Chương I
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÀM PHÁN-KÝ KẾT-THỰC HIỆN
HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU
I.VAI TRÒ CỦA NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NÓI CHUNG VÀ NGÀNH
HÀNG KHÔNG NÓI RIÊNG .
Đảng và Nhà nước ta chủ trương mở rộng và phát triển quan hệ đối ngoại
và kinh tế đối ngoại, trong đó lĩnh vực cực kỳ quan trọng là thương mại hàng
hoá và dịch vụ với nước ngoài. Đó là chủ trương hoàn toàn đúng đắn và phù
hợp với thời đại, với xu thế phát triển của nhiều nước trên thế giới trong
những năm gần đây.
Việt Nam- một nước mới bước vào công cuộc đổi mới công nghiệp hoá-
hiện đại hoá đất nước-lẽ dĩ nhiên nhập khẩu vẫn là hoạt động quan trọng.
Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời
sống. Nhập khẩu là để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
hiện đại cho sản xuất và các hàng hoá cho tiêu dùng mà trong nước không sản
xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế,
nghĩa là nhập khẩu những thứ mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng
nhập khẩu. Làm được như vậy sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối
và khai thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế quốc dân về sức lao động,
vốn, cơ sở vật chất, tài nguyên và khoa học kỹ thuật. Trong bối cảnh đất nước
như vậy, nhu cầu nhập khẩu đối với riêng nghành Hàng Không thì sao?
Với mức tăng dân số trung bình từ 1,8 đến 2%/ năm thì năm 2000 dân số
Việt Nam sẽ là 80 đến 82 triệu người và đến 2005 sẽ trên 90 triệu người và ở
con số 100 triệu vào năm 2010.
Thu nhập bình quân đầu người tăng bình quân từ 6-7%/năm và có thể
cao hơn sau năm 2000.
Sự phát triển của dân số và thu nhập như nêu trên kết hợp với sự phát
triển của nghành du lịch và với xu hướng tiết kiệm thời gian của xã hội hiện đại
sẽ làm tăng sức mua hàng hoá và dịch vụ trong đó có dịch vụ vận tải đường hàng
không, các đơn vị trong nghành Hàng Không phải tăng đầu tư mua sắm thiết bị
để phục vụ nhu cầu ngày một tăng, theo dự đoán nhu cầu này tăng nhanh hơn tốc
nghiệp khác nhau nhằm thoả thuận với nhau về những điều kiện giao dịch mà
mỗi bên có thể chấp nhận được.
Đàm phán là quá trình cân bằng các yếu tố khác nhau để đạt được sự kết
hợp tốt nhất, là việc thuyết phục và là sự cho và nhận. Đàm phán là một nghệ
thuật đòi hỏi phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa óc suy xét, đối xử lịch thiệp nhã
nhặn và sự khôn ngoan.
2
Trong lĩnh vực hợp đồng, đàm phán là phương pháp được dùng để đạt
được sự nhất trí về các điều kiện giữa các bên mua và bán. Đàm phán là quá
trình mặc cả, tranh luận hợp lý và thoải mái, bình đẳng giữa các bên trong hợp
đồng để dẫn tới một cách giải quyết chung.
Đàm phán hợp đồng kinh doanh quốc tế là một loại đàm phán hợp đồng
kinh doanh, trong đó yếu tố quốc tế được thể hiện ở việc có ít nhất hai chủ thể
có quốc tịch khác nhau tham gia đàm phán để lập nên các hợp đồng kinh
doanh quốc tế như: hợp đồng ngoại thương, hợp đồng chuyển giao công nghệ
quốc tế, hợp đồng liên doanh quốc tế hoặc các dạng hợp đồng khác.
Sự xuất hiện của yếu tố quốc tế đã tạo ra một số nét riêng của đàm phán
trong kinh doanh quốc tế. Chẳng hạn như: Sử dụng ngôn ngữ và thông tin là
phương tiện chủ yếu, có sự gặp gỡ của các hệ thống luật pháp của các quốc
gia khác nhau, có sự hội ngộ của các nền văn hoá, các phong tục, tập quán
khác nhau trong đàm phán kinh doanh quốc tế. Mặc dù có sự khác nhau, song
mục đích cuối cùng mà các nhà đàm phán đặt ra và phấn đấu đạt được là một hợp
đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc hợp đồng chuyển giao công nghệ, một dự
án đầu tư mà hai bên có thể chấp nhận được.
