MỤC LỤC
Lời mở đầu
CHƯƠNG I :TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ FACTORING VÀ
FORFAITING………………………………………………………………
1.1. Nghiệp vụ Factoring………………………………………….
1.1.1 Sự ra đời và phát triển…………………………………………
1.1.2. Khái niệm và phân loại Factoring………………………………
1.1.3. Lợi ích và hạn chế của Factoring trong thương mại quốc tế……
1.1.4. Quy trình thực hiện Factoring quốc tế………………………….
1.2. Nghiệp vụ Forfaiting……………………………………………
1.2.1. Sự ra đời và phát triển……………………………………………
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm……………………………………………
1.2.3 Lợi ích và hạn chế của Forfaiting trong thương mại quốc tế…….
1.2.4. Quy trình thực hiện hoạt động forfaiting………………………
1.3 So sánh Factoring và Forfaiting………………………………………
1.4 Các nhõn tố ảnh hưởng tới sự phát triển nghiệp vụ Factoring và
Forfaiting quốc tế
1.4.1 Nhân tố khách quan………………………………………………
1.4.1.1 Sự phát triển hoạt động xuất nhập khẩu………………………
1.4.1.2 Môi trường pháp lý hoàn thiện…………………………………
1.4.2.3 Chiến lược kinh doanh hiệu quả………………………………
1.4.2.4 Ứng dụng khoa học công nghệ…………………………………
1.4.2 Nhân tố chủ quan…………………………………………………….
1.4.2.1 Đội ngũ cán bộ chuyện nghiệp………………………………
1.4.2.2 Mạng lưới thông tin rộng lớn………………………………
1.4.2.3 Chiến lược kinh doanh hiệu quả……………………………
1.4.2.4 Ứng dụng khoa học công nghệ……………………………….
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI
NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM …………………………………….
2.1- Khái quát về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam…………………
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của NHTMCP NT Việt Nam
3.2.5 Mở rộng quan hệ Factor đại lý:
3.2.6 Tăng cường hoạt động Marketing
3.2.7 Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngân hàng có đủ năng lực và có
tính chuyên nghiệp cao.
3.3 Kiến nghị…………………………………………………………
3.3.3. Đối với Chớnh phủ…………………………………………….
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam………………………
Kết luận………………………………………………………….
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
VCB Vietcombank Ngân hàng Thương mại
cổ phần Ngoại thương
Việt Nam
FCI Factors Chain International Hiệp hội các nhà Factor
quốc tế FCI
IFG International Factors Group Tổ chức các nhà Factor
quốc tế IFG
GRIF General Rules for
International Factoring
Quy tắc chung về bao
thanh toán quốc tế
L/C Letter of credit Thư Tín dụng
NH TMCP Ngân hàng thương mại cổ
phần
NXB Nhà xuất bản
PGS. TS Phó giáo sư, tiến sĩ
ODA Official Development Aids Hỗ trợ phát triển chính
thức
UNIDROIT Công ước quốc tế về
Biểu đồ 2.2 Doanh thu bao thanh toán tại VN
Biểu đồ 2.3 Doanh thu bao thanh toán nội địa và quốc tế
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
STT Tên Trang
Sơ đồ 1.1 Hệ thống hai đơn vị bao thanh toán
Sơ đồ 1.2 Quy trình chiết khấu các khoản phải thu có bảo
lãnh
Sơ đồ 1.3 Quy trình chiết khấu tín dụng thư
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tớnh cấp thiết của đề tài
Năm 2008 là một năm khó khăn đối với nền kinh tế toàn cầu, bởi nó đang
bị đe doạ bởi một cơn bão mà báo chí vẫn thường nhắc tới, đó là khủng hoảng
kinh tế. Cơn bão này xuất phát điểm bắt đầu là Mĩ và đã nhanh chóng lan toả
đến tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Dù cho tác động
đối của nó, theo nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế, là không ảnh hưởng
quá mạnh đến nền kinh tế Việt Nam cũn non trẻ. Tuy nhiờn, khủng hoảng vẫn
góp phần làm giảm các chỉ tiêu kinh tế trong nước, đặc biệt là đối với hoạt
động xuất nhập khẩu. Ngưyờn nhõn do nhập khẩu các nước đều giảm mạnh,
đặc biệt là thị truờng Mỹ và châu Âu nên xuất khẩu của ta giảm, hơn nữa giá
cả các mặt hàng giảm nên mặc dù tổng sản lượng hàng xuất khẩu vẫn tăng
nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn giảm. Đó là chưa kể các doanh nghiệp
kinh doanh xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu gặp khó khăn trong huy
động vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mỡnh. Thỏng 8/2008, ta
xuất khẩu 6,1 tỷ USD, tháng 9/2008 giảm xuống còn 5,3 tỷ USD. Năm 2009
khả năng xuất khẩu sẽ không tăng cao do tác động của cuộc khủng hoảng kinh
tế thế giới trờn cỏc mặt nêu trên.
