Tài liệu ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP "HIỆU QUẢ KHAI THÁC CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH CỦ CHI TÂY NINH CỦA CÔNG TY DU LỊCH ĐỆ NHẤT" - Pdf 10

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
HIỆU QUẢ KHAI THÁC
CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH “CỦ
CHI- TÂY NINH” CỦA CÔNG TY
DU LỊCH ĐỆ NHẤT
LỜI NÓI ĐẦU
Nhằm tạo điều kiện cho sinh viên làm quen với thực tế " HỌC ĐI ĐÔI VỚI HÀNH ", có
được cái nhìn tổng quát; giúp cho sinh viên chúng em hạn chế được sự bỡ ngỡ khi ra
trường; hàng năm nhà trường tổ chức cho sinh viên đi thực tập tại các cơ sở theo nội
dung ngành nghề đào tạo. Đây là điều kiện thuận lợi giúp chúng em phát huy được năng
lực bản thân cũng như khả năng áp dụng lý thuyết được trang bị ở trường vào thực tế.Và
học hỏi thêm những điều mà ghế nhà trường chưa nói tới.
Công nghệ thông tin đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Máy tính điện tử không còn
là phương tiện quý hiếm mà đang ngày một gần gũi với con người.Đứng trước sự bùng
nổ thông tin, các tổ chức và các doanh nghiệp đều tìm mọi biện pháp để xây dựng hoàn
thiện hình ảnh Cty và nâng cao hiệu quả phục vụ khách hàng, đưa vị thế Cty lên một tầm
cao mới.
Từ nhu cầu nêu trên, trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Cty TNHH TM- DVDL Đệ
Nhất và Cty TNHH New Focus, em đã sử dụng vốn kiến thức còn hạn chế của mình tìm
hiểu và phân tích :
HIỆU QUẢ KHAI THÁC CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH “CỦ CHI- TÂY NINH” CỦA
CÔNG TY DU LỊCH ĐỆ NHẤT
Đề tài gồm các phần:
PHẦN I: MỞ ĐẦU
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
PHỤ LỤC
Mặc dù em đã nỗ lực học hỏi dựa trên kiến thức đã học và thực tế tại Cty cũng như trên
tuyến Củ Chi- Tây Ninh nhưng do khả năng và thời gian có hạn nên Đồ án tốt nghiệp của
em chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong quý Thầy cô góp ý và

Ngày 27/6/1978 thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam trực thuộc Hội đồng Chính
phủ Qua nhiều lần tách nhập vào các bộ ngành khác nhau;cuối 1992, Tổng cục du lịch
được thành lập.
3/12/2007, Sáp nhập 1 phần Bộ Văn Hoá - Thông Tin, Uỷ Ban Thể Dục Thể Thao ( Tổng
cục TDTT) và Tổng Cục Du Lịch thành Bộ Văn Hoá- Thể Thao và Du Lịch .
25/12/2007, Bộ Văn Hoá - Thể Thao và Du Lịch chính thức đi vào hoạt động. Bộ Văn
hoá, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước; quản lý
nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch
theo quy định của pháp luật.
* Khẩu hiệu ngành du lịch Việt Nam:
• 2001-2004: Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mới
Vietnam - A destination for the new mellennium
• 2004-2005: Hãy đến với Việt Nam
Welcome to Vietnam
• 2006-nay: Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm ẩn
• Vietnam - The hidden charm
* Tổng cục du lịch:
1. Tổng cục Du lịch là cơ quan trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, có chức năng
tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước và thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về du lịch trong phạm vi cả nước.
2. Tổng cục Du lịch có tư cách pháp nhân, có con dấu hình Quốc huy, là đơn vị dự toán
ngân sách cấp II và có tài khoản riêng tại Kho bạc nhà nước.
3. Cơ cấu tổ chức :
¬ Vụ Lữ hành.
¬ Vụ Khách sạn.
¬ Vụ Thị trường du lịch.
¬ Vụ Tài chính.
¬ Vụ Hợp tác quốc tế.
¬ Vụ Tổ chức cán bộ.

ăn, nhà hàng là những vấn đề nên đề cập khi nhắc đến chiếc lược phát triển ngành du lịch
VN.
