Luận văn: Chế độ pháp lý về đấu thầu xây dựng và thực tiễn áp dụng tại Công ty cơ khí Hà nội - Pdf 11


1
Luận văn
Chế độ pháp lý về đấu thầu
xây dựng và thực tiễn áp dụng
tại Công ty cơ khí Hà nội

2
LỜI NÓI ĐẦU

Với đường lối và chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ , kinh tế
nước ta đang trên đà phát triển về mọi mặt. Góp phần vào công cuộc xây dựng
đất nước thì một yếu tố vô cùng quan trọng phải nói đến đó là một hệ thống cơ
sở hạ tầng vững chắc. Mà một hệ thống cơ sở hạ tầng vững chắc thì phải bao
gồm đầy đủ các công trình giao thông vận tải, cầu cống, kho tàng, bến bãi,
trường học, bệnh viện, cơ sở vật chất kỹ thuật Để hệ thống này hoàn thiện và
vững chắc thì hoạt động đầu tư xây dựng phải được quan tâm, thúc đẩy phát
triển một cách kịp thời và có hiệu quả. Ngành công nghiệp cơ khí có tầm quan
trọng đặc biệt đến sự an nguy của mỗi Quốc gia nên chúng ta càng phải quan
tâm đến nhiều. Với sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế, quy mô hoạt động
của ngành công nghiệp cơ khí ngày càng được mở rộng. Ngày nay dù đã có sự
tiến bộ vượt bậc của công nghiệp, công nghệ thông tin, cơ khí vẫn là một trong
các ngành công nghiệp có ý nghĩa quyết định đến thành công của công nghiệp
hoá, hiện đai hoá nước nhà.
Trong nền kinh tế thị trường nói chung và thị trường xây dựng nói riêng,
trên cơ sở cạnh tranh, hoạt động đấu thầu là một sản phẩm tất yếu đã ra đời và
phát triển mạnh mẽ. Đấu thầu là hình thức kinh doanh có hiệu quả nhất đối với
cả với chủ đầu tư cũng như các doanh nghiệp tham gia đấu thầu, đồng thời đấu

đấu thầu xây dựng ở Công ty cơ khí Hà nội
Kết luận 4
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẤU THẦU VÀ ĐẤU THẦU XÂY DỰNG

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẤU THẦU .
1.1.1 Khaí niệm về đầu thầu.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mọi thành phần kinh tế đều có sự
cạnh tranh, đặc biệt là trong mua bán thì cạnh tranh lại càng gay gắt. Khái niệm
" đấu thầu" đã và đang được nhiều người biết đến, đặc biệt là các công ty, tổng
công ty xây dựng thì đấu thầu đã trở nên quen thuộc. Đấu thầu cũng bắt nguồn
từ tính chất cạnh tranh trong việc mua bán mà ở đó chỉ có một người bán và
nhiều người mua.
Hình thức đấu thầu chỉ mới áp dụng ở nước ta trong những năm gần đây,
đặc biệt là các công trình có chủ đầu tư là các tổ chức và các doanh nghiệp
thuộc sở hữu của nhà nước. Sự ra đời của nó đã góp phần đáng kể trong việc
tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp cùng tham gia dự
thầu.
Cũng giống như đấu giá, hoạt động đấu thầu cũng là một quá trình cạnh
tranh trong mua bán. Nếu đấu giá là hình thức công khai để chọn người bán thì
đấu thầu chỉ có một người mua và nhiều người bán mà những người này lại
cạnh tranh với nhau nên người mua sẽ lựa chọn người bán nào đáp ứng các
yêu cầu mà người mua đặt ra một cách tốt nhất.
Hiện nay có nhiều quan niệm cho rằng đấu thầu là một quá trình lựa

dựng ở nước ta đã cho thấy so với các phương thức tự làm và phương thức giao
thầu thì phương thức đấu thầu có nhiều ưu điềm nổi bật hơn cả. Đấu thầu đã
mang lại lợi ích to lớn cho chủ đầu tư, các nhà thầu cũng như cho Nhà nước.
Mỗi chủ thể khác nhau thì đấu thầu có ý nghĩa khác nhau.

