Nghiên cứu thống kê hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Công ty Dệt Minh Khai thời kỳ 1995-2003 - Pdf 11

Lời mở đầu
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng ta tại Đại hội lần
thứ VI của Đảng nhấn mạnh xuất khẩu là một mũi nhọn quan trọng của hoạt
động kinh tế đối ngoại, là một trong ba chơng trình kinh tế lớn: Trong toàn bộ
hoạt động kinh tế, một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lợc của toàn Đảng, toàn dân
ta là ra sức tăng xuất khẩu để nhập khẩu.
Hiện nay, đứng trớc xu thế toàn cầu hoá bất kỳ một doanh nghiệp nào
muốn tồn tại và phát triển trên thị trờng thì phải đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
sản phẩm của doanh nghiệp ra thị trờng nớc ngoài. Công ty Dệt Minh Khai là
một doanh nghiệp Nhà nớc đứng đầu trong ngành công nghiệp nhẹ Hà Nội,
chuyên sản xuất kinh doanh hàng dệt may. Trong những năm qua Công ty luôn
chú trọng nâng cao chất lợng sản phẩm, thay đổi kiểu dáng, mẫu mã phong
phú do đó sản phẩm không những đáp ứng đ ợc nhu cầu tiêu dùng trong nớc
mà ngày càng chiếm lĩnh thị trờng quốc tế, tạo dựng đợc uy tín với khách hàng
truyền thống nh Nhật Bản, EU, Sản phẩm xuất khẩu chính của Công ty nh :
khăn bông, áo choàng tắm, màn tuyn đã đem về cho Công ty nguồn doanh
thu đáng kể (thời kỳ1995-2003). Kim ngạch xuất khẩu và lợi nhuận xuất khẩu
qua các năm đều có xu hớng tăng.Tuy nhiên trong bối cảnh tự do hoá thơng
mại Công ty gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ lớn mạnh trong
ngành dệt may nh Trung Quốc Do vậy, nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của
Công ty để tìm ra những mặt mạnh và yếu làm cơ sở đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng kim ngạch xuất khẩu, giải quyết
công ăn việc làm cho ngời lao động là vấn đề bức xúc. Nhận thức đ ợc tầm
quan trọng đó trong
thời gian thực tập tại phòng kế hoạch thị trờng ở Công ty, tôi đã chọn đề tài:
Nghiên cứu thống kê hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Công ty Dệt
Minh Khai thời kỳ 1995-2003 để viết chuyên đề tốt nghiệp.
1
Chuyên đề tốt nghiệp ngoài lời nói đầu và kết luận gồm 3 chơng: Chơng
I: Những vấn đề chung về xuất khẩu và phân tích thống kê hoạt động xuất
khẩu của doanh nghiệp.