Và chúng ta đã:
Mạnh tỉnh nào tỉnh đó phát triển du lịch:bắt chước nhau trong các loại hình du lịch…;
đầu tư dàn trải, tràn lan.Lấn sông , biển; khai thác du lịch và quy hoạch tràn lan .… ; xây
dựng các khu du lịch trị giá hàng trăm triệu USD; khoanh vùng và biến đổi hoàn toàn sự
hoang sơ.Huỷ diệt những hòn đảo với giá trị hàng ngàn năm bằng bê tông và cốt
thép.Đóng cửa hầu hết các khu bảo tồn, sự gìn giữ chỉ là bề ngoài. Hàng ngàn ha rừng
nguyên sinh bị chặt phá và vẫn diễn ra dù là khu bảo tồn. Góp phần làm mất sự thuần
chất vốn có của những bản làng được đưa vào phục vụ du lịch.
Trong khi đó:
Sự phát triển về kinh tế -> xây lên những khu du lịch với nguồn nhân lực được đào tạo
hời hợt, chỉ là vẻ bề ngoài. Và cho tiếp quản những khu du lịch vài ba sao. Các khu du
lịch đều chạy theo lợi nhuận, lợi ích lâu dài và giá trị bền vững được tạm quên,khai thác
tài nguyên du lịch và phá huỷ môi trường đến mức báo động…
Theo sự phát triển chung:
Mọi thứ phát triển tới đỉnh điểm sẽ đi vào thoái trào.Du lịch tự túc ngày càng phát triển
theo sự phát triển của công nghệ thông tin. Những hành trình quá nhanh và hời hợt cũng
dần mất dần sự thích thú và thay bằng những gì nguyên sơ, vốn có, sẵn có, giá cao. Loại
hình du lịch tự túc gắn với thiên nhiên, con người nguyên sơ, nguyên chất sẽ là thế mạnh
trong tương lai -> sức hấp dẫn của Việt Nam với du khách quốc tế, với khách nội địa.
Một loại hình đầu tư ít nhất, cần sự tuyên truyền lâu dài, thử nghiệm và dàn trải. Quan
trọng hơn tất cả là cái tâm của người thực hiện.
*** Nỗi đau của du lịch Việt Nam: Nhiều lắm những bãi biển đẹp mê hồn nhưng quanh
năm chỉ có "Sóng vỗ bờ cát trong tiếng reo rì rào của hàng phi lao" thôi. Người Việt Nam
tự hào bởi VN có "Rừng vàng, biển bạc" Như sách vở viết nhưng người dân VN vẫn còn
nghèo đói lắm.
Du Lịch Việt Nam năm 2009 chắc chắn sẻ gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng Kinh
tế.Vậy chúng ta phải đối diện với vấn đề này như thế nào?
Có lẽ các Cty Lữ Hành,Lưu trú các cơ quan ban ngành liên quan và cơ quan truyền

phẩm du lịch đi vào ngõ cụt, không có sự mới lạ trong du lịch-> khách mất hẳn hứng thú
đi du thị trường du lịch suy sụp ( Vậy là thêm 1 nguyên nhân nữa khiến◊lịch du lịch Việt
Nam chưa phát triển tốt ngoài nguyên nhân khủng hoảng kinh tế toàn cầu) .
Để có được 1 sản phẩm khai thác, doanh nghiệp cần phải đầu tư :
+ Thăm dò thị trường: xác định đối tượng khách du lịch , nhu cầu và sở thích du lịch; khả
năng tài chính và quỹ thời gian rảnh của khách ….Ngoài ra còn thăm dò các thông tin
trong và ngoài ngành, sự cạnh tranh trên thị trường của các đối thủ.
+ Thiết kế chương trình du lịch : xây dựng tuyến du lịch và độ dài của tour, các phương
tiện vận chuyển và cơ sở phục vụ lưu trú và ăn uống và các dịch vụ phụ (nếu có)… và
hoạch định lộ trình, bố trí thời gian thực hiện chương trình sao cho hợp lý.
+ Định giá chương trình du lịch:Xác định công thức tính giá tour và xác định gía tiền
khách phải trả cho Cty để mua tour.
+ Bán thử sản phẩm : Để thăm dò thị trường
+ Điều chỉnh chiến lược kinh doanh : cho phù hợp thị trường. Điều chỉnh đối tượng phục
vụ, hạ giá thành sản phẩm, thiết kế lai chương trình hay nghiên cứu chương trình du lịch
mới….