6
* Đối với chủ đầu tư
- Thông qua đấu thầu chủ đầu tư có khả năng thực hiện tối ưu các yêu
cầu về xây dựng công trình như tiết kiệm vốn đầu tư, đảm bảo chất lượng, mỹ
thuật, kỹ thuật của công trình,đảm bảo đúng tiến độ xây dựng.
- Tạo điều kiện cho nhà đầu tư nắm được quyền chủ động, quản lý vốn
có hiệu quả, tránh thất thoát , lãng phí , giảm được các rủi ro trong quá trình
đấu thầu.
- Bảo đảm quyền chủ động, tránh phụ thuộc vào một nhà thầu xây dựng
trong thực hiện xây dựng các công trình vừa bất lợi về mặt kinh tế, kỹ thuật,
vừa bất lợi về mặt thời gian, dễ rơi vào thế bị động và không có khả năng kiểm
soát.
- Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các đơn vị xây
dựng nhằm mở rộng các cơ hội nâng cao chất lượng công trình, hạ thấp chi phí
xây dựng .
- Nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực của đội ngũ cán bộ kinh tế,
kỹ thuật của chủ đầu tư trong quá trình tổ chức và xét thầu.
* Đối với nhà thầu
- Để có cơ hội tham gia dự thầu và nâng cao khả năng thắng thầu đòi hỏi
các nhà thầu phải tự hoàn thiện mình trên tất cả các phương diện.
- Thông qua đấu thầu sẽ tạo cơ hội có một khối lượng lớn công ăn việc
làm, tăng thu nhập cho người lao động, tăng khả năng tích luỹ mở rộng và phát
triển công ty.
- Phát huy tính tối đa chủ động của công ty trong việc tìm kiếm thông tin
và các cơ hội tham gia đấu thầu trên thương trường tạo ra sự linh động sáng tạo

Theo cách này người ta phân thành năm loại: Đấu thầu tuyển chọn tư
vấn, đấu thầu mua sắm hàng hoá, đầu thầu xây lắp, đấu thầu đối với gói thầu
quy mô nhỏ, đấu thấu lựa chọn đối tác để thực hiện dự án.
* Đấu thầu tuyển chọn tư vấn.

8
Đấu thầu tuyển chọn tư vấn là quá trình lựa chọn nhà tư vấn có đủ trình
độ, kinh nghiệm để giúp đỡ, tư vấn cho chủ đầu tư trong quá trình chuẩn bị và
thực hiện dự án.
Hoạt động tư vấn xây dựng trong lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật,
pháp lý, tổ chức điều hành, quản lý xây dựng
Theo Điều 17 Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định
88/1999/NĐ-CP nội dung của công tác tư vấn bao gồm:
-Tư vấn chuẩn bị dự án
+ Lập quy hoạch, tổng sơ đồ phát triển.
+ Lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.
+ Lập báo cáo nghiên cứu khả thi.
+ Đánh giá báo cáo lập quy hoạch, tổng sơ đồ phát triển, nghiên cứu tiền
khả thi và nghiên cứu khả thi.
-Tư vấn thực hiện dự án.
+ Khảo sát.
+ Lập thiết kế dự toán và tổng dự toán.
+ Đánh giá thẩm tra thiết kế và tổng dự toán, dự toán( nếu có).
+ Lập hồ sơ mời thầu.
+ Phân tích đánh giá hồ sơ dự thầu.
+ Giám sát thi công và lắp đặt thiết bị.
- Các tư vấn khác.
+ Quản lý tài chính, thu xếp tài chính.
+ Điều hành thực hiện dự án.
+ Đào tạo, chuyển giao công nghệ và các công việc khác.

của quá trình xây dựng các công trình như san đắp mặt bằng, xây dựng nền
móng, kết cấu phần ngầm, kết cấu phần nổi, các công việc thực hiện, lắp đặt

