Báo cáo thực tập
Lời mở đầu
Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, một mặt đã tạo cơ hội cho sản
phẩm và hàng công nghiệp Việt Nam được tiếp cận, mở rộng thị trường…
song cũng tạo ra nhiều khó khăn, thách thức. Sắp tới, khi hội nhập WTO, Việt
Nam sẻ phải mở cửa thị trường cho sản phẩm thuốc lá theo cam kết, cho phép
nhập khẩu thuốc lá điếu và dần dần dỡ bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế
quan, thuốc lá nội sẽ phải cạnh tranh với thuốc lá nhập khẩu, nhập lậu, ảnh
hưởng đến sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm trong nước.
Bên cạnh đó, trào lưu hội nhập kinh tế và khu vực đang diễn ra như
một xu thế khách quan. Nó vừa mang lại những cơ hội to lớn, vừa đem lại
những thách thức gay gắt cho tiến trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Là nước có nền kinh tế đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam
không thể đứng ngoài tiến trình chung đang diễn ra trên toàn cầu. Đảng và
Chính phủ đã chủ trương đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, chuẩn
bị mọi điều kiện để sớm gia nhập WTO, nhằm tạo dựng được thế và lực mới
cho đất nước trong thương mại quốc tế, nâng cao vị thế của nước ta trên
thương trường quốc tế. Khi trở thành thành viên của WTO, Việt Nam sẽ phải
mở cửa thị trường thuốc lá theo cam kết, cho phép nhập khẩu thuốc lá điếu và
dần dần dỡ bỏ các rào cản về thuế quan và phi thuế quan. Các tập đoàn thuốc
lá đa quốc gia với tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều kinh nghiệm thâm nhập
thị trường, với hệ thống sản phẩm mẫu mã đẹp, đa dạng, đa chủng loại, đa
dạng về mức giá và có chất lượng cao là những thách thức lớn đối với thuốc
lá Việt Nam khi mở của thị trường.
Trong bối cảnh đó, để đảm bảo ổn định và phát triển bền vững, tăng
khả năng cạnh tranh của sản phẩm thuốc lá điếu, Công ty thuốc lá Thăng
Long cũng như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc lá khác, buộc
phải tìm ra cho mình những giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy sản xuát và
tiêu thụ sản phẩm. Sau một thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế tình hình sản
xuất kinh doanh của Công ty thuốc lá Thăng Long, Nội dung báo cáo thực tập
của em gồm 2 phần:
quyết những vấn đề cấp thiết của đời sống nhân dân và chi viện cho tiền tuyến
lớn miền Nam.
Thời kỳ 1955-1957 được coi là thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến
tranh, việc trồng và sản xuất thuốc lá ở miền Bắc chủ yếu diễn ra một cách tự
phát, tồn tại trong thế khép kín, hạn hẹp, không đủ cung ứng cho nhu cầu tiêu
thụ ngày càng gia tăng của nhân dân. Mặt khác, một số hãng thuốc lá tư nhân
Vũ Thị Thanh Nhàn MSV 030.02969 - Lớp 812
Báo cáo thực tập
lại nắm độc quyền sản xuất - kinh doanh, tự ý thao túng thị trường, gây không
ít khó khăn. Trong gian khổ và thiếu thốn, phương tiện sản xuất lạc hậu, toàn
thể cán bộ công nhân viên đã phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, sáng
kiến, quyết tâm để những điếu thuốc đầu tiên ra đời. Đây chính là nền móng
cho sự hình thành kỹ thuật thuốc lá cũng như sự hình thành một ngành công
nghiệp thuốc lá của Việt Nam.
Nhà máy chính thức bước vào sản xuất khi đất nước ta đang trong
những ngày đầu khôi phục kinh tế, xây dựng CNXH ở miền Bắc, thiếu thốn
tri thức kỹ thuật, cơ sở vật chất cũng như lúng túng trước những bí quyết nghề
nghiệp của một ngành công nghiệp vừa mới mẻ, vừa phức tạp này. Sau gần
một năm lao động khẩn trương và sáng tạo, tháng 9 năm 1959, nhà máy đã
hoàn thành khâu thiết kế cơ bản. Công nghiệp thuốc lá XHCN đã ra đời từ sự
nỗ lực phi thường của cán bộ công nhân viên nhà máy. Thuốc lá không chỉ
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của quần chúng lao động mà dần dần trở thành
một trong những mũi nhọn phát triển kinh tế năng động và hiệu quả. Hàng
xuất khẩu của Thăng Long đã được các bạn hàng tín nhiệm, tạo ra vốn ngoại
tệ mạnh cho nhà máy, góp phần tháo gỡ những khó khăn về ngân sách do
chiến tranh đưa lại. Những thành tích đó đã đưa Thăng Long trở thành đơn vị
tiên tiến của Bộ Công nghiệp nhẹ trong nhiều năm liên tục.