1.4.Giá trị khai thác của các chương trình du lịch đối với doanh nghiệp.
Giá trị khai thác chương trình đối với doanh nghiệp tính theo nhiều cách:
- Giá trị khai thác= doanh thu khai thác thực tế chương trình doanh nghiệp/ tổng doanh
thu công ty* 100%
- Giá tri khai thác= tổng lượt khách công ty / tổng lượt khách chương trình đến với địa
phương*100%……
1.5.Lý do chọn đề tài: “Hiệu quả khai thác chương trình du lịch Củ Chi- Tây Ninh của
Cty du lịch Đệ Nhất”
Hiện nay, trào lưu du lịch mới là tìm về với những miền quê và du lịch về nguồn, khám
phá. Một số nơi đã, đang và sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn. Tại Tp. Hồ Chí Minh , một số
điểm đến khá lý thú như: Khu du lịch Văn Thánh, Tân Cảng, Làng du lịch Bình Quới, Bà
Điểm- Hóc Môn ( 18 thôn vườn trầu), Vàm Sát- Cần Gìờ… và trong đó có quê hương
“địa đạo’. Vị trí quê hương địa đạo khá hấp dẫn: gần vùng đất của toà thánh Tây Ninh,
gần “Tp. Ánh Dương” và cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, con người thôn quê chất phác và

lịch , khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện “.
Theo I.Ipirogionic 1985 :“Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi
liên quan với sự di chuyển và lưu trú lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên
nhằm nghĩ ngơi , chữa bệnh , phát triển thể chất và tinh thần , nâng cao trình độ nhận
thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tự nhiên , kinh tế và văn
hoá”
Theo nhà kinh tế học người áo Josep Stander nhìn từ góc độ du khách thì :“Khách du lịch
là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thảo mãn sinh hoạt cao cấp
mà không theo đuổi mục đích kinh tế” .
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách : du lịch là một trong những hình
thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang vùng khác , từ nước này sang nước khác
mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.
Nhìn từ góc độ kinh tế : du lịch là một ngành kinh tế , dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho
nhu cầu tham quan giải trí nghĩ ngơi có hoặc không kết hợp với các hạot động chữa
bệnh , thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Kết luận :
Du lịch là đi đến một nơi khác xa nơi cư trú để nghỉ dưỡng … trong thời gian rỗi .
Du lịch bao gồm các hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham
quan khám phá và tìm hiểu trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi , chữa bệnh ,giải
trí ,thư giãn … trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi
trường sống định cư ; nhưng loại trừ các du hành có mục đích chính là làm việc kiếm
tiền.
Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định
cư.
Tổ Chức Và Điều Hành Chương Trình Du Lịch
Là quá trình vừa sản xuất vừa tiêu thụ sản phẩm du lịch. Đây là các giai đoạn hết sức
phức tạp và rất quan trọng trong việc tạo ra chất lượng sản phẩm du lịch. Bao gồm : nắm
bắt thị hiếu của khách hàng -> từ đó xây dựng và thiết kế chương trình du lịch , chuẩn bị
phương tiện vận chuyển cho du khách, thực hiện các chương trình xúc tiến du lịch …
Tổ chức và điều hành chương trình du lịch thành công nhất thiết cần chú trọng đến nhà

hành tổ chức trong đó xác định thời gian chuyến đi, nơi đến du lịch, các điểm dừng chân,
dịch vụ lưu trú, vận chuyển, các dịch vụ khác và giá bán của chương trình. Nó là sản
phẩm chủ yếu và đặc trưng của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành.
Khái niệm thứ hai về chương trình du lịch:
Chương trình du lịch được biểu hiện là những mẫu để người ta tổ chức những chuyến du
lịch một kế hoạch hành trình đã được định phải bao gồm :
Tổng quỹ thời gian dành cho du lịch : một ngày hay nhiều ngày.
Tuyến hành trình hay lộ trình.
Kế hoạch hoạt động chi tiết cho từng ngày.
Phương án vận chuyển : lưu trú, ăn uống cùng các hoạt động vui chơi giải trí khác.