Trước bối cảnh khó khăn đó, cộng thêm với tình hình cạnh tranh ngày
càng trở nên khốc liệt, các doanh nghiệp XNK Việt Nam đang phải đối mặt
với rất nhiều áp lực trong việc duy trì doanh số hoạt động.
Muốn bán được hàng, các nhà XK Việt Nam phải chấp nhận chào hàng
2. Mục đích nghiên cứu
Một là, làm sáng tỏ vai trò của hoạt động Factoring và Forfaiting đối với
nền kinh tế và các chủ thể tham gia, luận giải có hệ thống cơ sở lý luận về
Factoring và Forfaiting, các ưu nhược điểm của từng nghiệp vụ.
Hai là, xem xét tình hình thực hiện nghiệp vụ Factoring và Forfaiting ở
Việt Nam và tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
Ba là, rút ra những đánh giá, đề xuất những định hướng và giải pháp phát
triển nghiệp vụ này một cách thành công tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam, làm hình mẫu cho các NH khác học hỏi kinh nghiệm trong quá trình phát
triển của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Thứ nhất, cơ sở lý luận thao thông lệ quốc tế và các quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành liên quan đến hoạt động Factoring và Forfaiting.
Thứ hai, thực trạng phát triển nghiệp vụ Factoring và Forfaiting ở Việt
Nam và thế giới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận Mác – Lờnin, bao gồm chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được áp dụng trong khoá luận bao
gồm: phương pháp trừu tượng khoa học, phương pháp quy nạp và diễn dịch,
phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, so sỏnh…kết hợp với việc minh
hoạ bằng sơ đồ, bảng biểu, đồ thị nhằm làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên
trực quan hơn.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài gồm có 3
chương:
Chương 1: Tổng quan về nghiệp vụ Factoring và Forfaiting
Chương 2: Đánh giá thực trạng hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt nam.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị phát triển nghiệp vụ Factoring và
(factor) để tiến hành thanh toán cho các lô hàng, trong đó quyền của factor
là thu tiền thanh toán từ phía người mua cuối cùng. Đõy chớnh là cơ sở cho
factoring hiện đại. Khái niệm factoring phát triển liên tục và ngày nay đã
trở thành quen thuộc trong giới kinh doanh, thương mại, tài chính ngân
hàng hay xuất nhập khẩu
Đầu những năm 1960, tổ chức bao thanh toán quốc tế (International
Factor Group) ra đời với sự tham gia của 47 quốc gia đã đánh dấu bước phát
triển mạnh mẽ của bao thanh toán. Các quy tắc hoạt động chính thức được
hình thành và điều chỉnh hoạt động bao thanh toán. Năm 1968, hiệp hội bao
thanh toán quốc tế (Factors Chain International) ra đời đã liên kết các đơn vị
bao thanh toán với nhau và đưa bao thanh toán trở thành một dịch vụ mang
tính toàn cầu. Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của
thương mại thế giới nói chung và các hình thức thanh toán nói riêng, bao
thanh toán ngày càng hoàn thiện và trở thành một hình thức tài trợ thương mại
phổ biến như ngày nay.
Trên thế giới hiện có hơn 1.768 đơn vị Factoring đang hoạt động. Trong
số đú, cú 232 tổ chức bao thanh toán từ 63 quốc gia là thành viên của FCI.