2. Phương thức giao dịch.
Trên thế giới đang tồn tại nhiều phương thức giao dịch, mỗi phương thức
giao dịch có đặc điểm và kỹ thuật tiến hành riêng. Trong sự đa dạng các
phương thức, giao dịch trực tiếp là phương thức phổ biến nhất trong thương
mại quốc tế và cũng là phương thức giao dịch duy nhất được sử dụng ở công
ty AIRIMEX. Bắt đầu sang năm 2000 mới có thêm phương thức đấu thầu.
Trong thư chào hàng cần giới thiệu về hoạt động của công ty mình, về
lịch sử của doanh nghiệp, công ty, khả năng buôn bán kinh doanh những mặt
hàng gì và uy tín của doanh nghiệp công ty để người mua hoặc bán có sự hiểu
biết nhất định về đối tác kinh doanh. Từ đó tạo được lòng tin và mở ra khả
năng giao dịch buôn bán cao hơn.
Nội dung chính của thư chào hàng: Tên hàng, quy cách, phẩm chất, số
lượng, giá cả, đIều kiện cơ sở giao hàng, thời hạn giao hàng điều kiện thanh
toán, bao bì ký mã hiệu, thể thức giao nhận hàng
Trong mậu dịch quốc tế người ta phân biệt hai loại chào hàng chính:
chào hàng cố định (firm offer) và chào hàng tự do (free offer).
-Chào hàng cố định là việc chào bán một lô hàng nhất định cho một
người mua, có nêu rõ thời gian mà người chào hàng bị ràng buộc trách nhiệm
vào lời đề nghị của mình. Thời gian này gọi là thời gian hiệu lực của chào
hàng. Trong thời gian hiệu lực, nếu người mua chấp nhận hoàn toàn chào
hàng đó thì hợp đồng coi như được giao kết. Nếu trong chào hàng cố định
người bán không quy định rõ thời hạn hiệu lực thì thời hạn này được tính theo
“thời hạn hợp lý”. Thời hạn này thường do tính chất loại hàng, do khoảng cách
về không gian giữa hai bên và cũng nhiều khi do tập quán quy định.
4
-Chào hàng tự do không ràng buộc trách nhiệm người phát ra nó. Cùng
một lúc, một lô hàng người ta có thể chào hàng tự do cho nhiều khách hàng.
Việc khách hàng chấp nhận hoàn toàn các điều kiện của chào hàng tự do
không có nghĩa là hợp đồng được ký kết. Người mua cũng không thể trách cứ
người bán nếu sau đó người bán không ký kết hợp đồng với mình.
*Hoàn giá (Counter-offer)
Hoàn giá là chỉ người nhận báo giá không đồng ý hoặc không hoàn toàn
đồng ý những điều kiện mà ngươì báo giá đưa ra trong báo giá, để thoả thuận
thêm, đưa ra ý kiến sửa đổi đối với báo giá. Hoàn giá có thể dùng hình thức
miệng hoặc hình thức giấy tờ để biểu đạt, thường là phù hợp với phương thức
mà báo giá sử dụng. Hoàn giá có thể nhằm vào giá cả, cũng có thể nhằm vào
có thể thực hiện bằng một văn bản có chữ ký của hai bên, gọi là bản hợp đồng
hoặc là bản thoả thuận (agreement).
3. Các hình thức đàm phán-giao dịch.
3.1 .Đàm phán-giao dịch qua thư tín.
Hiện nay thư từ và điện tín vẫn còn là phương tiện chủ yếu để giao dịch
giữa những người xuất nhập khẩu. Những cuộc tiếp xúc ban đầu thường qua
thư từ. Khi hai bên đã có đIều kiện gặp gỡ trực tiếp thì việc duy trì mối quan
hệ cũng phải thông qua thư tín thương mại.
Giao dịch qua thư tín có thể sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí hơn, hơn nữa
cùng một lúc có thể giao dịch với nhiều khách hàng ở nhiều nước khác nhau.