10
thiết bị công trình và công nghệ, trang trí nội ngoại thất và cảnh quan công
trình.
Nội dung của đấu thầu xây lắp bao gồm.
- Khảo sát kỹ thuật địa hình.
- Lập phương án kỹ thuật thi công.
- Tiến độ thi công.
- Lập hệ thống chỉ tiêu, đo đạc chất lượng công trình.
- Các dịch vụ bảo hành công trình.
* Đấu thầu với gói thầu có quy mô nhỏ.
Đấu thầu với gói thầu có quy mô nhỏ là hình thức đấu thầu áp dụng đối
với gói thầu quy định tại Khoản 12 Điều 3 Quy chế đấu thầu ban hành kèm
theo Nghị định 88/1999/NĐ-CP.
Gói thầu có quy mô nhỏ là gói thầu có giá trị dưới 2 tỷ đổng đối với mua
sắm hàng hoá và xây lắp.
Việc đấu thầu các gói thầu có quy mô nhỏ được áp dụng theo các nguyên
tắc sau:
- Chỉ cho phép các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (trừ các
doanh nghiệp là tổng công ty hoặc thuộc tổng công ty) đóng trên địa bàn tỉnh
hoặc thành phố trực thuộc trung ương tham dự. Trong trường hợp số lượng nhà
thầu tại địa phương có khả năng tham gia ít hơn 3, phải mời thêm các doanh
nghiệp ở ngoài địa phương tham dự. Trường hợp gói thầu có yêu cầu kỹ thuật
phức tạp thì đựơc thêm các doanh nghiệp là Tổng công ty hoặc thuộc tổng công
ty tham dự thầu.
- Chỉ áp dụng phương thức đấu thầu một túi hồ sơ đối với tất cả các gói
thầu.
* Đấu thầu lựa chọn đối tác để thực hiện dự án.

hồ sơ đề xuất kỹ thuật sẽ được xem xét trước để đánh giá, các nhà thầu đạt số
điểm kỹ thuật từ 70% trở lên sẽ được mở tiếp túi hồ sơ để đánh giá.
-Đấu thầu rộng rãi hai giai đoạn: Phương thức này áp dụng cho những dự
án lớn, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật quá trình thực hiện như sau:
+Giai đoạn thứ nhất: Các nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ gồm đề xuất
kỹ thuật và phương án tài chính( chưa có giá) đặc điểm để bên mời thầu xem
xét và thảo luận cụ thể với từng nhà thầu, nhằm thống nhất yêu cầu và tiêu
chuẩn kỹ thuật để nhà thầu chuẩn bị và nộp hồ sơ dự thầu chính thức của mình.
+ Giai đoạn thứ hai: Bên mời thầu mời các nhà thầu tham gia trong giai
đoạn thứ nhất nộp hồ sơ dự thầu chính thức với đề xuất kỹ thuật đã được bổ
sung hoàn chỉnh trên cùng một mặt bằng kỹ thuật và đề xuất chi tiết về tài chính
với đầy đủ nội dung về tiến độ thực hiện, điều kiện dự thầu, giá dự thầu.
* Đấu thầu hạn chế.
Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà
thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự. Danh sách nhà thầu tham dự phải
được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp nhận. Hình thức này
chỉ được xem xét áp dụng khi có một trong các điều kiện sau
-Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng các yêu cầu của gói thầu.
-Các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế.
-Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế.
* Chỉ định thầu.
Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của
gói thầu để thương thảo họp đồng. Hình thức này chỉ được áp dụng trong
những trường hợp sau:
-Trường hợp bất khả kháng do thiên tai dịch hoạ được phép chỉ định
ngay đơn vị có đủ năng lực để thực hiện công việc kịp thời. Trong thời gian 10
ngày kể từ ngày quyết định chỉ định thầu thì chủ dự án phải báo cáo cho cấp có

