1
2
3
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại ngày nay, mỗi một quốc gia đều đứng trước những thời cơ
và thách thức to lớn, đó là sự bùng nổ thông tin, sự phát triển như vũ bão của
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, dẫn đến sự hình thành xã hội thông tin và
nền kinh tế tri thức. Trong đó, trình độ dân trí, tiềm lực khoa học - công nghệ trở
thành một trong những nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế c
ủa mỗi quốc gia.
Do đó, việc tập trung đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo (GD-ĐT) là
chiến lược quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia.
Đối với nước ta, trước yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với GD-ĐT,
Đảng và Nhà nước đã tập trung đưa ra những quyết sách lãnh đạo, đầu tư cho
giáo dục. Coi việc đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển và là l
ĩnh vực đầu
tư có hiệu quả nhất, nhằm đưa chất lượng GD-ĐT của Việt Nam từng bước phát
triển ngang tầm với khu vực và thế giới. Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Giáo dục – đào tạo là quốc sách
hàng đầu”, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX cũng nhấn mạnh: “Phát tri
ển
giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người –
yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” .
nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính
phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục
và đào tạo”. Vận dụng chủ trương của Đảng, thực hiện việc đổi m
ới giáo dục,
ba năm gần đây, khi xác định nhiệm vụ của toàn ngành, Bộ GD-ĐT đều có nhấn
mạnh việc tăng cường ứng dụng CNTT trong các hoạt động của nhà trường.
Trong đó, năm học 2006-2007, Chỉ thị số 32/2006/CT-BGDĐT ngày 01 tháng 8
năm 2006 nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học; tăng cường
ứng dụng CNTT vào các hoạt động của nhà trường, nh
ất là ứng dụng trong
giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục”. Năm học 2007- 2008, Chỉ thị số
39/2007/CT-BGDĐT ngày 31 tháng 7 năm 2007, nhấn mạnh: “Xây dựng và đưa
vào khai thác hệ thống các công cụ phục vụ đổi mới phương pháp dạy và học,
đánh giá học sinh: ứng dụng tin học để thực hiện giáo án điện tử, xây dựng
ngân hàng đề kiểm tra tất cả các môn, xây dựng bộ
tài liệu hướng dẫn giáo viên
đổi mới phương pháp dạy học, phát triển và ứng dụng các phần mềm mô phỏng
phục vụ dạy học”. Đặc biệt, trong năm học 2008- 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo
phát động là "Năm học ứng dụng công nghệ thông tin", Chỉ thị số 47/2008/CT-
BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2008 xác định: “Đẩy mạnh một cách hợp lý việc
triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong
đổi mới phương pháp dạy và học
5
ở từng cấp học. Ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học, từng bước đổi mới
phương pháp dạy học thông qua việc thực hiện bài giảng điện tử, xây dựng cơ
sở dữ liệu điện tử cho học tập từng môn, ứng dụng các phần mềm mô phỏng thí
nghiệm, xây dựng thư viện bài giảng đ
iện tử, hướng tới triển khai công nghệ học
điện tử (e-Learning); tăng cường giao lưu trao đổi bài soạn qua mạng; phát huy
6
phẩm chất và năng lực đáp ứng cho xã hội mới, trong đó có việc ứng dụng và
phát triển CNTT. Chính vì vậy, đội ngũ GV cần phải được định hướng trong
hoạt động ứng dụng CNTT để phục vụ tốt cho công tác dạy học của mình góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, trong đó có trường THPT.
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương đẩy mạnh
ứng dụng CNTT
trong nhà trường, xem CNTT như là công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới
phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học, đội ngũ GV các trường
THPT đã có nhiều cố gắng trong việc ứng dụng CNTT vào việc dạy học. Tuy
nhiên, việc ứng dụng CNTT của đội ngũ GV nhìn chung vẫn còn chậm, chủ yếu
ở lớp GV trẻ, mang tính tự phát nhiề
u, chưa thật sự trở thành một nhu cầu, kết
quả chưa đáp ứng yêu cầu mong muốn. Hơn nữa việc ứng dụng CNTT còn chịu
sự tác động, cách thức quản lý của hiệu trưởng các trường THPT. Mà phần lớn
chỉ dừng lại ở mức chủ trương hoặc thực hiện không thường xuyên, chưa sâu
rộng, chưa thực sự trở thành một hoạt
động quan trọng của nhà trường.
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên cần thiết phải có những biện
pháp quản lý cụ thể tác động đến hoạt động ứng dụng CNTT của đội ngũ GV,
đặc biệt là hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học, tạo ra động lực, tìm ra
cách thức tổ chức hoạt động ứng dụng CNTT một cách khoa học và hữu hi
ệu.
Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT, đáp ứng yêu cầu
giáo dục học sinh trong xã hội mới.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt
động ứng dụng CNTT trong dạy học của đội ngũ giáo viên Trung học phổ
thông”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích- tổng hợp tài
liệu, phân loại tài liệu… nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên
cứu.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra
giáo dục, phương pháp quan sát, phương pháp dự giờ, phương pháp
nghiên cứu sản phẩm, phương pháp phỏng vấn, phương pháp chuyên gia,
phương pháp tổng kết kinh nghiệm… nhằm khảo sát, đánh giá hoạt
động
8
ứng dụng CNTT trong dạy học của đội ngũ GV và xác lập các biện pháp
quản lý của Hiệu trưởng.
- Nhóm các phương pháp xử lý thông tin: Sử dụng thống kê toán học để
xử lý kết quả nghiên cứu. Dùng phần mềm tin học để vẽ sơ đồ, đồ thị
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu công tác quản lý của Hiệu trưởng đối với
hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học của đội ngũ GV ở các trường THPT
công lập trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
8. CẤU TRÚC DỰ KIẾN CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 3 phần:
Phần thứ nhất: Mở đầu.
Phần thứ hai: Nội dung nghiên cứu, gồm 3 chương:
• Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ứng dụng CNTT
trong dạy học của đội ngũ GV THPT
• Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động ứng dụng CNTT
trong dạy học của đội ngũ GV của Hi
ệu trưởng trường THPT ở
tỉnh Đồng Nai.
• Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong
ở nên một vấn đề toàn cầu. CNTT mang đến sự
đổi mới về cách dạy và cách học cho mọi cấp học. Từ đó, các quốc gia đã
nghiên cứu vai trò, lợi ích của CNTT, ứng dụng CNTT vào công tác dạy học,
đổi mới phương pháp dạy học và công tác quản lý giáo dục, xem CNTT như là
công cụ, phương tiện dạy học mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
Đặc biệt, với sự
ra đời của các phần mềm dạy học đã hỗ trợ đắc lực cho việc đẩy
mạnh ứng dụng CNTT vào dạy học bộ môn như phần mềm Crocodile Physics,
Crocodile Chemics, Geometer’s Sketchpad, Encarta
Ở nước ta, việc ứng dụng CNTT trong GD-ĐT bước đầu cũng có thể xem
là việc đưa kiến thức tin học vào dạy trong nhà trường. Vào đầu những năm 80,
10
ngành giáo dục nhận thức được sự cần thiết phải trang bị cho thế hệ trẻ các kiến
thức phổ thông về tin học. Đến năm 1985, những kiến thức nhập môn tin học đã
được triển khai dạy thí điểm ở một số địa phương. Từ năm học 1990 - 1991, một
số kiến thức tin học đã chính thức được đưa vào dạy trong chương trình c
ủa lớp
10 Trung học phổ thông. Từ năm học 1993 - 1994, tin học đã trở thành một môn
học có giáo trình riêng. Bên cạnh đó, CNTT được đưa vào nhà trường với tư
cách là công cụ hỗ trợ công các quản lý như quản lý học sinh, quản lý nhân sự,
quản lý thư viện, quản lý kết quả học tập, xếp thời khoá biểu, trao đổi dữ liệu
tuyển sinh giữa các trường cao đẳng, đại học. H
ướng thứ ba của việc ứng dụng
CNTT vào nhà trường là máy vi tính cùng với các phần mềm và Internet được
sử dụng với tư cách là phương tiện dạy học mới.
Là ngành khoa học ra đời muộn, nhưng rõ ràng CNTT đã và đang phát
triển với tốc độ rất nhanh. Nhận thức được vai trò to lớn của CNTT nên đã có
nhiều tài liệu, công trình, báo cáo viết về ứng dụng CNTT trong GD-ĐT, đặc
biệt là đối vớ
dục số 185;
- Đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở tr
ường phổ thông
Việt Nam” do PGS. TS. Đào Thái Lai làm chủ nhiệm, dưới sự chủ trì của Viện
Chiến lược và Chương trình giáo dục, được thực hiện trong 2 năm (2003-2005),
với sự tham gia thực hiện của nhiều cá nhân, đơn vị trong và ngoài Viện. Sau
thời gian thực hiện đề tài đã thu được những kết quả nhất định và là tài liệu tham
khảo quý báu. Đề tài đã đưa ra được những nguyên tắc chung và phương pháp
ứng dụng CNTT trong dạy học một số môn.
Ngoài ra, còn có các Hội thảo khoa học với chủ đề “Ứng dụng công nghệ
thông tin trong giáo dục và đào tạo” nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu
quả giáo dục
Có thể thấy các bài viết, đề tài, công trình thường chỉ chú ý nhấn mạnh
đến vai trò của CNTT và việc ứng dụng nó trong hoạt động nghề nghiệp mà
chưa đề cập nhiều đến qu
ản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong nhà trường, mà
cụ thể là quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học của đội ngũ GV một
cách rõ ràng, có hệ thống.