Sang những năm đầu thập kỷ 80, nét nổi bật của Thăng Long là kết hợp
một cách chặt chẽ giữa sản xuất và khoa học kỹ thuật nhằm đạt được hai mục
tiêu cơ bản : nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường khối lượng sản
của Pháp luật. Đây là chức năng cơ bản của một doanh nghiệp sản xuất, đựoc
cụ thể hoá thành các nhiêm vụ sau :
Thứ nhất, Công ty có nghĩa vụ nhận vốn, có trách nhiệm bảo toàn và
phát triển vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực do Tổng công ty giao, thực
hiện các quyết định của Tổng công ty về điều chỉnh vốn và các nguồn lực đầu
vào, đầu ra phù hợp với các hoạt động của công ty trong từng giai đoạn phát
triển cụ thể.
Thứ hai, tiến hành thu mua nguyên liệu đầu vào theo chỉ tiêu, quy định,
kế hoạch của Tổng Công ty về số lượng, chất lượng, cách thức mua. Tiếp
nhận và bảo quản nguyên vật liệu theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo vệ tốt
nguyên vật liệu, đảm bảo dự trữ để sản xuất diễn ra bình thường, liên tục.
Thứ ba, tổ chức sản xuất theo đúng quy trình công nghệ sản xuất thuốc
lá, thực hiện đầy đủ các quy định về chất lượng sản phẩm, các biện pháp an
toàn lao động cũng như các giải pháp bảo vệ môi trường. Thiết lập một hệ
thống kho hàng nhằm giữ gìn nguyên vẹn thành phẩm.
Thứ tư, thiết lập một mạng lưới kênh phân phối rộng khắp các tỉnh,
thành phố trên cả nước để tiêu thụ sản phẩm nhanh, đáp ứng có hiệu quả nhu
Vũ Thị Thanh Nhàn MSV 030.02969 - Lớp 812
Báo cáo thực tập
cầu người tiêu dùng. Xây dựng hệ thống các đại lý, văn phòng đại diện nhằm
đẩy mạnh tiêu thụ.
Thứ năm, trực tiếp thực hiện việc điều tra nghiên cứu thị trường, phát
triển những thị trường mới đi đ”i với việc nghiên cứu chế tạo những sản phẩm
mới để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Đồng thời, Công
ty cũng có nhiệm vụ theo dõi việc phân phối, sử dụng thuốc lá, phát hiện
những nhược điểm, thiếu sót cũng như những tiêu cực để có những đề nghị
cải tiến, khắc phục kịp thời.
Thứ sáu, thực hiện công tác hậu cần vật tư phục vụ cho sản xuất : trực
tiếp đến các địa phương khảo sát, xem xét, tìm hiểu khả năng thực tế trong
việc khoanh vùng sản xuất nguyên liệu cho Công ty, lên kế hoạch đầu tư vốn,
• Phòng thị trường
• Phòng kế hoạch
• Phòng tổ chức
Các phân xưởng hoạt động và chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc
Công ty :
• Phân xưởng sợi
• Phân xưởng bao mềm
• Phân xưởng bao cứng
• Phân xưởng Dunhill
• Phân xưởng cơ điện
• Phân xưởng chuẩn bị sản xuất
• Đội xe
• Đội bốc xếp
• Đội bảo vệ
Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý và sản xuất của công ty
Đội bảo vệ
Đội bốc xếp
Đội xe
Phân xưởng chuẩn bị SX
Phân
Xưởng
Cơ
điện
Phân xưởng Dunhil
Phân xưởng bao cứng
Phân xưởng bao mềm
Phân xưởng sợi
Phó giám đốc
kỹ thuật
Phòng kỹ thuật cơ điện
3,162 tỷ đồng tương ứng tăng 2,828% so với năm 2004. Năm 2006, tăng
2,802 tỷ đồng, tương ứng 2,44% so với năm 2005. Công ty luôn giữ cơ cấu
vốn ở mức ổn định, TSLĐ/TSCĐ là 30%/70%. Đây là kết cấu vốn tương đối
hợp lý và an toàn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc lá trong
tình hình hiện nay.