13
thẩm quyền về nội dung chỉ định thầu, cấp có thẩm quyền nếu phát hiện việc

Đấu thầu quốc tế phải tuân thủ theo những điều kiện nhất định và không
phải đối với dự án nào cũng được tổ chức đấu thầu quốc tế mà chỉ được tổ
chức trong các trường hợp sau:
-Đối với gói thầu mà không nhà thầu trong nước nào có khả năng đáp
ứng yêu cầu của gói thầu.
-Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế
hoặc của nước ngoài có quy định trong điều ước là phải đấu thầu quốc tế.
1.1.4 Nguyên tắc cơ bản trong đấu thầu.
Cũng như bất cứ một phương thức kinh doanh nào, phương thức kinh
doanh theo chế độ đấu thầu cũng đòi hỏi phải có những nguyên tắc nhất định
cần phải được tuân thủ để đạt được hiệu quả cao. Những nguyên tắc này chi
phối cả bên chủ đầu tư và bên dự thầu phân định quyền lợi và trách nhiệm của
mỗi bên trong công tác đấu thầu.
1.1.4.1 Nguyên tắc cạnh tranh ngang nhau.
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu dựa trên cơ sở cạnh tranh giữa
các nhà thầu vì có như vậy mới đảm bảo được mục tiêu mà đấu thầu đặt ra là
lựa chọn đựơc nhà thầu tối ưu nhất, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu mà bên mời
thầu đặt ra. Cạnh tranh là quá trình mà mỗi chủ thể khi tham gia vào các quan
hệ kinh tế đều phải thực hiện các biện pháp của mình để nhấn mạnh các ưu
điểm, lợi thế và dấu đi các nhược điểm của mình nhằm mục đích vượt lên đối
thủ của mình. Đấu thầu là một cách cạnh tranh mà ở đây các nhà thầu bằng
kinh nghiệm và khả năng của mình để đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu
đạt được dự án.
Cạnh tranh trong đấu thầu phải đảm bảo lợi ích cho cả hai bên, đồng thời
còn tiết kiệm, của cải, chi phí cho xã hội. Tuy nhiên, sự cạnh tranh phải được
diễn ra công bằng, có nghĩa là tất cả các nhà thầu phải được hưởng các điều

15
kiện và cơ hội ngang nhau trong quá trình đấu thầu. Bên mời thầu phải có trách
nhiệm đảm bảo các điều kiện đặt ra đối với các nhà thầu là như nhau, đồng

biết được nó sẽ rất có lợi vì biết được các thế mạnh cũng như dự kiến của nhà
thầu khác. Điều này gây bất lợi cho nhà thầu bị lộ thông tin và nhiều khi còn
gây ra các thiệt hại nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của họ.
1.1.4.4 Nguyên tắc đánh giá công bằng.
Nguyên tắc này thể hiện quyền bình đẳng như nhau của các bên tham gia
dự thầu.Bên mời thầu phải đối xử một cách công bằng với mọi nhà thầu tức là
mọi hồ sơ dự thầu của các nhà thầu gửi đến đều được bên mời thầu tiếp nhận
và đánh giá công bằng. Tất cả các tiêu chuẩn đặt ra trước khi đánh giá như kỹ
thuật, kinh tế, tài chính đều được phải xem xét công bằng. Nguyên tắc này
đóng vai trò quan trọng trong đấu thầu vì thiếu nó các nhà thầu không yên tâm
và không tin tưởng vào kết quả xét thầu được công bố, làm mất đi tính cạnh
tranh của nó.
Đây cũng là một nguyên tắc cơ bản trong đấu thầu Quốc tế, nguyên tắc
này còn bổ trợ cho nguyên tắc cạnh tranh trong đấu thầu vì có sự đánh giá công
bằng thì mới tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh. Công bằng là yếu tố rất quan
trọng đối với các nhà thầu và cũng vì công bằng mà chủ đầu tư cũng có thể lựa
chọn được đúng nhà thầu thoả mãn tốt nhất các yêu cầu của mình trong quá
trình chuẩn bị hồ sơ cũng như trong buổi mở thầu.
1.1.4.5.Nguyên tắc trách nhiệm phân minh.
Các bên tham gia vào quá trình đấu thầu phải tuân thủ nghiêm chỉnh các
quy định của Nhà nước về nội dung và trình tự đấu thầu, thực hiện đúng cam
kết đã được ghi nhận trong hợp đồng giao nhận thầu. Mỗi bên khi tham gia vào
quá trình đấu thầu đều phải biết trách nhiệm và quyền hạn của mình đến đâu để
thực hiện cho đúng và nếu không thực hiện đúng trách nhiệm của mình thì sẽ bị
xử lý theo pháp luật. Chính vì vậy, nguyên tắc này đòi hỏi phải phân định rạch

17
ròi quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên trong từng phần công việc, mỗi bên
phải có nỗ lực tối đa trong việc kiểm soát bất trắc phòng ngừa rủi ro.
1.1.4.6 Nguyên tắc bảo lãnh thích đáng.