12
Ngay từ năm 2003 ngành Giáo dục Đồng Nai đã triển khai thực hiện đề án
"Ứng dụng công nghệ thông tin đối với bậc THPT". Đề án này bước đầu đã
mang lại hiệu quả thiết thực trong việc dạy và học. Một trong những kết quả rõ
nét nhất từ khi triển khai đề án Ứng dụng công nghệ thông tin đối với các trường
THPT là song song với cách dạy học truyền thống “phấn trắng b
ảng đen” lâu
nay, học sinh Đồng Nai sớm được làm quen với tiết giảng có ứng dụng CNTT.
Đây là một bước ngoặt quan trọng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy
theo xu hướng hiện đại. Từ chỗ chỉ có số ít giáo viên biết tin học, đến nay qua
các khoá tập huấn, 100% giáo viên THPT đã có trình độ căn bản bộ môn này,
a. Kế hoạch hoá hoạt động ứng dụng CNTT
b. Tổ chức hoạt động ứng dụng CNTT
c. Chỉ đạo hoạt động ứng dụng CNTT
d. Kiểm tra hoạt động ứng dụng CNTT
1.3.2. Phương tiện quản lý của hiệu trưởng
a. Chế định GD-ĐT
b. Bộ máy tổ chức và nhân lực ứng dụng CNTT
c. Nguồn tài lực - v
ật lực ứng dụng CNTT
d. Môi trường ứng dụng CNTT
đ. Hệ thống thông tin ứng dụng CNTT
1.3.3. Phương pháp quản lý của hiệu trưởng
a. Phương pháp tổ chức – hành chính
b. Phương pháp kinh tế
c. Phương pháp tâm lý – giáo dục
1.3.4. Các yêu cầu đặt ra đối với hiệu trưởng
1.4. NỘI DUNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY
HỌC CỦA GV THPT
1.4.1. Nâng cao nhận thức cho GV
1.4.2. Quản lý việc nâng cao trình độ về CNTT cho GV
1.4.3. Quản lý việc ứng dụng CNTT của GV trong hoạt động dạy học
1.4.4. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của GV
1.4.5. Quản lý các điều kiện hỗ trợ cho việc ứng dụng CNTT của đội ngũ
GV
14
1.5. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC CỦA GV THPT
1.5.1. Những yếu tố chủ quan
1.5.2. Những yếu tố khách quan
2.3.6. Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của GV
2.3.7. Thực trạng quản lý về đảm bảo các điều kiện cho hoạt động ứng
dụng CNTT
2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC CỦA ĐỘI
NGŨ GV
2.4.1. Mặt mạnh
2.4.2. Mặt yếu
2.4.3. Thuận lợi cơ bản
2.4.4. Khó khăn chủ yếu
Kết luận chương 2
CHƯƠNG 3
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH ĐỒNG NAI
3.1. NGUYÊN TẮC XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP
3.2. CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ
3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về ứng dụng CNTT cho đội ngũ
GV trường THPT
3.2.2. Biện pháp 2: Nâng cao trình độ về ứng dụng CNTT cho đội ngũ
GV
3.2.3. Biện pháp 3: Tăng cường quản lý việc ứng dụng CNTT của đội
ngũ GV trong dạy học
3.2.4. Biện pháp 4: Tăng cường quản lý việc đổi mới phương pháp dạy
học của đội ngũ GV theo hướng ứng dụng CNTT
16
3.2.5. Biện pháp 5: Tăng cường quản lý hoạt động NCKH của GV
3.2.6. Biện pháp 6: Đảm bảo các điều kiện hỗ trợ cho việc ứng dụng
CNTT của đội ngũ GV
liệu bài giảng, Hà Nội.
9. Chính phủ (1993), Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ về phát triển công
nghệ thông tin ở nước ta trong những năm 90.
10. Đảng bộ Tỉnh Đồng Nai (2005), Nghị quyết Đại hội Đại biểu
Đảng bộ tỉnh
Đồng Nai lần thứ VIII.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X.
NXB chính trị quốc gia, Hà Nội.
13. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
18
14. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ
điển Giáo dục học, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội.
15. Trần Minh Hùng (2007), Các biện pháp quản lý của hiệu trưởng về việc
nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ, giảng
viên tại Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục
học.
16. Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thực
tiễn, NXB giáo dục.
17. Trần Kiểm (2002), Khoa học quản lý nhà trường phổ thông, NXB Đại học
quốc gia Hà Nội.
18. Đào Thái Lai (2006), “Những yêu cầu đối với người giáo viên về ứng dụng
công nghệ thông tin trong hoạt động nghề nghiệp”, Nghiên cứu Khoa học
Giáo dục, số 5.
19. Luật công nghệ thông tin (2006), NXB Tổ
ng hợp TP Hồ Chí Minh.
20. Luật giáo dục (2005), NXB Giáo dục.