Người viết thư tín có điều kiện để cân nhắc suy nghĩ, tranh thủ ý kiến của nhiều
người, và có thể khéo léo dấu ý định thực sự của mình. Với một đối phương
khéo léo già dặn thì việc đoán ý đồ của họ qua lời lẽ trong thư là việc rất khó
khăn. Nhưng việc giao dịch qua thư tín mất rất nhiều thời gian, dễ bỏ lỡ cơ hội,
khó biết ý đồ thật của khách hàng. Ngày nay người ta dùng hình thức thư điện
tử qua hệ thống Internet hoặc telefax sẽ khắc phục được sự chậm trễ.
Khi soạn thảo thư cần đảm bảo tính lịch sự, chính xác, khẩn trương và
kiên nhẫn với các quy định chuẩn mực. Thư nên viết ngắn, rõ ràng, tránh sự
hiểu lầm, chỉ đề cập một vấn đề kinh doanh và sử dụng thứ ngôn ngữ thuận
tiện cho khách hàng để gây thiện cảm. Kiên nhẫn trả lời khách hàng mọi vấn
đề, kiên nhẫn theo đuổi khách hàng bằng nhiều thư liên tiếp vừa để giữ mối
quan hệ, vừa để lại một hình ảnh trong khách hàng, như vậy lúc có nhu cầu
mình là người được họ nghĩ đến một cách ưu tiên.
3.2 Đàm phán-giao dịch qua điện thoại.
Ngày nay giao dịch qua điện thoại cũng là một phương thức được sử
dụng phổ biến, đặc biệt với những giao dịch có độ tin cậy cao. Giao dịch bằng
điện thoại đảm bảo khẩn trương, chớp thời cơ. Song do cước phí cao, thời
gian gọi hạn chế nên không thể thảo luận chi tiết mọi vấn đề qua điện thoại.
Hơn thế bàn bạc qua điện thoại không để lại bằng chứng hợp pháp, do đó
thường là các mối quan hệ tin cậy giao dịch bằng phương pháp này. Đối với
giả thiết rằng khách hàng cũng hiểu ngôn ngữ của mình.
4.Chiến lược và chiến thuật trong đàm phán.
Mỗi một cuộc đàm phán diễn ra đều có một nghệ thuật đàm phán riêng, đó
là sự kết hợp khéo léo giữa chiến lược và chiến thuật. Chiến lược là toàn bộ
đường lối, phương hướng vạch ra cho một quá trình để thực hiện một mục tiêu
nào đó. Để thực hiện một chiến lược người ta phải sử dụng đến nhiều chiến
thuật, có khi là sự kết hợp giữa các chiến thuật đó. Có hai chiến thuật thường
được sử dụng trong đàm phán đó là: Chiến thuật tâm lý và chiến thuật tri thức.
7
Chiến thuật tâm lý là loại mà người tham gia đàm phán sử dụng nó như
một vũ khí sắc bén, tác động vào tâm lý đối phương làm họ hoang mang, dao
động thay đổi lập trường theo hướng có lợi cho mình, gây sức ép tâm lý hoặc
đánh lạc hướng sự chú ý của đối phương. Phương tiện cơ bản của chiến thuật
này là: Lời nói, cử chỉ và thái độ.
Chiến thuật tri thức được xây dựng trên cơ sở của lĩnh vực đàm phán đó,
là phương pháp lập luận dựa trên cơ sở những hiểu biết sâu sắc của nhà đàm
phán trong đó có cài bẫy.
Tuỳ từng hoàn cảnh đIều kiện cụ thể mà nhà đàm phán sẽ chọn một trong
các chiến lược sau:
4.1. Chiến lược đàm phán kiểu cứng.
Đây là chiến lược đàm phán trong đó các nhà đàm phán chỉ theo đuổi lợi
ích của mình mà không quan tâm đến lợi ích phía đối tác, họ sử dụng các
phương pháp và thái độ cứng rắn để đè bẹp đối phương.
Một nhà đàm phán thường lựa chọn chiến lược kiểu cứng khi mối quan
hệ về thế và lực nghiêng hẳn về phía họ, hoặc do cá tính thích ganh đua, cũng
có thể do lợi ích cá nhân hoàn toàn đối lập. Nếu cả hai sử dụng phương pháp
này sẽ dễ dẫn đến thất bại.