đối ngoại. Xuất khẩu là một mũi nhọn quan trọng của hoạt động kinh tế đối
ngoại, là một trong ba chơng trình kinh tế lớn do Đại hội Đảng lần thứ VI đề
3
ra: Trong toàn bộ hoạt động kinh tế, một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lợc của
toàn Đảng, toàn dân ta là ra sức tăng xuất khẩu. Hoạt động xuất khẩu ở nớc ta
ngày càng phát triển là nhân tố cơ bản thúc đẩy quá trình tăng trởng và phát
triển kinh tế, nhất là đối với các nớc có nền kinh tế nhỏ và công nghệ lạc hậu
nh ở nớc ta. Hiện nay ở nớc ta có một số hình thức xuất khẩu chủ yếu nh sau:
1.1 Xuất khẩu tự doanh
Xuất khẩu tự doanh là hoạt động xuất khẩu độc lập của một doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trờng trong và ngoài
nớc, tính toán đầy đủ chi phí đảm bảo kinh doanh xuất khẩu có lãi, đúng ph-
ơng hớng, chính sách, pháp luật của quốc gia cũng nh quốc tế.
Trong xuất khẩu tự doanh, doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trớc
mọi kết quả sản xuất kinh doanh. Do đó doanh nghiệp phải thận trọng trong
việc xây dựng chiến lợc từ bớc nghiên cứu thị trờng đến việc ký kết hợp đồng
và thực hiện hợp đồng vì doanh nghiệp phải tự bỏ vốn, chịu mọi chi phí và rủi
ro có thể xảy ra.
1.2 Xuất khẩu uỷ thác
Xuất khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong
nớc có nhu cầu xuất khẩu một số loại hàng hoá nhng không đủ điều kiện để
xuất khẩu đã uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng giao dịch ngoại th-
ơng tiến hành đàm phán với đối tác nớc ngoài để làm thủ tục xuất khẩu hàng
hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và đợc hởng một khoản thù lao gọi là phí uỷ
thác.
Trong hoạt động xuất khẩu uỷ thác, doanh nghiệp nhận uỷ thác không
phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị tr-
ờng tiêu thụ mà chỉ phải đứng ra thay mặt bên uỷ thác tìm và giao dịch với
khách hàng thông qua việc ký hợp đồng và làm thủ tục xuất khẩu hàng hoá.
Ngoài ra doanh nghiệp nhận uỷ thác còn thay mặt bên uỷ thác khiếu nại, đòi

hàng hoá là xuất phát từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên mà một nớc có thể
chuyên môn sản xuất một số mặt hàng có lợi thế hơn và xuất khẩu để đổi lấy
5
hàng nhập khẩu từ nớc khác nhằm mục đích lợi nhuận. Do đó hai bên cùng có
lợi do có sự khác nhau về sở thích và lợng cầu đối với hàng hoá khi thực hiện
trao đổi mua bán hàng hoá. Vì thế trong những năm qua, hoạt động xuất khẩu
luôn là mục tiêu chiến lợc để phát triển kinh tế đợc Đảng và Nhà nớc ta luôn
coi trọng và đặt lên hàng đầu tại các hội nghị của Đảng và Nhà nớc họp bàn.
3. Vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế
Xuất khẩu đã đợc thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh
tế đối ngoại, là phơng tiện thúc đẩy cho phát triển kinh tế. Việc mở rộng xuất
khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho tài chính và cho nhu cầu nhập khẩu, cũng
nh tạo cơ sở cho phát triển các cơ sở hạ tầng là một mục tiêu quan trọng nhất
trong chính sách phát triển kinh tế. Nhà nớc đã và đang thực hiện các biện
pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hớng theo xuất khẩu, khuyến khích khu vực t
nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ
cho đất nớc.
Hoạt động xuất khẩu có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, bởi lẽ
mỗi quốc gia đều có một lợi thế so sánh riêng cho nên muốn kinh tế phát triển
họ không thể không đem bán các sản phẩm có lợi thế của quốc gia mình. Đó là
các vai trò sau:
3.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ quá trình
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc.
Xuất khẩu là hoạt động mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn nhất. Xuất khẩu
tạo nguồn vốn chủ yếu để nhập khẩu máy móc thiết bị, khoa học kỹ thuật công
nghệ tiên tiến phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc.
Nguồn vốn nhập khẩu chủ yếu đợc hình thành từ các nguồn nh đầu t nớc
ngoài, vay nợ và viện trợ tuy quan trọng nh ng rồi cũng phải trả bằng cách
này hay cách khác ở thời kỳ sau.
Hiện nay, nhu cầu nhập khẩu hàng hoá, nguyên vật liệu ở Việt Nam là rất