Phân loại chương trình du lịch:
Căn cứ vào phương thức tổ chức chia làm 3 loại cơ bản:
Chương trình du lịch theo nguyện vọng khách hàng: khách hàng không bị ràng buộc về
thời gian, đáp ứng được nhu cầu của du khách về chất lượng dịch vụ sẽ tốt hơn.
Chương trình du lịch do doanh nghiệp lữ hành tổ chức xây dựng và thực hiện : khách
hàng sẽ biết trước nội dung chương trình cũng như phương tiện, thời gian, loại khách sạn
và giá cả định sẵn rồi mới quyết định lựa chọn tour muốn đi.
Nhược điểm của loại tour này là du khách phụ thuộc vào công ty bán sản phẩm về lịch
trình đã định và có thể bị mất chi phí vào những dịch vụ mà du khách không sử dụng.
- Chương trình kết hợp hai loại trên.
1.2 Đặc điểm về hoạt động kinh doanh lữ hành.
a. Đặc điểm về sản phẩm lữ hành: là sự kết hợp các hàng hóa và dịch vụ du lịch nhằm
phục vụ khách trong quá trình đi du lịch.
Sản phẩm du lịch là toàn bộ những yếu tố phục vụ cho khách du lịch nhằm đáp ứng nhu
cầu và mong muốn của họ. Nó bao hàm các dịch vụ về du lịch, hàng hóa, các tiện nghi
cung cấp cho du khách, được tạo bởi các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và lao động du lịch tại
một vùng, một cơ sở nào đó.
b. Đặc điểm về các yếu tố cấu thành:gồm có:
- Những thành phần tạo lực hút( hấp dẫn ) du khách:các điẻm du lịch, tuyến du lịch để
thoả mãn cho nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn của du khách. Đó là những cảnh quan

a. Vị trí. Hoạt đông kinh doanh: không thể thiếu trong mỗi công ty đặc biệt là ngành du
lịch. Không có kinh doanh có nghĩa là không có sự tồn tại bởi vì nó đem lại lợi
nhuận,nguồn sống …. cho Cty.Cho nên kinh doanh là bộ phận rất cần thiết và không thể
thiếu của một cty.
b. Ý nghĩa. đem lại doanh số và lợi nhuận cho cty nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển
của cty
1.4 Vai trò của bộ phận điều hành trong kinh doanh du lịch.
Đối với công ty nhà nước:
Điều hành là người đặt các dịch vụ sau khi hợp đồng đã được ký kết, nếu đặt sai thì phải
bỏ tiền bù lỗ.
Đối với công ty tư nhân (TNHH), Cty liên doanh, cổ phần…
Điều hành là cánh tay mặt của Giám Đốc, linh hồn của Cty.
Điều hành là người chỉ đạo tất cả mọi hoạt động như: ký kết hợp đồng với khách sạn và
các khu du lịch, sales, doanh số, nhân sự và đặt các dịch vụ trên tour như: Khách sạn, nhà
hàng, xe, ăn uống ),
Là người triển khai chiến lược kinh doanh và quản lý phòng sales, đưa ra các bảng giá
dịch vụ để nhân viên sales ký hợp đồng.
Kết hợp mật thiết với Hướng dẫn viên trong quá trình thực hiện tour, xử lý tình huống
trên tour….
1.5 Hoạt động của bộ phận kinh doanh ( Sales và marketing) trong bộ phận điều hành:
Vai trò của Sales và marketing trong hoạt động của điều hành: các bộ phận này phải luôn
gắn kết với nhau, vì điều hành là người nắm vững giá các dịch vụ (xe, nhà hàng, khách
sạn, điểm tham quan)
Nhân viên sales phải luôn duy trì mối quan hệ với điều hành để tính giá tour chính xác,
cập nhật kiến thức tuyến điểm, dịch vụ… để tư vấn cho khách
Marketing, là bộ phận lên các chương trình khuyến mãi cho công ty, tiếp thị hình ảnh của
công ty đến khách hàng thì cũng phải dựa vào điều hành để lên kế hoạch và dự trù kinh
phí marketing.
Vd: chi phí quà tặng, hậu mãi, giảm giá
1.5.1.Khái niệm về Sales và Marketing.

đơn vị cung ứng du lịch phải tìm cách đưa khách hang đến với sản phẩm).