lớn đưa nước ta từng bước hoà nhập vào xu hướng chung của thế giới. Trước
năm 1990, ở Việt Nam chưa có bất kỳ một văn bản nào quy định về hoạt động
đấu thầu, mà đặc điểm của đấu thầu xây lắp cơ bản là: Dự án có giá trị lớn, thời
gian thực hiện dự án lâu dài, nội dung của dự án phức tạp liên quan tới nhiều
ngành kinh tế kỹ thuật Trong hoàn cảnh như vậy mà các bên chỉ có thoả
thuận với nhau thì không dự trù hết được các khả năng xảy ra, sẽ phát sinh
nhiều mâu thuẫn, tranh chấp trong quá trình thực hiện. Hơn nữa, tính cưỡng chế
của mỗi bên sẽ không có. Vì vậy Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc ban
hành các văn bản pháp lý để hướng dẫn các bên tham gia đấu thầu thực hiện
theo đúng pháp luật quy định. Mặt khác, thông qua những cơ sở pháp lý đó
Nhà nước có cơ sở để kiểm tra, giám sát chặt chẽ được hình thức này tránh
đựơc những lỗ hổng, tiêu cực có thể xảy ra, gây thiệt hại cho nền kinh tế quốc
gia.
Từ những yêu cầu thực tế đó, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ
Thương mại đã đề nghị Chính phủ ban hành Nghị định 42/CP về Điều lệ quản
lý đầu tư và xây dựng, Nghị định 43/CP về Quy chế đấu thầu ngày 16/7/1996.
Trên cơ sở Nghị định 43/CP, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Thương
mại đã ban hành thông tư liên Bộ, Nghành, Địa phương và cơ sở thống nhất
thực hiện.
Nhưng sau một thời gian thực hiện đã nảy sinh nhiều vấn đề không phù
hợp trong hoạt động đấu thầu, gây khó khăn cho nhà thầu, thậm chí xảy ra
nhiều tiêu cực làm cho hoạt động đầu thầu diễn ra không đạt được mục tiêu
mong muốn là cạnh tranh công bằng, lành mạnh và hiệu quả. Những bức xúc ấy

19
đòi hỏi nhà nước cần phải có sự sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy nhằm
hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu thầu. Từ yêu cầu đó , ngày
8/7/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 52/CP về việc ban hành Quy chế
Quản lý đầu tư và xây dựng thay thế Nghị định 42/CP, và ngày 01/9/1999
Chính phủ ban hành Nghị định số 88/CP về Quy chế đấu thầu thay thế Quy

Phương thức đấu thầu khác một cách căn bản với phương thức giao thầu.
Đầu thầu xây dựng là phương thức mà chủ đầu tư sử dụng để tổ chức sự cạnh
tranh giữa các đơn vị xây dựng nhằm lựa chọn đơn vị có khả năng thực hiện tốt
nhất các yêu cầu của nhiệm vụ đầu tư.
Trước đây, đấu thầu xây dựng đã có nhiều văn bản điều chỉnh nhưng
hiện nay Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/1999/NĐ-CP và
Nghị định 14/2000/NĐ-CP về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định
88/1999/NĐ-CP là những văn bản trực tiếp điều chỉnh hoạt động đấu thầu nói
chung và đấu thầu xây dựng nói riêng. Ngoài ra còn có những văn bản của các
bộ ngành liên quan khác nhưng chủ yếu chúng ta đi sâu nghiên cứu những quy
định của pháp luật về đấu thầu trong hai văn bản mới nhất này.
1.2.1 Đối tượng áp dụng.
Theo Điều 2 Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định
88/1999/NĐ-CP ngày1/9/1999 thì Quy chế đấu thầu áp dụng cho các cuộc đấu
thầu được tổ chức và thực hịên tại Việt Nam áp dụng bắt buộc cho các dự án
sau:
-Các dự án đầu tư thực hiện theo Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng có
quy định phải thực hiện theo Quy chế đấu thầu đó là: Các dự án có sử dụng vốn
ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư
và phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước
bao gồm:
+ Các dự án xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa lớn, nâng cấp các dự án đã
đầu tư xây dựng.