Theo số liệu thống kê của FCI, doanh thu bao thanh toán thế giới năm 2007 là
1.229.127 triệu Euro, tăng 14,53% so với năm 2006. (Xem bảng 1.1)
Bảng 1.1: Doanh thu bao thanh toán trên thế giới
Đơn vị: Triệu Euro
Năm Factoring nội địa Factoring quốc tế Tổng số
2004 791.950 68.265 860.215
2005 930.061 86.486 1.016.547
2006 1.030.598 103.690 1.134.288
2007 1.153.131 145.996 1.299.127
2008 1.225.658 179.589 1.405.247
( Nguồn FCI:www.factors-chain.com)
Ta thấy doanh số BTT không ngừng gia tăng theo thời gian. Điều này
chứng tỏ, các bên tham gia giao dịch ngày càng nhận ra những lợi ích đáng kể
bán hàng hoỏ/dịch vụ giữa nhà cung cấp và các khách hàng của nhà cung
cấp, loại trừ những giao dịch mua bán cho mục đích tiêu dùng cá nhân và hộ
gia đình; (b) Đơn vị bao thanh toán thực hiện ít nhất hai trong các dịch vụ
sau: tài trợ cho nhà cung cấp, bao gồm cho vay và ứng trước; theo dõi các
khoản phải thu; thu nợ và bảo đảm rủi ro bên mua hàng không thanh toán;
(c) Thông báo chuyển nhượng khoản phải thu phải được gửi tới các bên mua
hàng liên quan.
Theo định nghĩa trong Các quy tắc chung cho hoạt động bao thanh toán
quốc tế do FCI ban hành: Hợp đồng bao thanh toán là một hợp đồng theo đó
nhà cung cấp có thể hoặc sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu (hoặc một
phần của khoản phải thu) cho một đơn vị bao thanh toán, với mục đích tài trợ
hoặc không, để nhận được ít nhất một trong các dịch vụ sau: Theo dõi khoản
phải thu, thu nợ và bảo đảm rủi ro nợ xấu.
Theo Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng do
NHNN ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày
06/09/2004 của Thống đốc NHNN, thì: “Bao thanh toán là một hình thức cấp
tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các
khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoỏ đó được bên bán hàng và
bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng”.
Có thể nói những định nghĩa trên đây là sự mô tả hoạt động bao thanh
toán dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng xét về bản chất, hiệp hội FCI thống
nhất quan điểm:
Factoring là việc bên bán hàng hoặc đơn vị bao thanh toán của bên bán
hàng chuyển nhượng cho đơn vị bao thanh toán tất cả các quyền và lợi ích liên
quan tới những khoản phải thu ngắn hạn của bên bán hàng phát sinh từ việc
mua bán hàng hoá hợp pháp giữa bên bán hàng và bên mua hàng để bên bán
hàng được đơn vị bao thanh toán cung cấp các dịch vụ chủ yếu của bao thanh
toán như sau:
- Theo dõi các khoản phải thu của bên bán hàng;
- Ứng trước cho bên bán hàng dựa trên giá trị các khoản phải thu;
phải thu đến hạn mà đơn vị bao thanh toán vẫn không thu hồi được từ người
mua thì đơn vị bao thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho
người bán.
Factoring miễn truy đòi: là dịch vụ bao thanh toán cung cấp chức năng
bảo hiểm rủi ro tín dụng. Nếu không có tranh chấp giữa người mua và người
bán, đơn vị bao thanh toán phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với rủi ro
không thu được tiền. Đơn vị bao thanh toán không có quyền đòi lại số tiền đã
ứng trước cho người bán và phải thanh toán 100% giá trị hóa đơn. Dịch vụ
bao thanh toán đầy đủ và bao thanh toán đến hạn chính là bao thanh toán miễn
truy đòi.
+ Phân loại theo phạm vi hoạt động địa lý
Factoring nội địa: dịch vụ bao thanh toán được cung cấp cho người
bán và người mua ở trong cùng một quốc gia có hoạt động mua bán hàng hóa
diễn ra trong phạm vi một quốc gia.
Factoring quốc tế: là dịch vụ factoring được cung cấp cho người xuất
khẩu và người nhập khẩu ở hai quốc gia khác nhau, có hoạt động mua bán
vượt qua biên giới của một quốc gia. Điểm khác biệt của bao thanh toán quốc
tế so với bao thanh toán nội địa là khả năng có sự tham gia của hai đơn vị bao
thanh toán ở 2 nước đứng ra làm đại lý cho nhau để cung cấp dịch vụ cho
người XK hoặc người NK
+ Căn cứ vào phạm vi giao dịch của factor đối với người mua
Factoring kín: là việc người bán bán các khoản phải thu cho đơn vị
bao thanh toán nhưng không thông báo cho người mua biết. Người mua vẫn
thanh toán tiền hàng cho người bán và người bán chuyển số tiền này cho đơn
vị bao thanh toán.
Factoring công khai: là dịch vụ bao thanh toán được cung cấp cho
người bán đồng thời thông báo cho người mua biết việc người bán đã chuyển
nhượng các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán. Người mua trực tiếp
thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán.