Marketing du lịch hiện nay đã trở thành một tổng hợp các phương pháp quảng cáo du lịch
ngày càng hoàn chỉnh để sử dụng vào việc đầu tư và cải tạo những thị trường du lịch, đặc
biệt những thị trường giàu tiềm năng và sức phát triển như Việt Nam. Marketing đã thực
sự trở nên cần thiết hơn bao giờ hết để đáp ứng nhu cầu đi du lịch của mọi người. Đến
nay vẫn chưa có một định nghĩa nào được hoàn chỉnh bao quát được toàn bộ ý nghĩa và
nội dung của Marketing du lịch.
Tuỳ theo từng khu vực, từng lĩnh vực, từng mục đích mà người ta nêu những định nghĩa
về Marketing du lịch khác nhau. Nhưng chắc chắn, dù khác nhau thế nào đi nữa, những
cốt lõi và nguyên lý cơ bản của Marketing du lịch cũng được dựa trên những cốt lõi và
nguyên lý của Marketing nói chung.
8 P trong Marketing du lịch
1. Probing :Nghiên cứu thị trường
2. Partitioning hân khúc thị trường
3. Prioritizing:Định vị mục tiêu ưu tiên.
4. Positioning the competitive options :Định vị mục tiêu cạnh tranh.
5. Product :Sản phẩm
6. Price :Giá cả
7. Place hân phối
8. Promotion :Chiêu thị
Có ý kiến khác cho rằng 8 chữ P cấu thành Marketing trong Du lịch là:
- Trước hết phải kể đến 4 chữ P truyền thống:
1. Product (sản phẩm )
2. Place (địa điểm)
3. Promotion (Quảng bá)
4. Price (Giá cả)
- Ngoài ra, còn 5 chữ P bổ sung trong lĩnh vực khách sạn - lữ hành là:
1. People (Con người)
2. Packaging (Trọn gói)
3. Positioning (Định vị sản phẩm)

Xác nhận các thoả thuận bằng miệng và bằng văn bản.Đảm bảo các khiếu nại của khách
hàng phải được xem xét, kiểm tra và theo dõi từ đầu.
Thương lượng về giá cả với khách hàng. Cung cấp các dịch vụ sau bán, đặc biệt đảm bảo
tất cả các khiếu nại, phàn nàn của khách hàng phải được xem xét nghiêm túc, cẩn thận, và
được chuyển tới các phòng ban tương ứng giải quyết nếu cần thiết.
Thúc đẩy Công ty du lịch phát triển trong khu vực và vùng.Xúc tiến hình ảnh Cty trong
mọi thời điểm và bằng mọi phương tiện liên lạc.
1.5.3.Yêu cầu đối với nhân viên Sales và Marketing:
Thông hiểu về hoạt động và các ứng dụng của máy tính, hệ thống xử lý dữ liệu.Nắm rõ
các thông tin trong việc xây dựng tour tuyến và giá của chúng.Luôn giữ thông tin liên lạc
với các các phòng ban khác, đặc biệt là các phòng quan trọng như: Điều hành, kế toán, …
Hoạt động Sales và Marketing có mối liên hệ mật thiết và không tách rời nhau.
Điều cần nhất của 1 người sale là tính kiên trì , sự trung thực, là tình yêu với nghề đã
chọn:
1. Hiểu rõ sản phẩm mình đang bán + đối tượng khách hàng của mình là ai, nhu cầu của
họ ra sao. Nắm bắt được các tour tuyến, các địa danh du lịch trong cả nước rồi nước
ngoài, cả những kiến thức về xã hội của từng vùng từng miền để bạn có thể tư vấn cho
khách .
2. Tìm được đúng người phụ trách vần đề chính về việc đi du lịch của công ty.
3. Sale phone là 1 trong những cách sale phổ biến.Muốn bán được tour, ít nhất 1 lần phải
gặp được người khách mà mình đã trao đổi qua điện thoại. Hạn chế gửi chương trình qua
fax,email.
4. Khi có cơ hội đi đấu giá tour trực tiếp tại công ty khách với những đơn vị khác, cần
khéo léo nói như thế nào đó để khách hàng biết rằng bạn cũng có thể làm được những gì
mà khách hàng yêu cầu, nhưng không phải là ngay tức khắc.
5. Trong giá tour , phải trích ra 1 ít gọi là tiền “hoa hồng” cho người trực tiếp làm việc
với mình, và phải thật tế nhị khi đề cập đến việc này.