bảo hiểm, hàng hải, thông tin liên lạc quốc tế dịch vụ tài chính quốc tế đầu
t...Xuất khẩu tạo điều kiện cho ngành khai thác có cơ hội phát triển thuận
lợi, chẳng hạn nh nếu phát triển ngành dệt xuất khẩu thì nó sẽ tạo điều kiện
7
thúc đẩy các ngành nh: tơ lụa, bông đay phát triển theo đồng thời thu hút đ-
ợc một số lợng lao động lớn vào làm trong các ngành đó. Xuất khẩu tạo khả
năng mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi mở rộng
khả năng cung cấp đầu t trở lại cho sản xuất, tạo tiền đề kinh tế kỹ thuật
đồng thời nâng cao năng lực sản xuất trong nớc. Điều đó chứng tỏ xuất khẩu
là phơng tiện quan trọng để tạo vốn đa kỹ thuật công nghệ nớc ngoài vào
Việt Nam nhằm công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế đất nớc.
3.3 Xuất khẩu có tác dụng tích cực đến việc giải quyết công ăn việc
làm và cải thiện đời sống cho ngời lao động.
Việt Nam là một nớc có dân số đông, số ngời trong độ tuổi lao động
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số dân của cả nớc vào khoảng 57,06%. Những năm
tiếp theo nguồn lao động của nớc ta sẽ tiếp tục tăng với quy mô khá cao do đợc
bổ sung mỗi năm trung bình 1,5-2 triệu thanh niên bớc vào tuổi lao động. Một
đặc điểm của nớc ta hiện nay là số lao động làm việc trong ngành nông nghiệp
rất nhiều nên có hiện tợng thất nghiệp theo mùa vụ. Trong những năm qua,
hoạt động xuất khẩu đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao
động ở nớc ta, nâng cao trình độ chuyên môn cho ngời lao động nhờ áp dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật trên thế giới.
+Thông qua xuất khẩu, quy mô của các ngành sản xuất hàng xuất khẩu
sẽ đợc mở rộng, có thêm nhiều ngành nghề mới từ đó thu hút nhiều lao động
vào làm việc với thu nhập cao và ổn định.
+ Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn ngoại tệ để nhập khẩu các hàng hoá, vật
phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú
thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
+ Xuất khẩu phát triển là tiền đề cho các quan hệ kinh tế đối ngoại khác
nh du lịch, xuất khẩu sức lao động, tạo điều kiện đa lực lợng lao động tham gia

4.2 Những ảnh hởng tiêu cực
Trong quan hệ kinh tế đối ngoại thì bên cạnh những lợi thế đạt đợc thì
hoạt động xuất khẩu cũng bộc lộ những khó khăn và thách thức sau:
+ Về văn hoá bản sắc dân tộc: Khi các quan hệ kinh tế đối ngoại ngày
càng mở rộng thì sự trao đổi giao lu văn hoá giữa các nớc trên thế giới cũng
9
đồng thời xảy ra. Do đó, nền văn hoá bản sắc dân tộc có nguy cơ bị mai một.
+ Về an ninh chính trị: Khi tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại không
chỉ đơn thuần có những tính toán kinh tế mà còn có cả những mu toan chính
trị. Thực tế đã có những thế lực thù địch muốn thông qua chính sách kinh tế
mà âm mu tiến hành diễn biến hoà bình nhằm phá hoại lật đổ chế độ nớc ta.
II. Hệ thống chỉ tiêu thống kê tình hình xuất khẩu
1. Sự cần thiết xây dựng hệ thống chỉ tiêu
Hệ thống chỉ tiêu thống kê là một tập hợp những chỉ tiêu phản ánh các
mặt, các tính chất quan trọng nhất, các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt của
tổng thể và mối liên hệ của tổng thể với các hiện tợng có liên quan. Hệ thống
chỉ tiêu đợc hình thành từ hai nguồn:
+ Từ những tổng hợp theo những biểu hiện trực tiếp gián tiếp của chỉ
tiêu nghiên cứu.
+ Từ các nhóm chỉ tiêu đợc xây dựng cho nghiên cứu riêng.
Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê có tác dụng nh sau: Lợng hoá
các mặt, cơ cấu, mối liên hệ cơ bản của đối tợng nghiên cứu từ đó nhận thức đ-
ợc bản chất cụ thể và tính quy luật của hiện tợng.
2. Những nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê tình hình
xuất khẩu
Trên thực tế, các hiện tợng mà thống kê nghiên cứu đều rất phức tạp. Để
phản ánh chính xác chúng, cần phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu thống kê
theo các nguyên tắc nhất định nói chung, với hệ thống chỉ tiêu thống kê tình
hình xuất khẩu nói riêng theo những căn cứ và yêu cầu sau:
2.1. Những căn cứ để xây dựng hệ thống chỉ tiêu

