tác tiểu vùng ở các khu vực tăng trưởng tiểu vùng
hiện có và thiết lập những khu vực tăng trưởng tiểu vùng mới;
 Tiếp tục củng cố và mở rộng thêm các mối liên kết ktté khu vực ngoài ASEAN;
 Hợp tác, tăng cường hệ thống thương mại đa phương;

Tăng cường vai trò của giới doanh nghiệp, coi đó là động lực của phát triển.

Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ sáu được tổ chức vào tháng 12 năm
1998 tại hà Nội, các nguyên thủ quốc gia đã thông qua một kế hoạch hành động,
được lấy tên là “Kế hoạch hành động Hà Nội” hay còn gọi là “Tuyên bố Hà Nội”.
Đây là kế hoạch đầu tiên để thực hiện mục tiêu của “Vi
ễn cảnh ASEAN 2020” với
khung thời gian là sáu năm, từ năm 1999 đến năm 2004. Tiến trình thực hiện được
xem xét ba năm một lần tại các Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN. Có thể đánh giá
việc thông qua Kế hoạch hành động Hà Nội là một bước tiến mới trong quan hệ
hợp tác của ASEAN, lần đầu tiên, một kế hoạch hành động toàn diện, sâu sắc và có
tính cam kết cáo giữa các nước đã được thông qua.

1.9. TOÀN CẦU HOÁ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA AFTA

1.9.1. Khái quát về toàn cầu hóa
18

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tiến trình hội nhập kinh tế thế giới được tăng
lên mạnh mễ bởi tác động của các quy tắc hay thể chế quốc tế mới như Ngân Hàng
Thế Giới (WTO), Quỹ tiền tên quốc tế, Thoả thuận chung về thuế quan và thuế
mậu dịch (GATT) v.v. Việc xây dựng một hệ thống thương mại quốc tế d
ựa trên
quy tắc, việc tăng cường hội nhập các thị trường tài chính và phát triển của các thể
chế mới được xúc tiến mạnh từ những năm 70 –80 của thế kỷ XX đã bước đầu tạo

thức và những tiến bộ của công nghệ thông tin

Hai là, (định nghĩa của Mikhain Simai): Toàn cầu hoá là sự tổng hợ
p các quá trình
và hiện tượng như luân chuyển hàng hoá, dịch vụ, tư bản, công nghệ thông tin qua
biên giới, di chuyển người giữa các nước, hướng ưu thế trên thị trường thương mại
và đầu tư quốc tế, sự liên kết thị trường về lãnh thổ và chế độ, đồng thời là sự xuất
hiện những vấn đề mang tính toàn cầu như chỉ bất bình đẳng về thu nhập, t
ăng
trưởng dân số quá mức mà chỉ có hợp tác toàn thế giới mới giải quyết được.

Mặc dù có nhiều cách lý giải khác nhau về toàn cầu hoá, nhưng mọi người khắp nơi
trên thế giới đều dần dần hiểu được nội dung và ý nghĩa cơ bản về nó. Đó là quá
trình thế giới tiến đến một ngôi làng chung mà ở đó các đường biên giới quốc gia
trở nên mờ nhạt và n
ảy sinh nhu cầu phải có một sự quản lý chung trên phạm vi
toàn cầu. Quá trình nay đang nằm ở giai đoạn đầu, đang được tăng tốc, giúp sức
của công nghệ thông tin, đặc biệt là Internet, và các biến thể của quá trình này là
hết sức phức tạp, luôn có tính hai mặt, không có một quốc gia nào, khu vực nào có
thể thờ ơ với nó.
1.9.2. Cơ hội và thách thức của toàn cầu hoá đến liên kết ASEAN

Như đ
ã khái quát ở mục trên, toàn cầu hoá là một quá trình hai mặt, nó có thể làm
tăng nhanh lượng của cải vật chất cho thế giới, làm cho đời sống vật chất cũng như
tinh thần của mỗi thành viên trong xã hội được cải thiện, làm cho con người, các
dân tộc gần gũi, thân thiện, hiểu biết và có trách nhiệm với nhau và với cộng đồng
20
chung của nhân loại nhiều hơn, nhưng nó cũng gây không ít khó khăn bất lợi cho
nhiều người, nhiều dân tộc như làm gia tăng hố ngăn cách giàu nghèo, bất bình

Cải thiện môi trường pháp lý, thúc đẩy dân chủ hoá xã hội và làm tăng thêm hợp
tác giữa các nước
Toàn cầu hoá làm sản sinh ra nhiều tổ chức thương mại tự do theo vùng, lãnh thổ
như APEC, MERCOSUR, NAFTA, EU v.v Đến lượt mình, các tổ chức này
không chỉ tạo dựng và hoàn thiện dần luật chơi chung mang tính phổ quát cho mọi
người, mỗi quốc gia – dân tộc, khu vực và toàn thế giới. Chính phủ của các nước
muốn thu hut vốn đầu t
ư nước ngoài, tăng cường thương mại với thế giới, tăng khả
năng cạnh tranh hàng hoá của mình thì không có cách nào khác là đưa ra chính
sách ưu đãi đầu tư, giảm thuế quan và tạo khả năng cho các hãng kinh doanh hay cá
nhân trực tiếp tham gia vào các quan hệ quốc tế.