6. Tâm lý chung của khách hàng là rất thích được " tặng", hãy có những phần quà hay
giải thưởng gì đó kèm trong chương trình tour.
7. Khi làm chương trình, phải chú ý về cách thức trình bày, lỗi chính tả, đừng ghi tắt

Marketing du lịch giỏi phải hội tụ những điều cơ bản rồi mới giỏi được:
Phải nắm tối thiểu các kiến thức trong ngành du lịch ,đã được đào tạo ở ghế nhà
trường.
Học hỏi những kinh ngiệm trong nghề (của những người đi trước) và phải nắm được
nhều kiến thức xung quanh (XH, chính trị, tự nhiên ,vi tính.vv.v)=>biết rộng nhưng am
hiểu rõ chứ không quá lan man.
Có 1 ít tố chất của 1 người làm trong nghề( sáng tạo, giao tiếp tốt, hoạt bát,lanh lẹ) và
đặc biệt là yêu nghề
Nguyên tắc chung, mình phải hiểu thật rõ về "sản phẩm" của mình thì mới mong lan tỏa
được cho người khác nôm na là mình phải cảm nhận được mình bị sản phẩm của mình
"chinh phục" thì mới mong chuyện mang sản phẩm của mình đi chinh phục khách hàng
được
Và Marketing cho một T.O (hãng lữ hành) thật là khác với T.A (đại lý du lịch) hotels,
resorts, restaurants thì càng khác!
1. " Muốn bán được sản phẩm thì người bán phải thật hiểu sản phẩm đó ".Có như vậy bạn
mới tư vấn cho khách hiểu về sản phẩm dịch vụ mình được hưởng là như thế nào. Nếu
các bạn muốn bán tour với giá cao, tour chất lượng nhưng không hiểu về nó thì làm sao
thuyết phục được khách.
2.Nhân viên Marketing phải có " Kiến thức xã hội rộng":đơn giản là khách hàng mua
tour đa số không phải làm du lịch ( Họ đều có chức vị quan trọng trong công ty, tổ
chức mới có quyền quyết định) Họ không hiểu mới cần đến chúng ta; đa số họ làm trong
các ngành CNTT, Giáo Dục, Công Nghiệp
Ví dụ:Khi thị trường chứng khoán đang rất phát triển có thể nói là hot với nhiều tin tức
phát đi hàng ngày Nếu bạn muốn bán tour cho một ngân hàng chẳng hạn mà bạn biết
ngân hàng đó đang có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khóan ( TTCK ) thì các
câu chuyện bên lề với chủ đề về chứng khóan là cực kỳ quan trọng ( nói nhỏ) mình cũng
có lần từng đi sales mà có nói chuyện gì về tour đâu mà hợp đồng lớn vẫn cứ ký.
3.Phong cách của nhân viên sales : phải cho khách hàng thấy được hình ảnh của công ty (
vì bạn là đại diện của công ty mà ) mới có thể tin tưởng mà mua tour của bạn được
4.Giá trị Thương Hiệu của công ty mà bạn làm trên thương trường :uy tín, thương hiệu

cách kiểm soát phần thị trường đáng kể trên mạng Internet (tương tự như một phân khúc
thị trường hoặc khu vực địa lý trên thực tế) và nếu họ giành được thị phần đó sớm hơn
bạn, bạn sẽ khó có thể giành lại nó. Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách
hàng thì các công ty cần có những phương tiện hỗ trợ cần thiết để thu hút sự quan tâm
của mọi người và Website chuyên nghiệp là công cụ tốt nhất nhanh nhất hiệu quả nhất để
đưa mọi người đến với công ty bạn.
Khi có 1 website bạn sẽ được: quảng cáo không giới hạn, cơ hội liên kết và hợp tác làm
ăn trên mạng rất lớn, các ứng dụng cho web được sử dụng ngày càng phổ biến giúp bạn
làm được nhiều việc hơn với website của bạn, Website cho phép dễ dàng có thông tin
phản hồi từ phía khách hàng, việc kinh doanh của bạn sẽ mở cửa 24 giờ mỗi ngày, chi phí
nhân viên thấp, tạo một hình ảnh về công ty bạn được tổ chức tốt hơn, tiết kiệm được bưu
phí và chi phí in ấn, cải tiến hệ thống liên lạc, có mặt trên mạng đồng hành với đối thủ
cạnh tranh.