Vũ Thị Thanh Nhàn MSV 030.02969 - Lớp 812
Báo cáo thực tập
Bảng số liệu trên cho thấy qui mô vốn của Công ty trong 3 năm qua
tăng với nhịp độ đều đặn, năm sau tăng hơn năm trước : năm 2005, vốn cố
định là 82,758 tỷ đồng, tăng 4,15% so với năm 2003 và tăng 3,32% so với
năm 2004. Qui mô vốn lưu động tăng chậm hơn so với vốn cố định, năm 2005
chỉ tăng 2,55% so với năm 2003 và 1,58% so với năm 2004. Vốn tự bổ sung
tăng lên qua các năm thể hiện hoạt động kinh doanh của Công ty là có hiệu
quả. Công ty đã chủ động được nguồn vốn cho kinh doanh và mở rộng sản
xuất, giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, giảm được chi phí và sự phụ
thuộc vào bên ngoài.
Công ty khai thác nguồn vốn bằng cách chủ yếu là sử dụng vốn chủ sở
hữu, tăng các khoản phải trả, phải nộp…Trong tổng số nguồn vốn năm 2005
là 114,950 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu là 77,282 tỷ đồng, chiếm 67,23%. tỷ lệ
này cho thấy Công ty có khả năng tài chính ổn định, độc lập tự chủ về vốn
cao, ít lệ thuộc vào Tổng Công ty và các đơn vị khác.
Vũ Thị Thanh Nhàn MSV 030.02969 - Lớp 812
Báo cáo thực tập
Bảng 1: Cơ cấu vốn của Công ty qua 3 năm 2004 - 2006
Đơn vị: triệu đồng
Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
So sánh tăng, giảm
2005/2004
So sánh tăng, giảm
2006/2005
tiêu chí trình độ. Đây chính là tầm nhìn về sự phát triển lâu dài và bền vững
cảu công ty.
Hiện nay, tổng số lao động của công ty là 1244 người được chia làm 2
bộ phận:
- Công nhân trực tiếp sản xuất có 852 người, chiếm 68,5%.
- Cán bộ quản lý, nhân viên nghiệp vụ có 392 người, chiếm khoảng
31,5%.
Nhận xét: nhìn chung, Công ty Thuốc lá Thăng Long là một công ty có
đội ngũ cán bộ có trình độ cao, năng động, sáng tạo. Hằng năm, toàn công ty
c ó hàng nghìn sáng kiến để giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh, trong đó khoảng một phần năm ý kiến được áp dụng đã
giúp công ty tiết kiệm được hàng tỷ đồng.
Tuy nhiên, do hoạt động xuất khẩu của công ty mới được quay lại hoạt
động trong 5 năm gần đây nên cán bộ nghiên cứu tt, đặc biệt là tt xuất khẩu
còn thiếu cả về số lượng và chất lượng.
Vũ Thị Thanh Nhàn MSV 030.02969 - Lớp 812
Báo cáo thực tập
Bảng 2: Cơ cấu nhân lực của Công ty qua 3 năm 2004 - 2006
Đơn vị: người
Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
So sánh tăng,
giảm 2005/2004
So sánh tăng,
giảm 2006/2005
Số lượng
Tỷ
trọng
(%)
Số
lượng
máy móc mới được bổ sung. Ta có thể qua bảng thống kê sau:
Bảng 3: Thống kê máy móc thiết bị của công ty
Năm
đưa vào
sản xuất
Tên máy móc thiết bị và các hoạt động
đầu tư
Số
lượng
(cái)
Công
suất thiết
kê
Đơn vị
1993 Hệ thống điều hoà:
Máy DAIKIN FR40J 5
Là hơi Tây Đức 2 4,6 Tấn/giờ
Máy nén khí 2 10 cm2/phút
Hệ thống điện
Dây chuyền sợi Trung Quốc 1 3000 Kg sợi/giờ
Dây chuyền sản xuất thuốc lá Dunhill
1994 Máy đóng tút bao cứng
Lắp đặt hệ thống nồi hơi
Lắp đặt hệ thống điều hoá cho kho
thành phẩm
2001 Máy nén khí
Máy ép sợi
1
6
2002 Trung tu, đại tu lại tất cả các máy chế