4.2. Chiến lược đàm phán kiểu mềm.
Trong chiến lược này nhà đàm phán coi đối tác như bè bạn, họ chú trọng
đến việc xây dựng và duy trì mối quan hệ giữa hai bên. Bởi vậy người ta
toàn dựa trên cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa các chủ thể (tự do ý chí), không
thể do áp đặt ý chí của bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào. Các bên có
quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời điểm ký kết và nội dung ký kết
Nguyên tắc này thể hiện quyền tự chủ trong trong ký kết hợp đồng kinh
tế của các chủ thể kinh doanh được Nhà nước đảm bảo. Ký kết hợp đồng kinh
tế là quyền của các đơn vị kinh tế, quyền này phải gắn liền với các đIều kiện
nhất định, đó là:
-Không được phép lợi dụng hợp đồng kinh tế để hoạt động trái pháp luật.
-Đối với các đơn vị kinh tế có chức năng sản xuất kinh doanh trong các
thành phần kinh tế thuộc độc quyền của Nhà nước thì không được lợi dụng
quyền ký kết hợp đồng kinh tế để đòi hỏi những điều kiện bất bình đẳng, ép
buộc, cửa quyền; hoặc vì không đạt được những đòi hỏi bất bình đẳng đó nên
đã từ chối ký kết hợp đồng kinh tế thuộc ngành nghề độc quyền của mình.
-Quyền ký kết hợp đồng kinh tế của các đơn vị kinh tế còn được thể hiện
qua việc quy định các đơn vị kinh tế có quyền từ chối mọi sự áp đặt của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong việc ký kết hợp đồng kinh tế.
Nguyên tắc tự nguyện trong ký kết hợp đồng kinh tế đánh dấu bước đổi
mới căn bản trong chế độ hợp đồng kinh tế của Nhà nước ta, được ghi nhận
trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25 tháng 9 năm 1989.
9
Ngoại trừ hợp đồng kinh tế được ký kết theo chỉ tiêu pháp lệnh kế hoạch,
thì tính tự nguyện của các chủ thể bị hạn chế đáng kể.
* Nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi.
Nội dung của nguyên tắc này là ký kết hợp đồng kinh tế, các chủ thể phải
đảm bảo trong nội dung của hợp đồng có sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ
nhằm đáp ứng lợi ích kinh tế của mỗi bên. Tính bình đẳng này không phụ
thuộc vào quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý của các chủ thể. Bất kể các đơn
vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý, khi ký kết hợp
đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ cùng có lợi trên cơ sở thoả thuận và
phải chịu trách nhiệm vật chất nếu vi phạm hợp đồng đã ký kết.
Bước 1: Một bên lập dự thảo (đề nghị) hợp đồng trong đó đưa ra những yêu cầu
về nội dung giao dịch (tên hàng hoặc công việc, số lượng, chất lượng, thời gian, địa
điểm, phương thức giao nhận, phương thức thời hạn thanh toán và tiền gửi cho bên kia)
Bước 2: Bên nhận được hợp đồng tiến hành trả lời cho bên đề nghị hợp đồng
bằng văn bản trong đó ghi rõ nội dung chấp nhận, những đề nghị bổ sung
Trong trường hợp ký kết theo cách gián tiếp, hợp đồng kinh tế được coi
là hình thành và có giá trị pháp lý từ khi các bên nhận được tài liệu giao dịch
thể hiện sự thoả thuận xong những điều khoản chủ yếu của hợp đồng.
Dù ký kết bằng phương pháp ký trực tiếp hay ký gián tiếp, những hợp
đồng kinh tế được hình thành đều có hiệu lực pháp lý như nhau và các bên
đều phải thực hiện các điều khoản đã cam kết. Để cho hợp đồng kinh tế có
hiệu lực, việc thoả thuận của các bên phải đảm bảo những điều kiện sau:
+Nội dung thoả thuận không vi phạm pháp luật.
+Phải đảm bảo điều kiện chủ thể của hợp đồng.
+Đại diện ký kết hợp đồng phải đúng thẩm quyền.
Nếu không đảm bảo một trong các điều kiện này, hợp đồng coi như vô hiệu.
Mỗi cách ký kết đều có ưu điểm, nhược điểm riêng của nó, lựa chọn
cách nào là quyền của chủ thể ký kết, xong việc lựa chọn phải luôn tính đến
hiệu quả kinh tế, thời cơ kinh doanh. Các chủ thể cũng có thể kết hợp cả hai
phương pháp ký kết để xác lập một quan hệ hợp đồng kinh tế.