các hàng hoá là sản phẩm vật chất, nó cho biết tổng lợng hàng hoá
xuất khẩu trong một năm hoặc trong một giai đoạn là bao nhiêu, đơn
vị tính là sản phẩm, tấn, chiếc... Đối với doanh nghiệp dệt may thì
đơn vị tính của lợng hàng hoá xuất khẩu có thể là bao nhiêu sản
phẩm khăn quy chuẩn, bao nhiêu vải tuyn khổ 1,8m Trong thống
kê chỉ tiêu lợng hàng hoá xuất khẩu có tác dụng nh sau:
11
+ Là cơ sở để tính các chỉ tiêu giá trị xuất khẩu.
+ Là cơ sở để cân đối tình hình sản xuất của doanh nghiệp.
+ Là cơ sở để lập và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất và
kinh doanh đối với từng loại sản phẩm.
b. Kim ngạch xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu là chỉ tiêu cho biết tổng giá trị kim ngạch xuất
khẩu trong một năm hoặc trong một giai đoạn là bao nhiêu, đơn vị tính là
VNĐ, USD Kim ngạch xuất khẩu là chỉ tiêu tuyệt đối, nó phản ánh kết quả
hoạt động xuất khẩu qua đó đánh giá đợc tiềm năng kinh tế của doanh nghiệp
và hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp đó.

=
=
1i
xkxki
qPX
Trong đó:
X
i
: Trị giá xuất khẩu theo mặt hàng i
P
xk
: Đơn giá mặt hàng i theo mức giá k

Từ công thức tính kim ngạch xuất khẩu ở trên ta có:

=
=
m
i
i
XX
1

Trong đó:
X: Tổng kim ngạch xuất khẩu
i
X
: Kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng i
Do đó ta có thể tính tỷ trọng của hàng hoá nh sau:
X
X
d
i
=
b. Cơ cấu xuất khẩu theo thị trờng (theo nớc)
Đó là tên các nớc là thị trờng xuất khẩu của đơn vị sản xuất kinh doanh
thơng mại trong thời kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này đợc xác định để xem xét cơ cấu
xuất khẩu của doanh nghiệp sang các nớc để từ đó tìm ra nguồn xuất khẩu nào
13
đem lại nhiều lợi ích lớn nhất, thị trờng nào là lớn nhất đối với hàng hoá xuất
khẩu của doanh nghiệp.
Công thức tính kim ngạch xuất khẩu sang các nớc ( các thị trờng )


Hiện nay, phơng thức xuất khẩu chủ yếu là hai hình thức: xuất khẩu trực
tiếp và xuất khẩu gián tiếp. Xuất khẩu trực tiếp cho các siêu thị và các công ty
nớc ngoài. Xuất khẩu gián tiếp thông qua sự hoạt động của các công ty thơng
14
m¹i trung gian trong vµ ngoµi níc.
15
16
3.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động xuất khẩu
Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu luôn là mục tiêu phấn đấu của
bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, nó có ý nghĩa rất
lớn nh : tận dụng và tiết kiệm đợc các nguồn lực hiện có, nâng cao chất lợng,
hạ giá thành, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thơng trờng. Các
chỉ tiêu hiệu quả hoạt động xuất khẩu có thể là chỉ tiêu tơng đối biểu hiện quan
hệ so sánh giữa kết quả xuất khẩu với chi phí xuất khẩu (chỉ tiêu hiệu quả
thuận) hoặc có thể là chỉ tiêu tuyệt đối:
HQ=KQ-CP
Các công thức tổng quát tính các chỉ tiêu hiệu quả xuất khẩu đầy đủ có
dạng:
Về kết quả xuất khẩu có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
a) Chỉ tiêu lợi nhuận xuất khẩu: Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với
doanh nghiệp xuất khẩu. Lợi nhuận xuất khẩu là chỉ tiêu phản ánh phần giá trị
thặng d hoặc hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp thu đợc từ các hoạt động xuất
khẩu sản phẩm của mình ra thị trờng nớc ngoài.
* Chỉ tiêu này đợc mô tả theo công thức sau:
Lãi kinh doanh= Doanh thu kinh doanh Chi phí kinh doanh ( kinh
doanh từ hoạt động xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp )
* Nội dung kinh tế:
+ Lợi nhuận thu đợc từ kết quả hoạt động xuất khẩu.
+ Lợi nhuận thu từ hoạt động tài chính: Khi một đơn vị tiền tệ trong nớc
chi ra cho hàng xuất khẩu thông qua quan hệ ngoại tệ đem về bao nhiêu đơn vị

