Phân tích tình hình chu chuyển vốn trong tập đoàn unilever - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Quản trị tài chính doanh nghiệp là sự tác động có mục đích, có ý thức của các nhà
quản trị tới các quan hệ tài chính doanh nghiệp nhằm điều chỉnh các quan hệ đó và
tối đa hóa các giá trị tài sản của các chủ sở hữu doanh nghiệp. Ngày nay, với sự
xuất hiện của rất nhiều công ty đa quốc gia (viết tắt là MNC) thì hoạt động quản trị
doanh nghiệp nói chung và quản trị tài chính nói riêng lại càng trở nên phức tạp.
Quản trị tài chính trong công ty MNC là việc công ty mẹ thiết lập mối quan hệ giữa
vấn đề kế hoạch tài chính và quyền của công ty mẹ với công ty con sao cho phối
hợp hoạt động giữa công ty mẹ và công ty con, đem lại hiệu quả kinh doanh tốt
nhất. Đồng thời tăng cường trách nhiệm của công ty con và hệ thống kiểm tra của
công ty mẹ.
Một trong những điều mà nhà quản trị tài chính cần chú ý là nguồn vốn và cơ cấu
vốn của các công ty con trực thuộc MNC. Hoạt động trên nhiều thị trường khác
nhau với những đặc điểm về sản xuất kinh doanh, pháp lý và chính trị khác nhau,
các công ty con khi đưa ra quyết định sản xuất và tài chính của mình có thể dẫn đến
những xung đột trong sản xuất, thậm chí triệt tiêu lợi ích của nhau. Chính bởi thế
nhiệm vụ của quản trị viên cấp cao lúc này là phải có 1 cái nhìn bao quát, phân tích
tình hình để đưa ra các kế hoạch về tài chính cụ thể sao cho việc kinh doanh đạt
hiệu quả tốt nhất. Nguồn vốn có thể được huy động từ đâu, bên trong hay bên
ngoài, lợi nhuận tái đầu tư phân phối ra sao, vào những ngành nào, khu vực nào thì
có lợi nhất? Việc chuyển vốn giữa các công ty con tiến hành dưới hình thức ra sao?
Chuyển vốn về công ty mẹ bằng cách nào? Đây là một loạt các câu hỏi được đặt ra
với nhà quản trị tài chính.
1
TÌNH HUỐNG
Trong khuôn khổ bài nghiên cứu của mình, em xin được lấy tình huống của tập
đoàn Unilever để phân tích về quá trình chu chuyển vốn trên 3 thị trường cơ bản là
Châu Âu, châu Mỹ, Châu Á và châu Phi.
Với rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như Lipton, Knorr, Omo, Sunsilk, Clear, Dove,
P/s… Unilever được biết đến là một trong những tập đoàn đa quốc gia cung ứng
hàng tiêu dùng hàng đầu thế giới với các ngành hàng thực phẩm và sản phẩm chăm

2005 2006 2007
Doanh thu 38 401 39 642 40 187
Lợi nhuận thực
hiện
5 074 5 408 5 245
Lợi nhuận trước
thuế và lãi vay 4 516 4 831 5 184
Lợi nhuận sau
thuế
3 335 3 685 4 056
3
Năm 2007,lượng thuế trung bình trên các thị trường kinh doanh mà công ty phải
chịu đã giảm từ 24% (năm 2006) xuống còn 22%. Điều này được giải thích bởi sự
mở rộng hoạt động vào các trường mới của Unilver tạo ra hiệu ứng “ country mix”.
Trong đó các quốc gia cần thu hút đầu tư sử dụng các mức thuế ưu đãi để hấp dẫn
các nhà đầu tư nước ngoài. Nó tác động tới quá trình chu chuyển vốn của công ty
MNC khi mà lượng đầu tư được dịch chuyển dần vào những quốc gia có mức thuế
thấp. Biểu hiện bên ngoài của nó là lượng thuế trung bình của công ty giảm xuống,
còn thực chất là vốn được phân phối vào các quốc gia có mức thuế ưu đãi.
Phân tích tình hình chu chuyển vốn trong tập đoàn Unilever:
Nguyên nhân của việc chu chuyển vốn này sẽ được phân tích căn cứ vào bảng số
liệu sau đây:
Năm 2006 ( đơn vị: triệu euro )
Châu Âu Châu Mỹ Châu Á & Châu Phi
Doanh thu 15 000 13 799 10 863
Lợi nhuận thực
hiện
1 903 2 178 1 327
Vốn đầu tư 14 489 11 564 11 019
Năm 2007 ( đơn vị: triệu euro )