21
+ Các dự án đầu tư để mua sắm tài sản, kể cả thiết bị máy móc không
cần lắp đặt và sản phẩm khoa học công nghệ mới.
+ Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước để quy hoạch phát triển
vùng, lãnh thổ, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch đô thị nông thôn.
-Các dự án liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc cổ phần có sự

- Chuẩn bị hồ sơ mời thầu.
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá.
* Chuẩn bị kế hoạch đấu thầu.
Kế hoạch đấu thầu của dự án do bên mời thầu lập phải được người có
thẩm quyền quyết định đầu tư phê duyệt, nội dung kế hoạch đấu thầu bao gồm.
- Phân chia dự án thành các gói thầu, việc phân chia gói thầu phải hợp
lý căn cứ vào công nghệ, tính chất hoặc trình tự thực hiện dự án.
- Ước tính giá dự kiến từng gói thầu và tổng các gói thầu.
- Hình thức lựa chọn nhà thầu và phương thức áp dụng.
- Thời gian tổ chức đấu thầu cho từng gói thầu.
- Phương thức thực hiện hợp đồng: Hợp đồng chọn gói, hợp đồng chìa
khoá trao tay, hợp đồng có điều chỉnh giá.
- Thời gian thực hiện hợp đồng.
- Trình duyệt kết quả đấu thầu.
* Chỉ định tổ chuyên gia tư vấn giúp việc đấu thầu.
Tổ chuyên gia tư vấn này bao gồm các chuyên gia chịu trách nhiệm về kỹ
thuật công nghệ, kinh tế tài chính và pháp luật, có khả năng và hiểu biết cần
thiết để xem xét đánh giá được hồ sơ dự thầu gửi đến.
Các chuyên gia được lựa chọn phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Có trình độ chuyên môn liên quan đến gói thầu.
- Am hiểu nội dung cụ thể của gói thầu.
- Có kinh nghiệm trong công tác quản lý thực tế hoặc nghiên cứu.
- Am hiểu trình tự đấu thầu.

23
Các thành viên của tổ chuyên gia tư vấn chịu hoàn toàn trách nhiệm về
sự chính xác, khách quan, đúng đắn của các ý kiến, đánh giá của họ trước chủ
đầu tư và pháp luật.
*Chuẩn bị hồ sơ dự thầu.
Sau khi thành lập tổ chuyên gia tư vấn giúp việc đấu thầu, tổ chuyên gia

1.2.2.2 Tổ chức đấu thầu.
Tổ chức đấu thầu bao gồm: Mời thầu, nộp và bảo lãnh dự thầu, mở thầu.
* Mời thầu.
Việc thông báo mời thầu phải phù hợp với hình thức đấu thầu. Nếu là
đấu thầu rộng rãi thì bên mời thầu phải tiến hành thông báo trên các phương
tiện thông tin đại chúng tuỳ theo quy mô và tính chất của gói thầu. Là đấu thầu
hạn chế thì bên mời thầu gửi thông báo này đến các nhà thầu có khả năng đáp
ứng yêu cầu của bên mời thầu. Là chỉ định thầu thì bên mời thầu tiến hành mời
trực tiếp và thương thảo với một nhà thầu nhất định do người có thẩm quyền
quyết định đầu tư cho phép, nếu không thương thảo được mới chuyển sang
thương thảo với nhà thầu khác.
* Nộp và bảo lãnh dự thầu.
Sau khi bên mời thầu thông báo mời thầu hay gửi thư mời thầu, nhà thầu
muốn tham gia đấu thầu thì nhanh chóng nghiên cứu và lập hồ sơ dự thầu theo
quy định cuả pháp luật và đúng với yêu cầu của bên mời thầu. Hồ sơ lập xong
sẽ được niêm phong và gửi nộp trong đúng thời hạn nộp thầu đã chỉ rõ, bên mời
thầu sẽ tiếp nhận hồ sơ dự thầu do nhà thầu nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu
điện. Nếu hồ sơ dự thầu không nộp đúng thời hạn nộp thầu đã quy định thì bên
mời thầu sẽ không nhận và coi là vô hiệu.
Nhà thầu phải nộp bảo lãnh dự thầu cùng với hồ sơ dự thầu( trừ đấu thầu
tuyển chọn tư vấn) với giá trị bảo lãnh từ 1% đến 3% giá trị dự thầu hoặc có

25
thể quy định mức bảo lãnh thống nhất để đảm bảo tính bí mật về mức giá dự
thầu cho các nhà thầu.
* Mở thầu.
Sau khi tiếp nhận nguyên trạng các hồ sơ dự thầu nộp đúng thời hạn và
được quản lý theo chế độ quản lý hồ sơ mật, việc mở thầu được tiến hành công
khai theo ngày giờ, địa điểm ghi trong hồ sơ mời thầu và không được quá 48
giờ kể từ thời điểm đóng thầu( trừ ngày nghỉ theo quy định của pháp luật).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status