* Phơng pháp tính:
P
ij
: giá bán đơn vị sản phẩm i bán ở thời điểm j
Q
ij
: lợng sản phẩm i bán ở thời điểm j trong kỳ báo cáo
Do tính theo giá bán thực tế mà chỉ tiêu doanh thu xuất khẩu của các
doanh nghiệp tính theo mức độ:
+ Doanh thu bán hàng thuần: là tổng doanh thu bán hàng sau khi đã trừ
đi thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu và các khoản giảm trừ
khác phát sinh trong kỳ báo cáo nh giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả
lại, các khoản đền bù sửa chữa hàng hoá xuất khẩu h hỏng còn trong thời hạn
18
ijij
QPDT

=
bảo hành.
Về chi phí xuất khẩu
a) Chi phí chung cho xuất khẩu:
Các chi phí này bao gồm phần chi phí của cơ quan xuất khẩu nh chi phí
về lao động, chi phí về vốn, chi phí về đất đai
* Chi phí về lao động:
+ Tổng số giờ- ngời làm việc trong kỳ
+ Tổng số ngày- ngời làm việc trong kỳ
+ Số lao động làm việc bình quân trong kỳ
+ Tổng quỹ lơng
+ Tổng quỹ phân phối lần đầu cho ngời lao động
* Chi phí về vốn:

một phần cho ngời phân phối hoặc ngời mua nớc ngoài.
Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động xuất khẩu
Ngoài chỉ tiêu lợi nhuận xuất khẩu để đánh giá hiệu quả xuất khẩu,
chúng ta còn cần nghiên cứu một số chỉ tiêu khác sau đây:
Các chỉ tiêu hiệu quả trên cơ sở tài liệu thống kê về kết quả và chi phí ở
trên.
Tuỳ theo số chỉ tiêu kết quả và số chỉ tiêu chi phí thu thập đợc mà ta có
thể tính đợc một số chỉ tiêu hiệu quả. Giả sử ta thu thập đợc các chỉ tiêu kết
quả là: doanh thu xuất khẩu (DT), lợi nhuận xuất khẩu (M) và các chỉ tiêu chi
phí là: Số lao động làm việc bình quân trong kỳ (L). Với số chỉ tiêu kết quả và
chi phí nh vậy có thể tính đợc các chỉ tiêu hiệu quả dới dạng thuận nh sau:
+ Tỷ suất lợi nhuận XK tính theo lao động
L
M
=
+ Doanh thu xuất khẩu bình quân cho một lao động
L
DTXK
=
III. các phơng pháp Thống kê phân tích tình hình xuất khẩu
của doanh nghiệp
1. Phơng pháp phân tổ
20
Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hay một số tiêu thức nào đó để tiến
hành phân chia các đơn vị thuộc hiện tợng nghiên cứu thành các tổ và các tiểu
tổ có tính chất khác nhau. Phân tổ thống kê đợc dùng trong tất cả các giai đoạn
của qúa trình nghiên cứu thống kê và là phơng pháp cơ bản của tổng hợp thống
kê, là một trong các phơng pháp phân tích thống kê. Phân tổ có thể theo tiêu
thức thuộc tính hoặc số lợng. Đối với một doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu
dệt may trên thị trờng thì chủ yếu phân tổ sản phẩm theo các loại mặt hàng,