IV. QUY TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU
Để tiến hành thực hiện hợp đồng nhập khẩu, đơn vị kinh doanh phải thực
hiện theo trình tự sau:
11
vc
Sau khi hợp đồng nhập khẩu đã được ký kết, đơn vị kinh doanh nhập khẩu
với tư cách là một bên ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là công
việc rất phức tạp; nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời bảo
đảm được quyền quốc gia và bảo đảm uy tín kinh doanh của đơn vị. Về mặt kinh
phép
NK
MởL/
C khi
bên
bán
Đôn đốc
bên bán
giao
hàng
Thu
ê
t uà
Mua bảo
hiểm
hàng
hoáá
Khiếu
nại về
hàng
hoá
Làm
thủ tục
thanh
toán
Giao
hàng
cho đơn
vị đặt
Kiểm
Cơ quan giao thông (ga, cảng) phải kiểm tra niêm phong, kẹp trì trước
khi dỡ hàng ra khỏi phương tiện vận tải. Nếu hàng có thể có tổn thất hoặc xếp
đặt không theo lô, theo vận đơn thì cơ quan giao thông mời cơ quan giám
định lập biên bản giảm định dưới tầu. Nếu hàng chuyên chở đường biển mà bị
thiếu hụt, mất mát, phải có “biên bản kế toán nhận hàng với tầu (Report On
Receip Of Cargo) còn nếu bị đổ vỡ phải có “Biên bản hàng bị đổ vỡ hư hỏng”
Cargo Outtum Report). Nếu tàu chở hàng đã nhổ neo rồi việc thiếu hụt mới bị
phát hiện, chủ hàng mới yêu cầu VOSA cấp “Giấy chứng nhận hàng thiếu”
(Certificate Of Shortlanded Cargo). Đơn vị kinh doanh hàng nhập khẩu, với
tư cách là một bên đứng tên trên vận đơn, phải lập thư dự kháng (Letter Of
Reservation) nếu nghi ngờ hoặc thực sự thấy hàng có tổn thất, phải yêu cầu
lập biên bản giảm định (Survey Report) nếu hàng hoá thực sự có tổn thất thiết
hụt, không đồng bộ, không phù hợp với hợp đồng.
13
3. Thuê tàu lưu cước, đặt khoang.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương việc thuê tàu
chở hàng được tiến hành dựa vào ba căn cứ sau đây: Những điều khoản của hợp
đồng mua bán ngoại thương, đặc điểm mua bán và điều kiện vận tài.
Với điều kiện CIF hoặc CFR, thuê tàu đặt khoang là một trong những
trách nhiệm của bên bán. Tàu có thể là tàu chuyến nếu hàng có khối lượng lớn
và để trần (Bulk Cargo) và trên đường hàng đi có chuyến tàu chợ (Liner) nếu
là hàng lẻ tẻ, lặt vặt, đóng trong bao kiện (General Line). Nếu hàng có khối
lượng lớn, cần vận chuyển cả một chuyến tàu, thì cần làm thủ tục thuê tàu, đối
với hàng có số lượng nhỏ, không cần vận chuyển cả chuyến tàu, thì bố trí đặt
tàu chuyến hoặc thuê một phần khoang tàu để vận chuyển. Việc thuê tàu lưu
cước đòi hỏi kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin về tình hình thị trường thuê
tàu và tính thông các điều kiện thuê tàu. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, chủ
hàng thường uỷ thác việc thuê tàu, lưu cước cho công ty Hàng hải. Cơ sở
pháp lý điều tiết mối quan hệ giữa hai bên uỷ thác thuê tàu với bên nhận uỷ
thác thuê tàu là hợp đồng uỷ thác. Có thể hợp đồng uỷ thác thuê cả năm, cũng
bảo hiệm bao (Open Policy) hoặc là hợp đồng bảo hiểm chuyến (Voyage
Policy), khi mua bảo hiểm bao, chủ hàng thường ký hợp đồng từ đầu năm, còn
đến khi giao hàng xuống tàu xong chủ hàng chỉ gửi đến Công ty bảo hiểm một
thông báo bằng văn bản gọi là “Giấy báo bắt đầu vận chuyển”. Khi mua bảo
hiểm chuyến, chủ hàng phải gửi đến Công ty bảo hiệm một văn bản gọi là “Giấy
yêu cầu bảo hiểm”. Trên cơ sở “Giấy yêu cầu ” này, chủ hàng và Công ty bảo
hiểm đàm phán ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Để ký kết hợp đồng bảo hiểm, cần nắm vững các điều kiện bảo hiểm.