Du lịch Việt Nam muốn phát triển thương hiệu cách nào khác nhanh nhất là xây dựng
website riêng cho mình và rất nhiều doanh nghiệp đã thành công với website của mình.
II- Cơ sở lý luận thực tiễn :
2.1.Tình hình kinh doanh lữ hành tại Tp. HCM những năm gần đây :
Với ưu thế về vị trí địa lý và kết cấu hạ tầng cơ sở vào loại tốt nhất cả nước, TP. Hồ Chí
Minh trở thành một trong những trung tâm du lịch hàng đầu của Việt Nam. TP.Hồ Chí
Minh là cửa ngõ quốc tế đón khách du lịch bằng đường hàng không, đường biển và là đầu
mối giao thông đường bộ trung chuyển khách của khu vực Tây – Đông Nam Bộ. Bên
cạnh đó, với vị trí là Trung tâm kinh tế - văn hóa – tài chính – thương mại – dịch vụ vào
loại tốt nhất cả nước như hệ thống các khách sạn, nhà hàng, công ty du lịch, phương tiện
vận chuyển và đội ngũ cán bộ - nhân viên ngành du lịch được đào tạo bài bản và nhiều
kinh nghiệm, thành phố là nơi đáp ứng khá tốt nhu cầu của khách du lịch đặc biệt là
khách cao cấp.
Trong năm 2007, Thành phố đã đón 2,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng gần 15% so với
năm trước. Khách quốc tế tới thành phố chủ yếu là khách có mức chi trả khá cao đến từ
các nước như: Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Úc, Pháp, Canada, Nga… Tổng doanh thu du lịch
trong năm vừa qua là 24.000 tỷ đồng, tăng 45% so với năm 2006.( Năm 2007 cả nước

còn chưa phong phú. Điều này có nhiều nguyên nhân song do cơ sở hạ tầng, dịch vụ tại
điểm du lịch ở một số địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ khách du lịch,
đường xá còn khó khăn được xem là nguyên do cơ bản nhất.
Trên thực tế, việc đào tạo, tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch cho đội ngũ
những người làm du lịch được các địa phương rất quan tâm song do hạn chế về nguồn
kinh phí nên chủ yếu dừng lại ở việc tư vấn, giới thiệu đối tác hoặc mời các tỉnh tham gia
các lớp bồi dưỡng về du lịch do Sở Văn hoá -Thể thao và Du lịch tổ chức.
Từ những kết quả đạt được, những hạn chế và triển vọng của sự hợp tác, Sở Văn hoá
-Thể thao và Du lịch đã xây dựng định hướng công tác hợp tác phát triển du lịch với các
địa phương trong giai đoạn 2007 – 2010.
Trước hết là việc rà soát lại tình hình hợp tác phát triển để có kế hoạch cụ thể, làm sao
cho việc liên kết đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả.
Sở cũng sẽ tiếp tục triển khai việc ký kết hợp tác trên lĩnh vực du lịch với các địa phương
theo chủ trương của UBND TP Hồ Chí Minh nhưng có chọn lọc dựa trên tiềm năng du
lịch và khả năng hợp tác với từng địa phương. Dự kiến trong Quý I/2008 Sở sẽ triển khai
chương trình ký kết với các tỉnh phía Bắc và trong Quý II/2008 sẽ ký với các tỉnh như:
An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh và Kiên Giang.
Bảng số liệu doanh thu:
2001 2002 2003
Doanh thu dịch vụ du lịch ( tỉ đồng) 2.496 3.051 2.700
Khách nước ngoài đến TP.Hcm( nghìn người) 874 1.031 1.200
2.2.Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển du lịch ở Tp.HCM.
ϖ Thuận lợi :
Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của
ngành du lịch Việt Nam. Trước thời cơ và thách thức khi nước ta gia nhập WTO, du lịch
thành phố đã có những chiến lược phát triển để khẳng định vai trò là ngành kinh tế quan
trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mình.
Là một thành phố trẻ chỉ với hơn 310 năm lịch sử, nhưng Thành phố đã xây dựng được
không ít công trình kiến trúc và sở hữu một nền văn hóa đa dạng.
Các địa điểm du lịch của thành phố tương đối đa dạng. Với hệ thống 11 viện bảo tàng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status