của hịên tợng trong những khoảng thời gian dài hơn.
Qua dãy số thời gian có thể nghiên cứu các đặc điểm về sự biến động
của kim ngạch xuất khẩu, vạch rõ xu hớng và tính quy luật của sự phát triển
đồng thời dự đoán ngắn hạn kim ngạch xuất khẩu, trong tơng lai nh dựa vào
mức độ trung bình, lợng tăng giảm, tốc độ phát triển
3.Phơng pháp chỉ số
Chỉ số là một số tơng đối đợc biểu hiện bằng lần hoặc % tính bằng
cách so sánh hai mức độ của hiện tợng.
Phơng pháp chỉ số có tác dụng nêu lên sự biến động của hiện tợng qua
thời gian nh chỉ số giá theo thời gian.
Phơng pháp chỉ số có tác dụng nêu lên sự biến động của hiện tợng qua
không gian.
Phơng pháp chỉ số có tác dụng nêu lên nhiệm vụ kế hoạch xuất khẩu
của doanh nghiệp và tình hình thực hiện kế hoạch đó.
Phơng pháp chỉ số có tác dụng phân tích ảnh hởng biến động của từng
nhân tố đối với sự biến động của toàn bộ hiện tợng nh doanh thu xuất khẩu phụ
thuộc vào hai nhân tố: giá bán đơn vị và lợng hàng hoá tiêu thụ.
Nh vậy phơng pháp chỉ số có tác dụng tổng hợp sự biến động và phân
tích các nhân tố gây nên sự biến động đó.
Căn cứ vào tính chất của từng chỉ tiêu nghiên cứu có các chỉ số chỉ
tiêu chất lợng và chỉ số chỉ tiêu khối lợng:
+ Chỉ số chỉ tiêu số lợng nói lên biến động của các chỉ tiêu khối lợng
nh lợng hàng hoá xuất khẩu.
22
+ Chỉ số chỉ tiêu chất lợng nói lên biến động của các chỉ tiêu chất lợng
nh giá xuất khẩu.
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu khác nhau mà chúng ta sử dụng
mỗi loại chỉ số thích hợp. Ngoài ra khi nghiên cứu biến động của các thành
phần tới tổng thể chúng ta còn sử dụng hệ thống chỉ số để nhằm xác định vai
trò và ảnh hởng của mỗi nhân tố đối với biến động của hiện tợng nhiều yếu tố.

23
( )
nt
aaatfY ....,,
10
=
( )
min
2
=

x
YY
Đối với dãy số thời gian áp dụng để viết phơng trình hồi quy cho tình
hình xuất khẩu ta thờng áp dụng phơng trình bậc nhất:
Y
x
= a*X + b
X: trị số của tiêu thức nguyên nhân
Y: trị số của tiêu thức kết quả
Chơng II. Vận dụng một số phơng pháp thống kê
phân tích hoạt động xuất khẩu của Công ty dệt
minh khai thời kỳ (1995-2003)
I. khái quát về Công ty Dệt Minh Khai
1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty dệt Minh Khai
1.1 Quá trình hình thành
Công ty dệt Minh Khai là một doanh nghiệp Nhà Nớc, một đơn vị kinh
doanh thuộc sự quản lý của Sở Công Nghiệp Hà Nội thành lập vào năm 1974
theo quyết định của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội với tên gọi là Nhà
24

25

Trích đoạn Những tồn tạ Nguyên nhân ảnh hởng đến hoạt động xuất khẩu của Công ty Nâng cao chất lợng sản phẩm Vấn đề đẩy mạnh hoạt động Marketing
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status