Có 3 điều kiện bảo hiểm chính: Bảo hiểm mọi rủi ro (điều kiện A), bảo
hiểm có tổn thất riêng (điều kiện B) và bảo hiểm miễn tổn thất riêng (điều
kiện C). Cũng có một số điều kiện bảo hiểm phụ như: vỡ, rò, rỉ, mất trộm,
mất cắp và không giao hàng, rỉ và ôxy hoá, hư hại do móc cẩu, dây bẩn do
dầu hoặc mỡ Ngoài ra, còn một số điều kiện bảo hiểm đặc biệt như: bảo
hiểm chiến tranh (War risk), bảo hiểm đình công, bạo động và dân biến
(Strike, Riost and Civil Commontion - Viết tắt: SRCC). Việc lựa chọn
điều kiện bảo hiểm phải dựa trên 4 căn cứ sau:
- Điều kiện hợp đồng: Chẳng hạn khi bán giá CIF chúng ta chỉ mua bảo
hiểm theo điều kiện “C”
- Tính chất hàng hoá.
- Loại tàu chyên chở
- Tính chất bao bì và phương tiện xếp hàng.
Hợp đồng nhập khẩu ký theo điều kiện giao hàng FOB sẽ do bên mua làm
bảo hiểm. Mỗi lô hàng nhập khẩu, sau khi nhân được thông báo bốc xếp của bên
nước ngoài, thông báo cho công ty bảo hiểm các nội dung như tên tàu, số vận
đơn, ngày tàu xuất phát, tên hàng hoá, số lượng, cảng bốc xếp, cảng đích là coi
như đã làm xong thủ tục bảo hiểm, công ty bảo hiểm tự động có trách nhiệm bảo
15
hiểm đối với lô hàng đó, hễ xảy ra tổn thất trong phạm vi bảo hiểm sẽ do công ty
bảo hiểm chịu trách nhiệm.
5. Làm thủ tục Hải quan, nghiệm thu hàng hoá.
như: cho hàng được phép ngang qua biên giới (thông quan), cho hàng đi một
cách có điều kiện (như phải sửa chữa, phải làm bao bì lại ), cho hàng quan sau
khi chủ hàng đã nộp thuế; hàng không được xuất (hoặc nhập khẩu). Nghĩa vụ
16
của chủ hàng là phải nghiêm túc thực hiện các quyết định đó. Việc vi phạm các
quyết định đó thuộc tội hình sự.
6. Giao nhận hàng nhập khẩu với tàu
Theo Nghị định 200/CP ngày 31/12/1973 “Các cơ quan vận tải (ga, cảng)
có trách nhiệm tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu trên các phương tiện vận tải từ
nước ngoài vào, bảo quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi
và giao cho các đơn vị đặt hàng theo lệnh giao hàng của Tổng công ty đã nhập
hàng đó”.
Do đó, đơn vị kinh doanh nhập khẩu phải, hoặc trực tiếp thông qua một đơn
vị nhận uỷ thác giao nhận (như Viettrans chẳng hạn), tiến hành:
- Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tài (ga, cảng) về việc giao nhận
hàng từ tàu ở nước ngoài về.
- Xác nhận với cơ quan vận tài kế hoạch tiếp nhận hàng hoá (như vận
đơn, lệnh giao hàng, ) nếu tàu biển không giao những tài liệu đó cho cơ
quan vận tải.
- Thông báo cho các đơn vị trong nước đặt mua hàng nhập khẩu (nếu hàng
nhập khẩu cho một đơn vị trong nước) về dự kiến ngày hàng về, ngày thực tế tài
chở hàng về đến cảng hoặc ngày xe chở hàng về sân ga giao nhận.
- Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao nhận bốc xếp,
bảo quản và vận chuyển hàng hoá nhập khẩu.
- Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập những biên bản (nếu
cần) về hàng hoá và giải quyết trong phạm vi của minh những vấn đề xảy ra
trong việc giao nhận.