vốn đầu tư, ta thấy mặc dù thị trường Châu Mỹ là nơi doanh nghiệp đầu tư ít nhất
song lại là nơi có tỉ số lợi nhuận trên vốn đầu tư cao nhất ( lần lượt là 18,119% ở
Châu Mỹ; 13,617% ở Châu Á và Châu Phi; 11,413% ở Châu Âu). Như vậy, thị
trường Châu Mĩ hiện nay vẫn là thị trường hấp dẫn mà Unilever không nên từ bỏ.
Nguyên nhân đó là do Châu Mỹ là nơi có nhiều quốc gia mà trình độ khoa học
5
công nghệ phát triển vượt bậc. Nhờ vào áp dụng công nghệ mới cũng như công
nghệ quản tiên tiến, nâng cao năng suất, chi phí sản xuất kinh doanh của công ty có
thể giảm xuống mức thấp nhất. Từ đó mà một đồng vốn bỏ ra thu về nhiều lợi
nhuận hơn. Việc chu chuyển vốn nên thực hiện đó là cắt giảm các khoản đầu tư hay
lợi nhuận giữ lại ở các công ty con thuộc Châu Âu và chuyển sang đầu tư cho các
công ty con ở Châu Á và Châu Mỹ. Vấn đề là đầu tư vào Châu Á và châu Mỹ, ở
nơi nào là có lợi hơn?
- Quay ngược lại năm 2006, ta so sánh chỉ số lợi nhuận trên vốn đầu tư giữa châu
Mỹ (18,843%) với Châu Á và châu Phi ( 12,402% ). Như vậy chỉ số này đối với
châu Mỹ vào năm 2007 đã giảm đi còn châu Á và Châu Phi là tăng lên. Giải thích
cho hiện tượng này, đó là bởi chi phí nhân công ở các quốc gia Châu Á và Châu
Phi hiện nay còn rất rẻ so với tại Châu Mỹ. Lượng nhân công dồi dào giúp họ có
thể tìm được cho mình những lao động đủ tiêu chuẩn với mức giá cạnh trannh và
phù hợp nhất. Đây cũng là các quốc gia mà nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú và sẵn có. Chi phí vận chuyển hay chuyển nhượng quyền mua nguyên liệu
không còn là nỗi lo với doanh nghiệp, còn có thể từ đó mà tiết kiệm được 1 khoản.
Hàng hóa được sản xuất với chi phí giảm đi trong khi giá bán không dao động
nhiều tất yếu sẽ dẫn đến sự tăng thêm của tỉ số lợi nhuận ròng trên tổng vốn đầu tư.
Xu hướng này sẽ còn tiếp tục diễn ra khi mà các nước đang phát triển ở Châu Á và
Châu Phi gỡ bỏ dần hàng rào thuế quan cũng như pháp lý đối với các doanh nghiệp
nước ngoài nói chung và doanh nghiệp FDI nói riêng. Thêm vào lợi thế ban đầu về
tỉ lệ giữa lợi nhuận ròng trên doanh thu cao hơn, công ty Unilever nên tính đến việc
đầu tư vốn cho các công ty con trực thuộc mình tại Châu Á& Châu Phi trước trong
điều kiện pháp lý và kĩ thuật cho phép.

Đề cập đến 1 khía cạnh khác của việc chu chuyển vốn, đó là chu chuyển vốn giữa
các ngành kinh doanh của công ty con trực thuộc tập đoàn Unilever, ta xem xét
bảng số liệu sau đây:
Doanh thu
2005 2006 2007
Thực phẩm 20 889 21 354 21 558
Hàng tiêu dùng 17 512 18 297 18 599
Tổng 38 401 39 642 40 187
Lợi nhuận thực hiện
2005 2006 2007
Thực phẩm 2 635 2 893 2 868
Hàng tiêu dùng 2 439 2 515 2 377
Tổng 5 074 5 408 5 245
Trong 34 mặt hàng nổi tiếng nhất của tập đoàn Unilever có tới hơn 20 mẫu thuộc
nhóm hàng tiêu dùng với các thương hiệu như Becel, Flora, Rama, Cif, Comfort,
Dove, Calver’……. Ngược lại các mặt hàng thực phẩm chỉ chiếm con số khiêm tốn
từ 3-5 mặt hàng chủ chốt là Knorr, Lipton, Wall…. Tuy số lượng ít nhưng hàng
thực phẩm lại chiếm tới 53,64% doanh thu và 54,68% lợi nhuận vào năm 2007.
Lấy ví dụ như trà Lipton, sản phẩm có khả năng cạnh tranh không những cao mà
còn có một thị trường khách hàng trung thành trên thế giới. Thị trường quen thuộc
của nó là các quốc gia Châu Âu như Đức, Pháp, Anh, Newzeland, Ý, Tây Ban
Nhan, Thụy Điển…. Đây là các nước mà thói quen uống trà túi lọc rất phổ biến và
được tiêu dùng như một loại đồ uống thông dụng. Việc đặt các nhà máy sản xuất
trà tại các nước đang phát triển và xuất khẩu ngược lại Châu Âu đem lại cho
Unilever khoản lợi nhuận cao hơn, khi mà giá vật liệu và nhân công ở các quốc gia
8
này là tương đối thấp. Việc sản xuất với số lượng nhiều còn có thể giúp công ty
khai khác được tính hiệu quả theo quy mô.
KẾT LUẬN:
Với tình huống là tập đoàn Unilever, ta phần nào thấy được quản trị tài chính là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status