1.1.3. Lợi ích và hạn chế của Factoring trong thương mại quốc tế
hiệu quả hơn do việc thu nợ được đẩy nhanh
+ Đối với Factor
- Được hưởng phí bao thanh toán.
- Đa dạng hoá loại hình dịch vụ.
- Duy trì và mở rộng thị phần, nâng cao uy tín thanh toán trong nước.
- Sử dụng tốt hơn các nguồn vốn huy động được.
+ Đối với nền kinh tế
Factoring tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định hơn cho nền kinh
tế, tạo tâm lý yên tâm, tự tin cho các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh
Factoring đây rmạnh thương mại,sản xuất và đặc biệt là xuất nhập khẩu
quốc gia, tăng thu nhập cho nền tài chính.
1.1.3.2. Hạn chế
+ Đối với nhà XK
- Đối với doanh nghiệp XK, hạn chế khi sử dụng dịch vụ bao thanh toán
là tổng chi phí Factoring tương đối cao (gồm phí dịch vụ là lãi) khoảng 2 –
3%/năm, trong khi đó phí dịch vụ được tớnh trờn tổng giá trị các khoản phải thu
trong năm và lãi suất chỉ tính đối với số tiền đã được tài trợ dưới dạng tạm ứng.
- Mối quan hệ giữa nhà NK với khách hàng có thể bị ảnh hưởng do đơn vị
bao thanh toán. Đối với các DN nhỏ, trong một số trường hợp, họ bắt buộc
phải dàn xếp một khoản nợ, mở rộng thời hạn thanh toán hay sử dụng những
phương pháp thu nợ nhân nhượng cho 1 số khách hàng ưu tiên. Trong khi đó
nhà Factor hầu như rất ít quan tâm đến việc giữ mối quan hệ tương lai với
người mua và một vài công ty thậm chí cũn quỏ gay gắt trong việc thu nợ
- Khi có tranh chấp xảy ra giữa người mua và người bán đối với một hoặc
một số giao dich, đơn vị bao thanh toán sẽ không tạm ứng trước cho các
khoản đó hoặc sẽ truy đòi lại các khoản đã tạm ứng cho những giao dịch tranh
chấp đó. Tuy nhiên, đơn vị bao thanh toán sẽ hỗ trợ người bán trong việc giải
quyết tranh chấp với người mua.
+ Đối với các Factor
(Điển hình được sử dụng trong bao thanh toán quốc tế)
8 . C h u y ể n n h ợ n g
N h à X K
( N g ờ i b á n )
N h à N K
( N g ờ i m u a )
7 . G i a o h à n g
Đ ơ n v ị B T T X K
2 . Y ê u c ầ u t í n d ụ n g
5 . T r ả l ờ i t í n d ụ n g
6 . K í H Đ B T T
8 . C h u y ể n n h ợ n g h o á đ ơ n
9 . T h a n h t o á n t r ớ c
1 3 . T h a n h t o á n ứ n g t r ớ c
5 . T r ả l ờ i t í n d ụ n g
3 . Y ê u c ầ u t í n d ụ n g
1 2 . T h a n h t o á n , b á o c á o c h u y ể n t i ề n
4 . T h ẩ m đ ị n h t í n d ụ n g
1 0 . T h u n ợ k h i đ ế n h ạ n
1 1 . T h a n h t o á n
1.2. Nghiệp vụ Forfaiting
1.2.1. Sự ra đời và phát triển
Forfaiting bắt nguồn từ châu Âu, ra đời vào những năm 60 của thế kỉ
XX tại miền Tây Đức trước nhu cầu xuất khẩu tư liệu sản xuất từ vùng này
sang cỏc cỏc nước Đông Âu. Thuật ngũ “forfaiting” xuất phát từ tiếng Pháp “à
forfeit” nghĩa là miễn truy đòi.
Nền kinh tế Đông Âu thường có rất ít các ngoại tệ mạnh để trả cho các
nhà sản xuất Tây Đức. Chính vì vậy các nhà sản xuất Tây Đức đã cho phép họ
hưởng khoản nợ trung hạn, đôi khi cho phép lên đến 5 năm.NHTW Đông Âu
thường là người đứng ra bảo đảm cho các khoản tín dụng thương mại này.
Khi các nhà sản xuất Tây Đức cần tiền mặt, họ sẽ bán giấy tờ chứng
nhận khoản tín dụng thương mại của mình với một tỉ lệ chiết khấu tới các nhà
tài chính. Đú chớnh là những tiền đề cho sự ra đời của Forfaiting.