7 .Làm thủ tục thanh toán.
hàng ngoại thương, đơn vị kinh doanh nhập khẩu phải kiểm tra chứng từ và nếu
chứng từ hợp lệ, trả tiền cho ngân hàng. Có như vậy, đơn vị kinh doanh nhập
khẩu mới nhận được chứng từ để đi nhận hàng.
Trình tự tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ:
(1). Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng
mà mình yêu cầu mở một L/C cho người xuất khẩu hưởng.
18
Ngân h ng mà ở L/C
Ngân h ng thông báoà
L/C
Người nhập khẩu
Người xuất khẩu
(2). Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng mở L/C sẽ lập một L/C và
thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài xuất khẩu thông báo việc
mở L/C và chuyển đến người xuất khẩu.
(3). Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo về việc mở
tín dụng đó và khi nhận được bản gốc L/C thì chuyển ngay cho người xuất khẩu.
(4). Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng,
nếu không thì tiến hành đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung thư tín
dụng cho phù hợp với hợp đồng.
(5). Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bồ chứng từ theo yêu cầu của
thư tín dụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở thư
tín dụng thanh toán.
(6). Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C
thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu. Nếu thấy không phù hợp, ngân
hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu.
(7). Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ
cho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
(8). Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín
dụng thì hoàn trả lại cho ngân hàng mở L/C, nếu không thấy phù hợp thì có
không phù hợp với hợp đồng, có bao bì không thích đáng, thời hạn giao hàng bị
vi phạm, hàng giao không đồng bộ
Đối tượng khiếu nại là người vận tải nếu hàng bị tổn thất trong quá trình
chuyên chở hoặc nếu sự tổn thất đó do lỗi của người vận tải gây nên.
Đối tượng khiếu nại là công ty bao hiểm nếu hàng hoá (đối tượng của bảo
hiểm) bị tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ hoặc do lỗi của người thứ ba gây
nên, khi những rủi ro này đã được mua bảo hiểm.
Đơn khiếu nại phải kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất (như biên
giám định, COR, RORO hay CSC ) hoá đơn, vận đơn đường biển (nếu khiếu
nại công ty bảo hiểm).
* Khi thực hiện hợp đồng bán hàng, nếu chủ hàng xuất nhập khẩu bị khiếu
nại đòi bồi thường, cần phải có thái độ nghiêm túc, thận trọng trong việc xem xét
yêu cầu của khách hàng (người nhập khẩu). Việc giải quyết phải khẩn trương kịp
thời có tình có lý.
Nếu khiếu nại khách hàng là có cơ sở, chủ hàng xuất khẩu có thể giải quyết
bằng một trong những phương pháp sau.
- Giao tiếp những hàng hoá bị thiếu hụt hoặc bằng những đợt giao hàng
riêng, hoặc bằng cách giao thêo trong đợt giao hàng sau.
- Chuyên chở trở lại những hàng đã bị khiếu nại và hoàn lại tiền cho người mua.
20
- Sửa chữa khuyết tật của hàng hoá đã khiếu nại với phí tổn do người bán chịu.
- Thay thế những hàng khiếu nại bằng hàng hoá khác phù hợp với điều kiện kinh
tế kỹ thuật đã được thoả thuận với mọi chi phí thay thế hàng đều do người bán chịu.
- Giảm giá đối với số hàng đã bị khiếu nại hoặc đánh sụt giá toàn bộ lô
hàng theo tỷ lệ thuận với mức khuyết tật.
- Khấu trừ một số tiền nhất định về hàng hoá bị khiếu nại trong khi thanh
toán lô hàng sau của cùng một hợp đồng hoặc của một hợp đồng khác.
Đối với những hàng chuyên dụng, thông thường, người ta dùng biện pháp
thay thế hoặc sửa chữa số hàng bị hiếu nại. Còn trong giao dịch về nguyên liệu
và lương thực, người ta thường dùng biện pháp hạ giá hoặc đánh sụt giá số hàng
- Hoá đơn tập trung (Neutral Invoice) trong đó không ghi rõ tên người bán.
+ Bảng kê chi tiết (Specfication): là chứng từ về chi tiết hàng hoá trong
kiện hàng.