Làm tăng tính mở của hợp tác khu vực
Trước đây, hợp tác khu vực ASEAN bị chi phối bởi sự tranh đua đối đầu giữa hai
cực Mỹ
và Liên Xô nên tính chất mở cửa hợp tác đa chiều, đa phương bị hạn chế,
thêm vào đó liên kết ASEAN chủ yếuthông qua con đường nhà nước ( các chính
phủ đưa ra chác thoả thuận chung ) ( hay còn gọi là liên kết chính thức) thì thừ đầu
thập niên 90 đén nay chính phr các nước ASEAN đã kính thích các hoạt động kinh
tế tư nhân trong khu vực liên doanh, liên kết với nhau (liên kết thực chất), coi các
sự gắn kết hoạt động kinh doanh cụ thể dướ
i sự chi phối của các quy luật thị trường
là thước đo ức độ, là mục tiêu của liên kết khu vực.

1.9.2.2. Thách thức của toàn cầu hoá đối với liên kết ASEAN

Bên cạnh những cơ hội và thuận lợi mà toàn cầu hoá đem lại cho liên kết ASEAN.
như đã trình bày ở trên, thì cũng có không ít khó khăn và thách thức mà ASEAN
phải đối mặt và thích ứng.


chậm hơn so với các nước phát triển trong việc tiếp thu các phát triển mới về khoa
học, kỹ thuật và và các mặt khác như văn hoá xã hội trên phương diện toàn cầu dẫn
đến thế bất lợi trong cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hoá, việc có nền công
nghệ thông tin thấp còn dẫn đế
n vấn đề đào tạo nguồn nhân lực nâng cao trình độ
của dân số trong độ tuổi lao động thực tế ngay tại hai nước phát triển nhất Đông
23
Nam á là Xingapo và Malaixia thì trình độ của dân số trong độ tuổi lao động vẫn
còn thấp so với nhiều nước công nghiệp phát triển ví dụ: trình độ đại học của lao
động Hàn quốc là 50% và Hồng Kông là 40% thì Xingapo chỉ đạt 22% ( theo tài
liệu lưu tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á )

So sánh với các nước phát triển có xuất phát điểm cao và điều kiện thuận lợi về
công nghệ và tốc độ phát triển công nghệ, các nước ASEAN
đang di những bước
đầu tiên trong điều kiện cạnh tranh hết sức gay gắt của toàn cầu hoá, và trong cuộc
đấu tranh sinh tồn này, có thể làm cho các nước ASEAN vươn lên trở thành những
nước phát triển, có đới sống vật chất cũng như tinh thần caom những cũng có thể
làm cho các quốc gia – dân tộc trong khu vực rơi vào khủng hoảng, tan rã. Như
cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ nổ ra từ năm 1997 đã
làm tăng hố ngăn cách
giàu nghèo, và bất bình đẳng trong xã hội, bùng nổ các xung đột, các bất ổn xã
hội khác tại nhiều nước ASEAN. Kết quả này có tác động tiêu cực đến tiến trình
liên kết ASEAN đi vào chiều sâu và chiều rộng.

1.9.3. Sự ra đời Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA

Trong bối cảnh có nhiều thay đổi trong môi trường chính trị, kinh tế và khu vực,
vào đầu những năm 90, đã đặt kinh tế
các nước ASEAN đứng trước những thách

một cơ chế hợp tác khu vực mới ra đời vào năm 1989 đó là Diễn đàn Hợp tác kinh
tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Tham gia diễn đàn này hầu hết các nước
thuộc lòng chảo Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có các nước ASEAN và các
cường quốc kinh tế như Mỹ và Nhật Bản, trong diễn đàn này Mỹ đóng vai trò điề
u
phối. Sự ra đời Diễn đàn này đã làm gia tăng hợp tác và cạnh trạnh giữa các nước
trong vùng, đặc biệt giữa các nước đang phát triển trong đó có các nước ASEAN và
các nước tư bản phát triển.

Tiếp đến là sự ra đời của “Thị trường chung nhóm các nước Nam Mỹ” –
MERCOSUR vào năm 1991 với mục tiêu là thiết lập thị trường chung khu vực
25
thông qua hợp tác hài hoà các chính sách về nông nghiệp, công nghiệp, tài chính,
giao thông vận tải và các nghành nghề khác của nền kinh tế quốc dân.

Việc Cộng đồng châu Âu (EC) chính thức thành lập nên Liên minh châu Âu (EU)
với thị trường chung của 15 nước thành viên có nền kinh tế phát triển vào năm
1992 và sự ra đời của của Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ – NAFTA, cũng trong
năm đó cùng với việc tăng cường hơn nữa chế độ bả
o hộ đói với hàng nội khối của
họ đã đặt ra những thách thức không nhỏ đối với hàng hoá của các nước ASEAN.
Những thay đổi mới này tạo ra không ít thách thức cho các nước ASEAN, đặc biệt
trong việc thu hút các nguồn viện trợ từ nước ngoài và xuất khẩu hàng hoá của
mình sang Âu-Mỹ và Nhật Bản, nơi chiếm phần chủ yếu trong cán cân thương mại
của ASEAN.

Đứng trước tình hình đó tháng Giêng n
ăm 1992 tài Hội nghị thượng đỉnh ASEAN
lần thứ IV họp tại Singapo đã chính thức quyết định thành lập Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN. Đây là một thích ứng tức thời, một biểu hiện rõ nét nhất hành động của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status