Trên thế giới, Forfaiting tuy đã biết đến và sử dụng khỏ lõu nhưng so với
factoring thỡ ớt được áp dụng hơn. Hiện nay chưa có một luật lệ hay một tập
quán quốc tế nào định nghĩa cụ thể về forfaiting. Việt nam cũng chưa có một văn
bản pháp lý nào hướng dẫn và cho phép sử dụng nghiệp vụ này. Vì vậy forfaiting
thường được viết trong những cuốn sách mang tính chất thực hành
Nghiệp vụ Forfaiting rất phổ biến ở Đông Âu và các chi nhành ngân
hàng Thuỵ Sĩ, Đức, Áo là những tổ chức cung cấp dịch vụ forfaiting lớn nhất.
Theo thống kê của Hiệp hội các nhà Forfaiter thế giới (IFA – International
Forfaiter Association), hiện nay Hiệp hội này có 142 công ty Forfaiting thành
viên thuộc 31 quốc gia khác nhau. Trong số đó Anh là nước có nhiều thành
viên nhất (28 thành viên), tiếp theo đó là Thuỵ Sỹ (18 thành viên), Đức (14
thành viên). Thị trường châu Á cũng góp mặt với 7 thành viên đến từ Trung
Quốc, 1 thành viên từ Nhật Bản, ngoài ra cũn cú cỏc thành viên đến từ Hàn
Quốc, Hồng Kụng. Hiện tại Việt Nam chưa có tổ chức tín dụng nào tham gia
vào IFA.
Mặc dù ra đời vào những năm 50 nhưng phải đến những năm 80, tín
dụng forfaiting mới thực sự phát triển mạnh trên thế giới. Từ năm 1982, thị
+ Khả năng tài chớnh của các nhà nhập khẩu thường được bảo đảm bởi
một tổ chức tài chớnh có uy tín, thường là ngõn hàng tại nước người nhập
khẩu đứng ra bảo lónh. Trong trường hợp nhà NK có tiềm lực rất mạnh về tài
chớnh thì có thể tự đứng ra bảo lónh cho mình.
+ Thanh toán ngay giá trị của hối phiếu, miễn truy đòi người xuất khẩu
sau khi đã trừ phí chiết khấu.
+ Mức chiết khấu thường được tớnh theo một tỷ lệ lói suất cố định, tuy
nhiên, trong một số trường hợp người ta vẫn tớnh theo lói suất thả nổi
+ Thời hạn tín dụng là trung hoặc dài hạn ( thường từ 180 ngày đến 5 năm)
+ Khoản tiền đem forfaiting nằm trong khoảng 100.000 – 200 triệu
USD hoặc có thể nhiều hơn.
+ Công cụ để đòi nợ trong ngiệp vụ Forfaiting là các kì phiếu, hối phiếu
hoặc thư tín dụng
Đặc biệt khi một Forfaiting mua lại giấy nợ để giành lấy quyền đòi nợ từ
nhà nhập khẩu, forfaiter có thể giữ lại những giấy tờ đó chờ đáo hạn và yêu
cầu nhà nhập khẩu thanh toán hoặc cũng có thể bán lại những giấy tờ đó trước
khi đáo hạn. Đối với tín dụng forfaiting, có hai loại thị trường là thị trường sơ
cấp và thị trường thứ cấp. Trong đó thị trường sơ cấp bao gồm tất cả các hợp
đồng forfaiting kí kết giữa nhà xuất khẩu và nhà forfaiter đầu tiên, cũn thị
trường thứ cấp bao gồm hoạt động giữa các forfaiter, các factor và các ngõn
hàng, cũn các nhà XK không tham gia vào thị trường này.
1.2.3 Lợi ích và hạn chế của Forfaiting trong thương mại quốc tế
1.2.3.1 Lợi ích của Forfaiting
- Đối với nhà xuất khẩu
+ Giảm thiểu 100% rủi ro: Người XK sẽ hoàn toàn tránh khỏi những
biến động xấu về lãi suất, tỷ giá hối đoái cũng như những rủi ro về chính trị,
chuyển nhượng hay tiền tệ vỡ cỏc forfaiter là người đứng ra gánh chịu thay.
+ Giảm bớt tài sản nợ và đảm bảo luồng tiền mặt: Nhà XK có thể bán
hàng trả chậm cho nhà NK nhưng lại được các forfaiter thanh toán ngay bằng
tiền mặt. Số tiền nhận được là 100% giá trị hợp đồng, miễn truy đòi. Điều này