+ Phiếu đóng gói (Packing List)
+ Giấy chứng nhận phẩm chất (Certfficate Of Quality): là chứng từ xác
nhận chất lượng của hàng thực giao và chứng minh phẩm chất hàng phù hợp với
các điều khoản của hợp đồng.
+ Giấy chứng nhận số lượng (Certifficate Of Quality): là chứng từ xác nhận
số lượng của hàng hoá thực giao.
* Chứng từ vận tải
Là chứng từ do người chuyên chở cấp xác nhận mình để nhận hàng để chở
Thông thường bao gồm các chứng từ sau:
+ Vận đơn đường biển (Bill Of Lading - Viết tắt là B/L)
+ Biên lai thuyền phó (Mate’s Receipt)
+ Giấy gửi hàng đường biển (Sea Waybill)
+ Phiếu gửi hàng (Shipping Note)
+ Bản lược khai hàng (Manifest)
* Chứng từ bảo hiểm:
Là chứng từ do tổ chức bảo hiểm (trong trường hợp mua bảo hiểm ở Việt
Nam, đó là Công ty Bảo hiểm Việt Nam - BảoViệt) cấp nhằm hợp thức hoá hợp
đồng bảo hiểm và được dùng để điều tiết quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm với
người được bảo hiểm. Trong mối quan hệ này, tổ chức bảo hiểm nhận bồi
thường cho những tổn thất xảy ra vì những rủi ro nhất định đến người mua bảo
hiểm, còn người được bảo hiểm phải nộp cho tổ chức bảo hiểm một số tiền nhất
định gọi là phí bảo hiểm.
Chứng từ bảo hiểm thường được dùng là đơn bảo hiểm (Insurance Policy)
và giấy chứng nhận bảo hiểm (Insurance Certificate).
22
* Chứng từ kho hàng:
Là những chứng từ do Xí nghiệp kho hàng cấp cho người chủ hàng nhằm
động hoạt động kinh doanh là một đơn vị hạch toán độc lập thuộc Cục Hàng
không dân dụng Việt Nam. Đến năm 1994 theo quy định chung của Nhà
nước, Công ty lại được thành lập theo 388/CP (quyết định 1173/QĐ/TCCB-
LD ngày 30 tháng 7 năm 1994) và theo đó đến tháng 10/1994 nhiệm vụ nhập
nhiên liệu bay được chuyển sang đơn vị khác.
Từ tháng 10/1994 đến nay, Công ty hoạt động theo giấy phép đăng ký
kinh doanh số 100162 của Uỷ ban kế hoạch Nhà nước cấp ngày 27/9/1994.
Tổ chức doanh nghiệp theo hình thức quốc doanh.
Công ty có tên giao dịch quốc tế là General Aviation Import-Export Company.
Trụ sở chính :100 Nguyễn Văn Cừ, Gia Lâm, Hà Nội.
Chi nhánh :11 đường Trường Sơn, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí
Minh và đại diện tại liên bang Nga.
24
Vốn kinh doanh (01/07/1993) :11.567,7 triệu đồng.
Trong đó :
Vốn cố định: 2.567,7 triệu đồng.
Vốn lưu động: 9.000 triệu đồng.
Bao gồm các nguồn vốn:
Vốn ngân sách nhà nước cấp : 4.551,6 triệu đồng.
Vốn doanh nghiệp tự bổ sung: 7.016,1 triệu đồng.
2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Công ty.
2.1. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty AIRIMEX.
Công ty thực hiện các nhiệm vụ xuất nhập khẩu máy bay, phương tiện
thiết bị, vật tư phụ tùng cho ngành Hàng không; kinh doanh xuất nhập khẩu
về vật tư, vật liệu và hàng hoá dân dụng; kinh doanh dịch vụ, nhận gửi hàng
hoá, đại lý bán vé, giữ chỗ về Hàng không.
Đối với các mặt hàng thuộc lĩnh vực Hàng không, công ty chỉ nhận hợp đồng
nhập khẩu uỷ thác chứ không nhập khẩu trực tiếp. Bởi lẽ, đây là loại hàng hoá đặc
chủng, có thông số kỹ thuật cao, giá cả lại cực kỳ đắt do vậy nếu nhập khẩu trực
tiếp sẽ không đủ vốn, không đủ chuyên viên kỹ thuật để đảm bảo thụân tiện trong